NGHIÊN cứu một só TRUYỆN THƠ của dân tộc THÁI VIỆT NAM có CÙNG đề tài với TRUYÊN THƠ nôm của dân tộc KINH - Pdf 38

B GIO DC V O TO
TRNG I HC S PHM H NI
----------

Ngô Thị Ph-ợng

NGHIÊN CứU MộT Số TRUYệN THƠ
của dân tộc Thái ở Việt Nam Có CùNG đề tài
với truyện thơ nôm dân tộc Kinh
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 62.22.01.21

Luận án tiến sĩ ngữ văn

Ng-ời h-ớng dẫn khoa học: PGS. TS. Nguyễn Đăng Na

hà nội - 2013


LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS. TS.Nguyễn Đăng Na, người
Thầy đáng kính, đã tận tâm hướng dẫn tôi hoàn thành luận án này!
Tôi xin bày tỏ niềm kính phục đối với các Thầy, Cô trong Tổ bộ môn Văn học
Việt Nam, khoa Ngữ văn, phòng Sau đại học – trường Đại học Sư phạm Hà Nội,
các nhà khoa học trong các hội đồng chấm luận án vì đã giúp đỡ tôi trên nhiều
phương diện để tôi có thể hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu của mình!
Tôi xin bày tỏ sự cảm kích sâu sắc đối với PGS. TS Đặng Quang Việt –
nguyên Hiệu trưởng và TS Nguyễn Văn Bao - Hiệu trưởng trường Đại học Tây Bắc
vì sự giúp đỡ lớn lao trong suốt quá trình tôi học tập và nghiên cứu!
Tôi xin cảm ơn tất cả đồng nghiệp, bạn bè và gia đình đã hỗ trợ tôi rất nhiều
trong quá trình tôi thực hiện luận án!

1.1.2. Đề tài và cốt truyện .....................................................................................23
1.2. Truyện thơ Nôm dân tộc Kinh ........................................................................27
1.3. Truyện thơ dân tộc Thái ..................................................................................30
1.3.1. Lịch sử văn hóa xã hội tộc người Thái .......................................................30
1.3.2. Hiện trạng truyện thơ dân tộc Thái ............................................................39
1.4. Mối tƣơng tác giữa truyện thơ Nôm và truyện thơ Thái .............................43
1.5. Giới thiệu nội dung một số truyện thơ Thái và truyện thơ Nôm liên quan
đến đề tài ..................................................................................................................45
1.5.1. Truyện thơ Nôm Thạch Sanh và truyện thơ Thái Ngu háu .........................45
1.5.2. Truyện thơ Nôm Cái Tấm - Cái Cám và truyện thơ Thái Ý Nọi - Náng Xưa ....47
1.5.3. Truyện thơ Nôm Từ Thức và truyện thơ Thái Ú Thêm ...............................49
1.5.4. Truyện thơ Nôm Tống Trân - Cúc Hoa và truyện thơ Thái Trạng nguyên ............52
1.5.5. Truyện thơ Nôm Hoàng Trừu và truyện thơ Thái Trạng Tư .......................55
TIỂU KẾT CHƢƠNG 1 .........................................................................................58
Chƣơng 2 NỘI DUNG CỦA MỘT SỐ TRUYỆN THƠ DÂN TỘC THÁI
CÙNG ĐỀ TÀI VỚI TRUYỆN THƠ NÔM DÂN TỘC KINH ..........................59
2.1. Khát vọng chinh phục tự nhiên.......................................................................59
2.1.1. Khát vọng chiến thắng tự nhiên ..................................................................60
2.1.2. Khát vọng chinh phục tự nhiên - cách thức bảo vệ bản mường .................65


2.2. Khát vọng bảo vệ gia đình - xã hội .................................................................68
2.2.1. Khát vọng bảo vệ gia đình ..........................................................................68
2.2.2. Khát vọng bảo vệ xã hội .............................................................................71
2.3. Khát vọng con ngƣời lí tƣởng .........................................................................75
2.3.1. Hình tượng con người lí tưởng ...................................................................75
2.3.2. Tự hào sánh ngang xứ người ......................................................................82
2.3.3. Khát vọng “ở hiền gặp lành” .....................................................................84
2.4. Khát vọng tâm linh .......................................................................................88
TIỂU KẾT CHƢƠNG 2 .........................................................................................97



