BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
NGUYỄN HÙNG HIỆP
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ KÍCH THƯỚC ĐẦU MẶT
Ở NGƯỜI VIỆT NAM 12 TUỔI ĐỂ ỨNG DỤNG
TRONG ĐIỀU TRỊ Y HỌC
ĐỀ CƯƠNG DỰ TUYỂN NGHIÊN CỨU SINH
HÀ NỘI - 2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
NGUYỄN HÙNG HIỆP
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ KÍCH THƯỚC ĐẦU MẶT
Ở NGƯỜI VIỆT NAM 12 TUỔI ĐỂ ỨNG DỤNG
TRONG ĐIỀU TRỊ Y HỌC
Chuyên ngành: Răng Hàm Mặt
Mã số: 62720601
ĐỀ CƯƠNG DỰ TUYỂN NGHIÊN CỨU SINH
giới tính, có sự thay đổi lớn về tâm lý và sinh lý. Giai đoạn này rất quan trọng
trong quá trình điều trị chỉnh hình vì những thay đổi về sinh lý cũng ảnh hưởng
đến những thay đổi ở hệ thống xương mặt, răng và mô mềm: có sự gia tăng tốc
độ tăng trưởng của hệ thống hàm mặt và có sự tăng trưởng khác biệt giữa hai
xương hàm. Ở thời điểm 12 tuổi, bộ răng vĩnh viễn được hình thành tương đối
hoàn chỉnh (đây là giai đoạn cuối của bộ răng hỗn hợp), giai đoạn này trẻ
chuẩn bị bước vào tuổi dậy thì. Do đó, sự tăng trưởng của trẻ trong độ tuổi
này có một vai trò quan trọng trong phát triển hình thái vùng đầu mặt,với
những thay đổi và phát triển một số đặc điểm chính của khung xương vùng
đầu mặt và gần đạt đến độ trưởng thành
Trên thế giới đã có rất nhiều nghiên cứu về các chỉ số đầu mặt của các
chủng tộc khác nhau dựa trên ba phương pháp chính là: đo trực tiếp trên cơ
thể sống, phân tích gián tiếp qua ảnh và phân tích gián tiếp qua phim XQ sọ
mặt từ xa. Trong ba phương pháp này, phân tích qua phim sọ mặt từ xa là
phương pháp được sử dụng nhiều nhất và có tính khách quan cao, có thể phân
tích cả mô cứng và mô mềm. Đặc biệt gần đây, với sự phát triển của XQ kỹ
thuật số cũng như phần mềm đọc phim, chúng ta có thể ngay lập tức lập kế
hoạch điều trị và tiên lượng cho bệnh nhân. Tuy nhiên, các nghiên cứu trước
đây thường tập trung trên người. Cáp ca và do vậy các kết quả đưa ra thường
khó áp dụng với người Việt Nam vì người ta nhận thấy mẫu tăng trưởng của
các chủng tộc và dân tộc thường có khuynh hướng khác nhau
Ở Việt Nam, hiện chưa có nghiên cứu nào thật đầy đủ về chỉ số đầu
mặt của trẻ em ở độ tuổi 12. Vì vậy, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này nhằm
xác định một số chỉ số quan trọng của trẻ em Việt Nam, góp phần hoàn thiện
đặc điểm nhân trắc đầu mặt người Việt Nam
3. Lý do lựa chọn cơ sở đào tạo
Đại học Y Hà Nội là Trường số một của Việt Nam và Đông Dương về
đào tạo nhân lực cán bộ y tế ở trình độ đại học và sau đại học. Trường với bề
kết quả nghiên cứu, chương 4 dự kiến bàn luận về kết quả nghiên cứu, dự
kiến kết luận kết quả nghiên cứu, danh mục tài liệu tham khảo, kế hoạch
nghiên cứu, phiếu khám và các phụ lục cam kết tham gia nghiên cứu.