1

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Truyện thơ là thể loại khá quan trọng của văn học nƣớc nhà. Thành tựu
truyện thơ kết tinh từ “máu chảy” nơi „đầu ngọn bút”, khiến “nƣớc mắt thấm trên tờ
giấy” của toàn dân tộc Việt Nam. Nói tới truyện thơ, chúng ta cần kể đến truyện thơ
Nôm (gọi tắt là truyện Nôm) và truyện thơ dân tộc Thái (gọi tắt là truyện thơ Thái).
1.2. Với địa bàn cƣ trú rộng, số dân đông thứ ba so với các dân tộc sinh sống
tại miền núi, có chữ viết rất sớm, cộng thêm bề dày văn hóa, tộc ngƣời Thái đã đóng
góp cho văn học nƣớc nhà những thành tựu lớn. Nhƣ các dân tộc khác, văn học Thái
có quá trình hình thành, vận động vừa độc lập tƣơng đối, vừa là sản phẩm tổng hòa
các yếu tố nội, ngoại sinh. Trong vốn văn hóa, văn nghệ dân tộc Thái, truyện thơ
đƣợc coi nhƣ một thể loại khá đặc sắc. Truyện thơ Thái không đơn thuần là những
sáng tác truyền miệng mang đậm sắc thái tộc ngƣời mà còn đƣợc lưu truyền bằng chữ
viết riêng. Với giá trị đó, thể loại này đánh dấu bƣớc chuyển từ văn học dân gian
sang văn học thành văn. Nói tới truyện thơ Thái, hầu nhƣ ai cũng chỉ quen thuộc với
thiên tình sử Tiễn dặn người yêu, Khun Lú - Náng Ủa,... hay một số anh hùng ca
Chương Han, Quam tô mương… Tuy nhiên, kho tàng truyện thơ Thái còn có những
tác phẩm hay, ít ngƣời biết đến, ít đƣợc quan tâm nhƣ Ngu háu, Ý Nọi - Náng Xưa, Ú
Thêm, Trạng nguyên, Trạng tư,… Vì vậy, nghiên cứu nó chính là góp phần làm r
hơn diện mạo văn học Thái, hƣớng tới tìm kiếm những thành tựu, những giá trị tiềm
ẩn còn b ng .
1.3. Truyện thơ Nôm là thể loại có vai trò trụ cột trong nền văn học dân tộc
Kinh thời trung đại. Truyện thơ Nôm thuộc loại hình tự sự, chủ yếu diễn đạt bằng
thơ lục bát, dùng văn tự Nôm, phản ánh xã hội thông qua sự trình bày, miêu tả có
tính chất hoàn chỉnh vận mệnh, tính cách nhân vật bằng cốt truyện với hệ thống
biến cố sự kiện.

hay văn học viết, nhất là mảng “truyện Nôm bình dân” (Từ dùng của Nguyễn Lộc).
Có nội hàm giống nhƣ truyện thơ Nôm, truyện thơ các dân tộc ít người
đang đứng giữa ranh giới phân loại khá phức tạp. Có nhà nghiên cứu cho rằng nó
giống nhƣ một “dấu nối giữa văn học truyền miệng và văn học thành văn” và có
nhà nghiên cứu lại cho rằng thể loại này thuộc văn học dân gian. Những suy nghĩ
mang tính lưỡng phân nhƣ vậy khiến nhiều ngƣời yêu thích mảng truyện thơ phải
dè dặt. Sự thận trọng, lảng tránh (do tính an toàn cố hữu) dẫn tới hiện trạng các
công trình nghiên cứu về truyện thơ dân tộc ít người ngày càng hiếm hoi, khiêm
tốn. Không cần viện dẫn đâu xa, truyện thơ dân tộc Thái viết bằng chữ Thái cổ