5. Kinh nghiệm (về nghiên cứu, thực tế, hoạt động xã hội và ngoại khóa khác)
Tôi đã tham gia các lớp đào tạo và tập huấn về nghiên cứu khoa học
trong chương trình học sau đại học và các lớp do Viện và Trường tổ chức. Sau
khóa học những kiến thức, sự hiểu biết về nghiên cứu khoa học đã thúc đẩy
tôi về những dự định nghiên cứu về lĩnh vực mà tôi đang giảng dạy. Trong
quá trình theo học thạc sỹ, tôi đã tiếp cận nhưng còn hạn chế về nghiên cứu vì
vậy nếu được học tiếp lên nghiên cứu sinh sẽ trang bị cho tôi những nền tảng
và kinh nghiện nghiên cứu còn thiếu.
6. Dự kiến việc làm và các nghiên cứu tiếp theo sau khi tốt nghiệp
Dự kiến việc làm: tiếp tục công việc giảng dạy tại Bộ môn Phẫu thuật
trong miệng – Viện Đào tạo Răng Hàm Mặt – Trường Đại học Y Hà Nội.
Các nghiên cứu tiếp theo sau tốt nghiệp: Nghiên cứu sâu hơn về đặc
điểm nhân trắc học của người Việt Nam qua việc nghiên cứu mở rộng các
độ tuổi.
7. Đề xuất người hướng dẫn
Chức danh khoa học, họ và tên: 1. PGS.TS. Mai Đình Hưng
2. TS. Nguyễn Phú Thắng
Chuyên ngành: Răng Hàm Mặt
Nơi công tác: Viện Đào tạo Răng Hàm Mặt – Đại học Y Hà Nội
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG
tăng tốc độ tăng trưởng của hệ thống hàm mặt và có sự tăng trưởng khác biệt
giữa hai xương hàm. Ở thời điểm 12 tuổi, bộ răng vĩnh viễn được hình thành
tương đối hoàn chỉnh (đây là giai đoạn cuối của bộ răng hỗn hợp), giai đoạn
này trẻ chuẩn bị bước vào tuổi dậy thì. Do đó, sự tăng trưởng của trẻ trong độ
tuổi này có một vai trò quan trọng trong phát triển hình thái vùng đầu mặt, với
những thay đổi và phát triển một số đặc điểm chính của khung xương vùng
đầu mặt và gần đạt đến độ trưởng thành.
12
Trên thế giới đã có rất nhiều nghiên cứu về các chỉ số đầu mặt của các
chủng tộc khác nhau dựa trên ba phương pháp chính là: đo trực tiếp trên cơ thể
sống, phân tích gián tiếp qua ảnh và phân tích gián tiếp qua phim XQ chụp theo
kỹ thuật từ xa. Trong ba phương pháp này, phân tích qua phim XQ chụp theo
kỹ thuật từ xa là phương pháp được sử dụng nhiều nhất và có tính khách quan
cao, có thể phân tích cả mô cứng và mô mềm. Đặc biệt gần đây, với sự phát
triển của XQ kỹ thuật số cũng như phần mềm đọc phim, chúng ta có thể ngay
lập tức lập kế hoạch điều trị và tiên lượng cho bệnh nhân. Tuy nhiên, các
nghiên cứu trước đây thường tập trung trên người Cáp ca và do vậy các kết quả
đưa ra thường khó áp dụng với người Việt Nam vì người ta nhận thấy mẫu tăng
trưởng của các chủng tộc và dân tộc thường có khuynh hướng khác nhau.
Ở Việt Nam, năm 2003, Lê Nam Trà có nghiên cứu sơ lược về số đo
vòng đầu. Năm 2001, Hoàng Tử Hùng và cộng sự nghiên cứu về hình thái học
và cung răng của trẻ từ 3 đến 5,5 tuổi... Lê Nguyên Lâm (2014), Lê Võ Yến
Nhi (2009) đã ứng dụng phân tích chỉ số Richket để nghiên cứu các đặc điểm
sọ mặt của trẻ em ở các lứa tuổi khác nhau. Nhưng hiện chưa có nghiên cứu
nào thật đầy đủ về chỉ số đầu mặt của trẻ em Việt Nam ở độ tuổi 12. Nhằm
xác định một số chỉ số quan trọng của trẻ em Việt Nam ở độ tuổi này - độ tuổi
bước vào thời kỳ đỉnh tăng trưởng thứ 2, góp phần hoàn thiện đặc điểm nhân
ở các đường khớp xương làm cho xương lớn lên của các theo hướng thẳng
góc với các đường khớp của chúng. Do các đường khớp này có ở cả ba chiều
trong không gian, nên sự tạo xương giúp sọ phát triển theo tất cả các hướng.
Vào tháng thứ ba của bào thai, đầu thai nhi chiếm tỷ lệ khoảng 50%
chiều dài cơ thể. Ở giai đoạn này, sọ có thể tích lớn so với mặt và chiếm
khoảng hơn phân nửa thể tích của toàn bộ đầu. Ngược lại, tứ chi và thân mình
còn kém phát triển. Lúc sinh ra, thân mình và tứ chi lại tăng trưởng nhanh hơn
đầu và mặt, nên tỷ lệ kích thước đầu so với toàn thân giảm chỉ còn 30%. Sự
tăng trưởng toàn cơ thể tiếp tục diễn ra theo hướng này, nên tỷ lệ kích thước
đầu giảm dần đến khi trưởng thành là 12%.
14
Hình 1.1. Sự tăng trưởng của cơ thể
(Nguồn:ProffitWR“Comtemporaryorthodontic”.(2007).MosbyElsevier.4thedition.[23])
1.1.2. Sự tăng trưởng của nền sọ
Các xương của nền sọ được tạo thành ban đầu dưới hình thức sụn sau
đó được biến đổi thành xương bởi cơ chế hình thành xương từ sụn. Những
vùng phát triển quan trọng ở nền sọ là các đường khớp sụn giữa xương bướm
và giữa các xương bướm và xương sàng. Về mô học các đường khớp sụn này
giống như bản sụn giữa hai xương chứa sụn đang tăng trưởng. Đường khớp
sụn này gồm có vùng tăng sản tế bào ở giữa và nhóm tế bào sụn trưởng thành
trải dài ở hai đầu, mà sau này sẽ được thay thế bởi xương [7], [24].
Hình 1.2. Đường khớp sụn
(Nguồn: Proffit WR “Comtemporary orthodontic”. (2007).
Mosby Elsevier. 4th edition. [23])
16
Hình 1.3. Sự tăng trưởng của hàm trên
(Nguồn:Proffit.WR.“Comtemporaryorthodontic”.(2007).MosbyElsevier.4thedition..[23])
1.1.4. Sự tăng trưởng của xương hàm dưới
Xương hàm dưới tăng trưởng màng và xương sụn sau khi xương đã
thành hình, tế bào sụn xuất hiện thành những vùng riêng biệt (lồi cầu, mỏm
vẹt, góc hàm). Sau khi sinh, chỉ có sụn lồi cầu còn tồn tại và hoạt động cho tới
16 tuổi, có khi đến 25 tuổi. Mặc dù sụn lồi cầu không giống bản sụn ở đầu chi
hay đường khớp sụn, sự tăng sản, sự tăng dưỡng và sự hình thành xương từ
sụn đều xảy ra ở nơi này. Tất cả những vùng khác của xương hàm dưới đều
được hình thành và tăng trưởng bằng sự bồi đắp xương/tiêu xương trực tiếp ở
bề mặt, sự tăng trưởng của xương hàm dưới ảnh hưởng đến tầng dưới của
mặt. Xương hàm dưới cũng giống như xương hàm trên cũng phát triển theo 3
chiều trong không gian [3].
Sự phát triển theo chiều rộng thì khác với xương hàm trên, xương hàm
dưới tăng trưởng theo chiều rộng chủ yếu nhờ sự đắp xương ở mặt ngoài. Sau
khi sinh, sự tăng trưởng của đường khớp giữa cằm không đáng kể vì sụn này
hóa xương từ tháng 4 đến tháng 12. Sự tăng trưởng của xương hàm dưới theo
chiều rộng là kết quả của 2 quá trình tiêu xương ở mặt trong và bồi đắp xương
ở mặt ngoài. Khi so sánh xương hàm dưới ở người trưởng thành lớn hơn
nhiều so với trẻ sơ sinh, đó là do góc tạo bởi chỗ gặp nhau của hai nhánh
17
ngang bên phải và trái giữ cố định từ nhỏ đến khi trưởng thành. Chỉ có sự đắp
thêm xương ở bờ sau cành lên xương hàm dưới và sự tiêu xương ở bờ trước
nhưng với tốc độ chậm hơn, và do độ nghiêng của nhánh đứng theo hướng từ
trong ra ngoài làm xương hàm dưới phát triển theo chiều rộng nhiều hơn là về
có vẽ như tiếp tục tăng trưởng trong kỳ trưởng thành. Đặc biệt là sự giảm rõ mức
độ tăng trưởng ở nữ cuối những năm 15 - 16 tuổi và tăng trưởng lại vào những
năm 20 tuổi. Nghiên cứu cho thấy sự xoay của hai xương hàm vẫn tiếp tục diễn
ra ở người trưởng thành cùng với sự thay đổi theo chiều cao và sự mọc răng.