3

hiện còn một số lƣợng khá lớn nhƣng chƣa đƣợc khai thác, dịch thuật, tìm hiểu.
Trong tƣơng lai, giá trị của những loại sách này chƣa chắc đã đƣợc khai thác và sử
dụng, bởi cần có nguồn kinh phí lớn, cần những khối óc có kiến thức lí luận vững
chắc và do có những mã khóa riêng nên ngƣời nghiên cứu phải là ngƣời bản địa.
Những yêu cầu đó rất xa vời trong điều kiện thực tế, không thể giải quyết “một
sớm một chiều”. Năm 2002, GS. Đặng Nghiêm Vạn và các cộng sự sau khi chủ
biên bộ sách Tổng tập văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam đã phải chú thích
rằng, muốn có những cuốn sách xuất bản bằng song ngữ “là điều không dễ dàng,
vì cần có vốn đầu tƣ lớn, một tổ chức điều hành rất khoa học và cơ bản nhất, là có
những ngƣời nhiệt tình và hiểu biết” [158, tr.12].
Trƣớc thực tế đó, tiến hành tìm hiểu truyện thơ Thái, chúng tôi đứng trƣớc
rất nhiều khó khăn, nhất là điều kiện tƣ liệu khan hiếm, các công trình nghiên cứu
về mảng văn học này gần nhƣ vắng bóng, không nguồn kinh phí tài trợ của các tổ
chức xã hội. Tuy vậy, với những cố gắng nhất định của cá nhân, để có tƣ liệu
nghiên cứu, Nghiên cứu sinh cùng một số cộng sự tiến hành dịch ba văn bản truyện
thơ Thái hiện đang còn ở dạng văn bản cổ bao gồm truyện Trạng nguyên, Trạng
Tư, Ngu háu với kì vọng đóng góp một vài nhận thức về phạm vi văn học nói trên.

2.2.1. Truyện thơ
Truyện thơ “thực chất là một truyện vừa viết bằng thơ […] và cơ sở của nó là
cốt truyện đƣợc trình bày trong sự thống nhất với việc thể hiện tài liệu của truyện thơ
theo phƣơng thức trữ tình” [135, tr.172].
Truyện thơ đƣợc gọi “tập đại thành” của các dân tộc thiểu số Việt Nam, “thể
loại đạt đến trình độ cao nhất trong sự phát triển của các thể loại văn học dân gian”
[98, tr.19]. Nó ra đời khi nhu cầu giải phóng con ngƣời, phô diễn mọi biểu hiện
phong phú của đời sống nội tâm trong xã hội đầy biến động trở nên bức thiết. Thêm
vào đó, sự giao lƣu văn hóa rộng rãi với ngƣời Kinh miền xuôi, với các nƣớc láng
giềng, văn học dân tộc ít ngƣời đòi h i một thể loại dài hơi hơn, có khả năng hơn
trong việc thực hiện những khúc quanh, những biến thái phức tạp của thế giới tâm
hồn con ngƣời (khi mà truyện cổ, dân ca không thể đáp ứng yêu cầu đó). Nhƣng điều
kiện thực hiện nhu cầu đó lại chƣa chín muồi. “Những nhu cầu đó đành chịu dồn nén
lại để hun đúc nên một thể loại mới vừa là truyện lại vừa là thơ - đó là thể loại truyện
thơ” [98, tr.342].
Truyện thơ Nôm và truyện thơ dân tộc ít người đều là thể loại đặc biệt của nền
văn học dân tộc Việt Nam, mang những đặc trƣng riêng khiến thơ ca Việt Nam khác
hẳn với thơ ca các nước khu vực. Nhà nghiên cứu N.I.Niculin nhận định: “Những thể
loại khác nhau của truyện thơ, nhƣ đã đƣợc mọi ngƣời thừa nhận, là một tài sản vô


5

cùng quý báu của nền văn học dân tộc Việt Nam. Truyện thơ bắt nguồn từ văn học
dân gian, với tƣ cách là những thể loại, chúng tạo thành bộ phận đặc biệt tiêu biểu
cho thơ ca Việt Nam. Truyện thơ đã làm cho thơ ca Việt Nam khác biệt hẳn so với
truyền thống ở Viễn đông mà nó gắn bó mật thiết” [Dẫn theo 39, tr.263-264].
Vì thể loại truyện thơ đánh dấu trình độ cao nhất trong sự phát triển của các
thể loại văn học ít ngƣời nên thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu. Tổng
quan về vấn đề này, chúng tôi có thể điểm lƣợc những kết luận quan trọng của các

khẳng định: “Truyện thơ là một thể loại đặc biệt - đặc biệt ở chỗ nó vừa mang tính
chất của truyện, vừa mang tính chất của thơ ca. Nó là truyện đƣợc kể dƣới hình thức
thơ ca” [98, tr.55]. Ông nhấn mạnh đặc trƣng thi pháp cốt l i của truyện thơ là
“truyện đƣợc kể dƣới hình thức thi ca”, tức là nó thuộc loại hình tự sự bằng thơ.
Không dừng ở đó, trong bài viết Về mô hình cốt truyện của truyện thơ các dân
tộc thiểu số, Lê Trƣờng Phát tiếp tục dành sự quan tâm tới kết cấu cốt truyện và có
những phát hiện về kiểu kết thúc của truyện thơ: “Nghiên cứu truyện thơ, mọi ngƣời
hầu nhƣ nhất trí rằng phần lớn cốt truyện của thể loại này đƣợc xây dựng theo mô
hình “kết thúc có hậu” gồm 3 chặng gặp gỡ - tai biến - đoàn tụ. Nói phần lớn bởi lẽ
mô hình cốt truyện này chỉ áp dụng với những tác phẩm có đề tài chủ đạo là tình yêu
đôi lứa. Tuy nhiên đây là đề tài chủ yếu cơ bản của thể loại […]. Xem xét những
truyện thơ có cùng đề tài chủ đạo […] ngoài “kết thúc có hậu” nhƣ trên, truyện thơ
còn xây dựng kiểu kết thúc khác, một kiểu cốt truyện đƣợc cấu trúc theo mô hình
khác” [99, tr.54]. Kết luận trên đã gợi ý cho ngƣời viết khi xem xét sự khác và giống
nhau về kết cấu cốt truyện ở truyện thơ Thái và truyện thơ Nôm. Theo nhận định này
thì cốt truyện của truyện thơ dân tộc ít ngƣời không chỉ có kết cấu ba phần nhƣ
truyện Nôm Kinh mà nó còn xuất hiện những cấu trúc khác. Những cấu trúc đó cần
đƣợc cụ thể hóa trong những tác phẩm mà đề tài quan tâm. Kết cấu ba phần nói trên
của truyện Nôm – thể loại thuộc văn học viết Việt Nam, truyện thơ dân tộc ít ngƣời
cũng có chung kiểu kết cấu, vậy, có thể đây cũng là thể loại thuộc văn học viết.
Nếu nhƣ Lê Trƣờng Phát tập trung tiến hành tìm hiểu vị trí và thi pháp của
truyện thơ thì Vũ Tiến Quỳnh đi truy tìm nguồn gốc văn hóa xã hội, phong cách thể
loại truyện thơ và khẳng định “Truyện thơ - một dấu nối giữa văn học truyền miệng
và văn học thành văn”. Theo ông, truyện thơ có nguồn gốc từ chính bản tộc. Bên
cạnh đó, truyện thơ còn có nguồn gốc từ truyện Nôm, sự ra đời của các truyện thơ ở
các dân tộc ít ngƣời “có tính quy luật phổ biến, theo những nhu cầu khách quan và
theo những điều kiện xã hội lúc đó” [109, tr.48] nhƣ sự phân chia giai cấp trong xã
hội, sự xuất hiện tầng lớp nho sỹ, trí thức cấp thấp ở một số vùng dân tộc ít ngƣời.



biểu có các ý kiến của Hà Văn Thư, Hoàng Tiến Tựu, Phan Đăng Nhật…
Năm 1962, trong điều kiện nƣớc nhà kháng chiến chống Mỹ, tƣ liệu thiếu
thốn, các nhà nghiên cứu ở Viện Văn học trong đó có Hà Văn Thƣ vẫn dành nhiều