Thông thường, hai xương hàm ở nam đều xoay ra trước làm giảm nhẹ góc mặt
phẳng hàm dưới trong khi xương hàm ở nữ có khuynh hướng xoay ra và sau góc
mặt phẳng hàm dưới tăng. Trong cả hai giới có răng có những thay đổi để bù trừ
nên phần lớn tương quan cắn khớp được duy trì. Mô mềm thay đổi nhiều hơn:
mũi dài ra, hai môi phẳng hơn và cằm trở nên nổi bật hơn.
Hình 1.5. Tương quan tăng trưởng của nền sọ và tăng trưởng mặt
(Nguồn: Proffit .WR .“Comtemporaryorthodontic”.(2007). Mosby Elsevier.4th edition.[23)
1.1.6. Cơ chế của quá trình tăng trưởng
Các xương thành phần của sọ mặt răng sau khi đã hình thành sẽ tăng
trưởng theo các cách.
19
1.1.7. Sự tăng trưởng của sụn
Các tế bào xương phát triển từ tế bào liên kết của màng sụn. Khối lượng
xương tăng dần trong khi số lượng sụn giảm đi và sự cốt hóa diễn ra dần dần.
Tạo xương từ sụn không phải là mô sụn chuyển thẳng thành mô xương mà
sụn chết được dần thay thế bởi xương mới xâm lấn vào mẫu sụn. Các vùng ở
sọ mặt có sự tăng trưởng từ sụn là: nền sọ, vách mũi và đầu lồi cầu.
1.1.8. Sự tăng trưởng ở các đường khớp xương
Sự tạo xương từ các mô liên kết của các đường ráp xương làm cho
xương tăng trưởng theo hướng thẳng góc với các đường khớp của chúng do
đường khớp này có cả ba chiều trong không gian nên sự tạo xương giúp phức
hợp sọ mặt phát triển theo tất cả các hướng.
Khi phân tích phim sọ mặt từ xa, bên cạnh phân tích yếu tố thẩm mỹ các
tác giả thường quan tâm nhiễu đến các yếu tố chức năng. Để phân tích một cách
chi tiết cụ thể hơn về mặt thẩm mỹ thì cần phân tích trên ảnh. Trên phim sọ mặt
từ xa chúng ta có thể đánh dấu 220 điểm theo Walker và Kowalski được cải tiến
bởi Schendel và cộng sự [13]. Sau đây là các điểm mốc hay được sử dụng:
Trục dọc
Hình 1.6. Các điểm mốc giải phẫu trên phim sọ mặt nghiêng từ xa [13]
1. Xi: Trung tâm hình học của cành cao xương hàm dưới.
2. Pm: Điểm nằm trên bờ trước cằm, giữa điểm B và Pog chỗ đường cong
21
chuyển từ lồi sang lõm.
3. Điểm N hoặc Na (Nasion): Điểm trước nhất của bờ trên của khớp trán
mũi theo mặt phẳng dọc giữa.
4. Điểm Ba (Basion): Điểm dưới nhất của bờ trước lỗ chẩm
5. Điểm DC: Điểm giữa cổ lồi cầu nơi đường nối N- Ba cắt ngang qua, đi
qua những điểm nổi bật ở mặt, mũi, cằm, gò, má, mồi.
6. Điểm CC: Điểm cắt nhau giữa trục mặt và đường N-Ba.