8

tâm sức cho văn học dân tộc ít ngƣời: “Các truyện thơ dài từ năm bảy trăm cho tới
trên dƣới hai nghìn câu cũng có khá nhiều và phần lớn đều ca ngợi những mối tình
chung thủy […]. Yêu nhau phải mong đến cái chết mới đƣợc gần nhau, cái kết cục bi
thảm của đôi nhân vật trong truyện đã làm rơi không biết bao nhiêu nƣớc mắt. Và,
những truyện thơ trữ tình này đã tố cáo một xã hội ngột ngạt đầy rẫy những phong tục
tập quán lạc hậu” [134, tr.11]. Nhận định trên có tính chất định hƣớng cho công trình
nghiên cứu truyện thơ về phƣơng diện đề tài.
Cùng nhiều học giả khác, trong chuyên luận về văn học các dân tộc thiểu số
Việt Nam, nhà nghiên cứu Phan Đăng Nhật cũng ủng hộ ý kiến trên. Ông khẳng định:
“Về mặt nội dung, vấn đề trung tâm của các truyện tình yêu là cuộc sống đau khổ của
những trai gái bị thất bại trong tình yêu do xã hội cũ gây nên. Đại diện cho xã hội bất
công thƣờng là bố mẹ, là những ngƣời trực tiếp chịu trách nhiệm gả bán […] Vua
quan phìa tạo đã thực sự là kẻ đối lập, cƣớp cô gái đẹp và gây nên bi kịch tình yêu bất
hạnh. Sự cƣỡng bức, cƣớp đoạt phá phách của xã hội chứ không phải là sự phản bội
của một trong những ngƣời là nguyên nhân gây nên đau khổ”. Ông nhấn mạnh thêm
vai trò của nhân vật nữ với kết cục của những mối tình ấy: “đôi trai gái trong truyện
thơ tình yêu của các dân tộc thiểu số một mực kiên tâm chờ đợi, theo đuổi, bảo vệ và
còn đấu tranh để giành lại hạnh phúc đã bị cƣớp mất. Trong đó vai trò của ngƣời phụ
nữ rất quan trọng…” [95, tr.175].
Truyện thơ không tồn tại riêng lẻ, trong quá trình phát triển của mình, nó tiếp
thu kế thừa các thể loại khác theo kiểu liên kết dọc. Nhà nghiên cứu Hoàng Tiến Tựu
nhận xét: “Về nội dung cũng nhƣ hình thức nghệ thuật, truyện thơ về đề tài tình yêu
các dân tộc ít ngƣời đã kế thừa và phát triển truyền thống của thơ ca trữ tình, đặc biệt

nào về chủ sách, ngƣời chép sách, sách sao theo bản nào, đƣợc tiến hành tại đâu, ngày
tháng nào?” [101, tr.7].
Sách văn học chuyên biệt đầu tiên có tính chất nghiên cứu về truyện thơ dân
tộc Thái mang tên Tìm hiểu văn học dân tộc Thái Việt Nam của Cầm Cƣờng. Công
trình đƣợc tiến hành từ năm 1993. Ông đã biên soạn và trích đăng một số truyện thơ
Thái tiêu biểu viết về chủ đề lịch sử xã hội và tình yêu nhƣ Chương Han, Xống chụ
xon xao, Khun Lú - Náng Ủa… trên tinh thần tự hào dân tộc và trân trọng di sản
truyền thống của cha ông để lại. Đây là công trình lấy việc sƣu tầm, biên soạn, giới
thiệu làm trọng tâm. Trong cuốn sách, ngoài lời giới thiệu ngắn gọn, khái quát thì
không thấy tác giả so sánh truyện thơ Thái với truyện thơ Nôm dân tộc Kinh. Ông
quan niệm “truyện thơ, thơ ca nói chung - sự nở rộ của văn học thành văn của dân tộc


10

Thái” [16, tr.115], không dùng dẫn chứng làm r quá trình ảnh hƣởng qua lại giữa
các phạm vi văn học nhƣng ông cũng khẳng định rằng trong bƣớc đƣờng hình thành,
vận động, văn học Thái có thời kì “định hình và phát triển riêng mình”, có “học tập
rộng rãi các nền văn học xung quanh” nhất là lúc thể truyện thơ hình thành [16,
tr.134]. Việc học tập những gì, ở nền văn học nào, tác giả không nói r .
Trong Chương 2, Những thành tựu chính của văn học Thái Việt Nam, ở mục
II, Cầm Cƣờng xếp truyện thơ Thái vào “văn học thành văn” [16, tr.98]. Ông chỉ ra
rằng, “trƣớc Quam Tô Mương (Truyện kể bản mƣờng), ngƣời Thái đã có chữ viết.
Chữ viết dân tộc là công cụ ghi chép những sáng tác văn học lớn - đã thúc đẩy dòng
văn học viết phát triển. Kết quả, chữ viết lại là phƣơng tiện bảo tồn vững chắc các sản
phẩm của trí tuệ uyên bác đó…” [16, tr.98].
Muốn tăng tính thuyết phục cho nhận định nói trên, Cầm Cƣờng tiếp tục
khẳng định: “Điểm chung của dòng văn học viết là đƣợc soạn thành sách, khác với
thành ngữ, tục ngữ, truyện cổ tích… chủ yếu đƣợc truyền miệng. Đành rằng viết
thành sách chƣa phải là điều kiện đủ, nhƣng đã là điều kiện cần để xét một tác phẩm

+ Thái

4 tác phẩm

3/1

+ Tày - Nùng

7 tác phẩm

2/5

+ Mƣờng

4 tác phẩm

4/0

+ H mông

3 tác phẩm

2/1

+ Chăm

2 tác phẩm

2/0


nhạt, thậm chí ở những dân tộc này “không có gì” [99, tr.54-55]. Đây là kết luận mà
sau này một số công trình đã đồng tình nhƣ các công trình của Kiều Thu Hoạch, Vũ
Anh Tuấn…


12

Năm 1997, trong điều kiện tác phẩm dịch sang tiếng Việt không nhiều, nhà
nghiên cứu Lê Trƣờng Phát chƣa có điều kiện bao quát toàn bộ các sáng tác thuộc thể
truyện thơ của dân tộc Thái. Vì vậy, ông đƣa ra ý kiến cho rằng, truyện thơ Thái đa
phần chỉ kết thúc bi kịch và kết quả đó phản ánh ngƣời sáng tác ra nó là người bản
địa. Vào thời điểm đó, kết luận trên phù hợp với thực tế tƣ liệu, đồng thời gợi mở cho
nhiều công trình khác có những tìm tòi phát hiện thú vị. Ngày nay, văn bản truyện thơ
đƣợc các nhà nghiên cứu Thái học giới thiệu nhiều hơn. Kết quả cho thấy, nhiều tác
phẩm mang kết thúc có hậu, tên truyện rất giống truyện Nôm của ngƣời Kinh nhƣ
Quám Mai công (Nhị độ mai), Tống Trân - Cúc Hoa, Trạng Tư (Hoàng Trừu), Lục
Vân Tiên, Quám Thư Kiêu (Truyện Thúy Kiều)…
Cũng năm 1997, trong luận án Đặc điểm thi pháp truyện thơ của các dân tộc
thiểu số, ở Chương 2, ông lại khẳng định: “có nhiều tác phẩm văn học Thái vay mƣợn
cốt truyện của các dân tộc anh em”. Qua những dịch phẩm, chúng tôi cũng nhận thấy
r dấu ấn Nho giáo. Có thể các thầy đồ hay trí thức ngƣời Kinh không hẳn hoàn toàn
vắng bóng trong văn chƣơng tộc ngƣời Thái.
Trên cơ sở tóm tắt những truyện thơ Thái, các công trình nghiên cứu chú ý tới
nội dung và nghệ thuật một số truyện thơ liên quan đến đề tài luận án gồm Trạng
nguyên, Ý Nọi - Náng Xưa, Ú Thêm, Trạng Tư, Ngu háu (Lƣu Vĩnh)…
Trong Tìm hiểu truyện thơ Thái, ông Cầm Cƣờng đã liệt kê một số thành tựu
truyện thơ Thái có nguồn gốc bản tộc và kết luận: Truyện thơ Thái, ngoài những tác
phẩm tiêu biểu đã xuất bản “còn nhiều tác phẩm lớn khác nhƣ Tõng Đón - Ăm Ca,
Pha Mệt - Pha Cãng, Thi Thỗn, Kén Kẻo, U Thễn, Thôi Thao, Phôm Hom, Hiễn
Hôm, Tạo Luông Mưỡng, Cống Cẵm, Ý Nọng - Náng Xưa… Các truyện thơ là sự