7. Điểm CF: Điểm cắt nhau của mặt phẳng Francfort với đường thảng
đứng tiếp tuyến với mặt sau của khe chân bướm hàm.
8. Điểm s (Sella Torcica): Điểm giữa của hố yên xương bướm.
9. Điểm Po hoặc Pr (Porion): Điểm cao nhất của bờ trên ống tai ngoài.
10.Điểm Or (Orbitale): Điểm thấp nhất của bờ dưới hốc mắt.
11.Điểm ANS (Anterior nasal spine): Điểm gai mũi trước.
12.Điểm PNS (Posterior nasal spine): Điểm gai mũi sau.
13.Điểm A (Subspinale): Điểm lõm nhất ở mặt ngoài xương ổ răng hàm trên.
14.Điểm B (Submental): Điểm lõm nhất ở mặt ngoài xương ổ răng hàm dưới.
4. Góc Ar-Go-Me(GHD): Góc xương hàm dưới.
5. Góc MP/SN: Góc giữa mặt phẳng hàm dưới vói mặt phẳng nền sọ.
6. Góc Pal/ MP: Góc giữa mặt phẳng khẩu cái và mặt phẳng hàm dưới.
7. Góc FMA: Góc tạo bởi mặt phẳng FH và mặt phẳng MP.
8. Góc mặt: Góc dưới-trong tạo bòi mặt phẳng F và đường NPog (mặt
phăng mặt): đánh giá tương quan của cằm so với nền sọ.
9. Góc lồi: Góc tạo bởi đường thẳng NA và đường Apog.
10.Góc giữa mặt phẳng A-B và đường Npog.
11.Góc tạo bởi trục Y và mặt phẳng Francfort
12.Góc SN/ GoGn: Góc tạo bởi đường SN và đường GoGn (mặt phẳng
hàm dưới).
13.Góc Edmondo Muzi: Là một góc xương được xác định bằng chụp Tele
23
Profil với tổ chức mềm. Góc này được-hình thành bởi một đường thẳng
đi qua điểm nhô nhất của xương trán, qua gai mũi trước và điểm
Pogonion xương. Góc này khoảng 140° - 180°, trung bình là 162°
14.Góc mặt Camper. Xác định bởi điểm giao nhau giữa một đường thẳng
chạy từ ống tai ngoài đến gai mũi trước, và một đường thẳng chạy từ
gai mũi trước đến điểm nhô cao nhất của trán. Góc này trung bình
khảng 80°.
1.2.2. Các góc sử dụng để đánh giá mối tương quan giữa răng và xương
1. Góc I/SN: Góc giữa trục răng của trên với mặt phăng nền sọ.
2. Góc I/Pal: Góc giữa trục răng cửa trên với mặt phẳng khẩu cái.
3. Góc I/MP: Góc giữa trục răng cửa trên với mặt phẳng hàm dưới.
4. Góc I/NA: Góc nghiêng răng cửa trên với tầng giữa mặt.
5. Góc i/ NB: Góc nghiêng răng cửa dưới với tầng dưới mặt.
6. Góc occ/SN: góc giữa mặt phẳng cắn và đường SN.
2.
Mặt phẳng FH (Francfort Horizontal): Mặt phẳng đi qua điểm Po và
Or.
3.
Mặt phẳng cắn (Occ): Mặt phẳng đi qua điểm giữa độ cắn phủ của răng
hàm lớn thứ nhát và độ cắn phủ răng cửa.
4.
Mặt phẳng PtV: Mặt phẳng vuông góc với mặt phẳng Francfort và đi
qua điểm Pt
5.
Mặt phẳng nền sọ Ba-N: Mặt phẳng đi qua điểm Ba và N.
6.
Mặt phẳng khẩu cái (Pal): Mặt phẳng đi qua điểm ANS và PNS.
7.
Mặt phẳng hàm dưới (MP): Có bốn cách xác định là mặt phẳng đi qua
điểm Gn và Go; Go và Me, mặt phẳng tiếp tuyến với điểm thấp nhất
của hàm dưới song song với trục của thân xương hàm dưới; mặt phẳng
Downs phía sau tiếp tuyến với góc hàm nơi thấp nhất, phía trước tiếp