thủ pháp nghệ thuật thường dùng. Truyện Nôm miền xuôi cũng nhƣ truyện thơ miền
núi đều là bước nối giữa văn học dân gian và văn học thành văn, đều mang tính chất
của cả hai hình thức văn học nói trên […]. Hiện nay chúng ta đã có những dấu hiệu cụ
thể để nói rằng có sự ảnh hƣởng trực tiếp giữa Quám Mai Công, Tống Trân - Cúc Hoa,
Hoàng Trìu, Lục Vân Tiên, Quám Thư Kiêu của dân tộc Thái với Nhị độ mai, Tống
Trân - Cúc Hoa, Hoàng Trừu, Lục Vân Tiên, Truyện Kiều của dân tộc Kinh.” [95,
tr.86-87]. Tất cả các phƣơng diện đƣợc đề cập trên nhƣ nhân vật, kết cấu tác phẩm…
đều thuộc vấn đề của cốt truyện.
Nhìn từ phƣơng diện nghệ thuật, nhà nghiên cứu Kiều Thu Hoạch đồng tình
với ý kiến trên, nên bổ sung: “Quan hệ ấy biểu thị ở sự tƣơng đồng ở câu mở đầu,
câu kết thúc, ở ngôn ngữ thơ pha tạp không thuần nhất, không đồng đều, khi thì Hán
khi thì Nôm, khi thì bình dân khi thì trang trọng và đáng chú ý là truyện Nôm của
ngƣời Việt dần dần đã xâm nhập vào cả thể loại truyện thơ Tày, Nùng, Thái... để tạo


14

nên những truyện thơ mang dáng dấp của truyện Nôm hay nói đúng hơn là chịu ảnh
hƣởng của truyện Nôm cả về cấu trúc tƣ tƣởng và nghệ thuật” [40, tr.240]. Ông nhấn
mạnh rằng, mối quan hệ truyện thơ Nôm dân tộc Kinh và truyện thơ dân tộc Thái chỉ
có tính chất một chiều.
Sự tƣơng đồng giữa truyện thơ dân tộc ít ngƣời và truyện Nôm không chỉ xảy
ra ở văn học dân tộc Thái mà khá phổ biến ở văn học các dân tộc ít ngƣời khác. Câu
ca dân gian của đồng bào Mƣờng chỉ ra mối quan hệ đối sánh giữa truyện thơ Mƣờng
“trên mƣờng” và truyện thơ Nôm dân tộc Kinh “dƣới chợ”:
Dưới chợ có Phạm Tải - Ngọc Hoa,
Trên mường có Nàng Nga - Hai Mối
Dân tộc Mƣờng kín đáo bộc lộ niềm tự hào về di sản văn hóa của mình,
truyện thơ Mƣờng hoàn toàn không thua kém truyện thơ của ngƣời Kinh. Sự đối
xứng trong câu hát ngầm cho thấy những điểm gần gũi giữa truyện thơ Mƣờng và

cƣ ngụ lâu đời. Tộc ngƣời Kinh ở khu tự trị Choang tỉnh Quảng Tây, Trung Hoa cũng
sở hữu tác phẩm Tống Trân - Trần Cúc Hoa có nội dung tƣơng tự truyện thơ Nôm
Tống Trân - Cúc Hoa của ngƣời Kinh, Việt Nam. Trong cuốn Kinh tộc văn học sử,
các tác giả Tô Duy Quang, Quá Vĩ, Vi Kiên Bình đã sƣu tầm đƣợc hai bản kể. Trong
đó, bản kể do các nghệ nhân ngƣời Kinh là Nguyễn Kế Tự (72 tuổi), Phạm Trọng
Phƣơng (64 tuổi) ở đảo Sơn Tâm; Tô Tích Quyền (80 tuổi) ở đảo Lệ Vĩ đã kể lại vào
năm 1980; Tô Duy Quang, Nguyễn Thành Trân, Phù Đạt Thăng, Quá Vĩ đã sƣu tập,
phiên dịch và in cuối Tuyển tập dân ca người Kinh. Nội dung của truyện kể khá
giống với truyện thơ Nôm Tống Trân - Cúc Hoa của ngƣời Kinh. [173]
Nhƣ vậy, rất có thể, trong quá trình thiên di, xảy ra hiện tƣợng giao lƣu văn
hóa, ngƣời Thái đã tiếp nhận tác phẩm này và biến đổi từ khá sớm. Mối quan hệ ảnh
hƣởng qua lại của văn học dân tộc Kinh và dân tộc Thái có bắt nguồn từ chủng tộc
văn hóa, chẳng hạn nhƣ quan hệ Thái - Việt hay Việt - Mƣờng thuộc một nhóm ngôn
ngữ, hay một lí do nào khác? Đây là nhiệm vụ mà đề tài cần lí giải.
Từ tổng quan cho thấy, những công trình trên chủ yếu đƣa ra phán đoán tản
mạn, sơ lƣợc về đề tài, nội dung, nghệ thuật, điểm giống, khác nhau ở phƣơng diện
cốt truyện giữa truyện Nôm Kinh và truyện thơ các dân tộc ít ngƣời (trong đó có
truyện thơ Thái) nhƣng chƣa có học giả nào công phu chứng minh, làm rõ và chƣa có
công trình chuyên biệt nào đi sâu khảo sát, phân tích, so sánh cụ thể các nhóm truyện
nhằm tìm ra kết luận khoa học. Bởi vậy, trên cơ sở tổng kết ý kiến có tính chất định
hƣớng của các nhà nghiên cứu, chúng tôi coi đó là thành tựu cần đƣợc kế thừa và là
những gợi ý để tiến hành Nghiên cứu một số truyện thơ của dân tộc Thái ở Việt Nam
có cùng đề tài với truyện thơ Nôm dân tộc Kinh nhằm rút ra ý nghĩa văn học sử, nhận
diện mối giao thoa và ảnh hƣởng văn hóa, diễn hóa mô tip trong tƣơng quan với một
số truyện Nôm dân tộc Kinh.


17

3. Đối tƣợng nghiên cứu


18

- Nghiên cứu những vấn đề chung liên quan đến truyện thơ và truyện thơ Thái.
- Nghiên cứu nội dung, nghệ thuật 5 truyện thơ Thái.
- So sánh, lí giải nguyên nhân xuất hiện sự tƣơng đồng và khác biệt giữa
truyện thơ Thái và truyện thơ Nôm dân tộc Kinh đƣợc đề cập.
Trên cơ sở sử dụng những khái niệm lí luận có tính công cụ để phục vụ cho
việc nghiên cứu vấn đề đặt ra, trong chừng mực nhất định, chúng tôi cố gắng mở rộng
thêm tới truyện thơ dân tộc ít ngƣời khác có liên quan.
4.2. Giới hạn của đề tài
Đề tài chỉ nghiên cứu 5 truyện thơ của dân tộc Thái (Trạng Tư, Trạng nguyên, Ý
Nọi - Náng Xưa, Ngu háu, Ú Thêm) có cùng đề tài với một số truyện thơ Nôm dân tộc
Kinh (Hoàng Trừu, Tống Trân - Cúc Hoa, Cái Tấm - Cái Cám, Thạch Sanh, Truyện Từ
Thức…) chứ không nghiên cứu toàn bộ những truyện thơ trong nền văn học dân tộc Thái
và cũng không nghiên cứu toàn bộ truyện thơ các dân tộc ít ngƣời ở Việt Nam.
Để thực hiện nhiệm vụ nêu trên, trong quá trình nghiên cứu, nếu thấy cần
thiết, chúng tôi cố gắng mở rộng thêm tới các nền văn học dân tộc ít ngƣời khác.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trong luận án này, chúng tôi sử dụng 4 phƣơng pháp chính sau:
5.1. hương pháp hệ thống
Ngƣời nghiên cứu đi từ chi tiết, đặc điểm nội dung và nghệ thuật của từng tác
phẩm, đặt trong hệ thống thể loại, trong nhóm truyện, rút ra những nhận xét cụ thể về
tác phẩm.
5.2. hương pháp iên ngành
Thể loại truyện thơ, trong đó có những tác phẩm đề cập đƣợc coi là cầu nối giữa
văn học dân gian và văn học viết. Do đó khi nghiên cứu, chúng tôi sử dụng kết hợp
phƣơng pháp phân tích tác phẩm văn học viết với phƣơng pháp phân tích tác phẩm văn
học dân gian. Các khái niệm nhƣ đề tài, cốt truyện, kết cấu, nhân vật, sự kiện… vốn
đƣợc áp dụng trong nghiên cứu tác phẩm văn học viết. Các khái niệm nhƣ mô típ, kiểu

tộc Kinh.
- Đánh giá và khảo sát một cách hệ thống để phác thảo diện mạo truyện thơ dân
tộc Thái cùng đề tài với truyện thơ Nôm dân tộc Kinh.
- Đánh giá nội dung và nghệ thuật một số truyện thơ Thái cùng đề tài với
truyện thơ Nôm dân tộc Kinh.
- So sánh sự tƣơng đồng và khác biệt giữa truyện thơ dân tộc Thái với truyện
thơ Nôm dân tộc Kinh.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status