Mối quan hệ giữa quy mô, đòn bẩy tài chính và mức độ chấp nhận rủi ro của các ngân hàng thương mại việt nam - Pdf 55

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH


HUỲNH HOÀNG TRÚC

MỐI QUAN HỆ GIỮA QUY MÔ, ĐÒN BẨY TÀI
CHÍNH VÀ MỨC ĐỘ CHẤP NHẬN RỦI RO CỦA CÁC
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Thành phố Hồ Chí Minh, Năm 2019


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH


HUỲNH HOÀNG TRÚC

MỐI QUAN HỆ GIỮA QUY MÔ, ĐÒN BẨY TÀI
CHÍNH VÀ MỨC ĐỘ CHẤP NHẬN RỦI RO CỦA CÁC
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số : 8340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯ ỜI HƯ ỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. NGUYỄN THỊ LIÊN HOA


1.1
ĐẶT VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU ....................................................................1
1.2
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU .........................................................................7
1.3
CÂU HỎI NGHIÊN CỨU ...........................................................................8
1.4
PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .......................................8
1.5
KẾT CẤU BÀI NGHIÊN CỨU ...................................................................8
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT ..........................................................10
2.1. CÁC BÀI NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY .................................................10
2.2. XÂY DỰNG GIẢ THIẾT ..........................................................................16
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ..................................................28
3.1. MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU.........................................................................28
3.2. MÔ TẢ VÀ ĐỊNH NGHĨA CÁC BIẾN ....................................................33
3.3. THU THẬP DỮ LIỆU ...............................................................................40
3.4. KIỂM ĐỊNH MÔ HÌNH VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU .........................43
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU..............................................................54
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN ......................................................................................57
5.1. ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU ..............................................57
5.2. HẠN CHẾ ĐỀ TÀI ....................................................................................58
5.3. HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO ......................................................59
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC



DANH MỤC THUẬT NGỮ
Too big to fail

Bảng 3.1 : Tổng hợp các biến
Bảng 3.2 : Danh sách các ngân hàng thực hiện nghiên cứu
Bảng 3.3 : Thống kê mô tả các biến
Bảng 3.4 : Ma trận tương quan Pearson
Bảng 3.5 : Kết quả mô hình hồi quy 2SLS nhằm kiểm định mối quan hệ giữa quy
mô và rủi ro của các ngân hàng thương mại Việt Nam.
Bảng 3.6 : Tổng hợp kết quả các biến có mối quan hệ với hệ số Z-score
Bảng 3.7 : Kết quả mô hình hồi quy 2SLS nhằm kiểm định mối quan hệ giữa quy
mô và các thành phần cấu tạo nên Z-score của các ngân hàng thương mại Việt Nam
(gồm ROA, CAR, độ lệch chuẩn của ROA).



TÓM TẮT
Các bài nghiên cứu trước đây về mối quan hệ giữa quy mô và mức độ chấp nhận rủi
ro ngân hàng, đều cho thấy mối quan hệ này là cùng chiều. Tuy nhiên, các nghiên
cứu này còn thiếu bằng chứng thực nghiệm tại các quốc gia đang phát triển, đại diện
là Việt Nam.
Vì thế tác giả quyết định thực hiện đề tài này nhằm kiểm tra xem mối quan hệ giữa
quy mô, đòn bẩy tài chính và mức độ chấp nhận rủi ro cuả các ngân hàng thương
mại Việt Nam. Bài nghiên cứu thực hiện dựa trên bộ dữ liệu gồm 23 ngân hàng
thương mại cổ phần trong giai đoạn 2009-2017. Tác giả cũng xem xét về mối quan
hệ giữa các thành phần cấu tạo nên hệ số rủi ro Z-score (gồm ROA, độ lệch chuẩn
ROA và hệ số CAR) và quy mô ngân hàng, và các biến kiểm soát khác.
Mô hình hồi quy hai giai đoạn 2 SLS với dữ liệu bảng được sử dụng trong bài
nghiên cứu này do xuất hiện nội sinh giữa các biến.
Kết quả tìm thấy:


Thứ nhất, mối quan hệ cùng chiều giữa Quy mô và mức độ chấp nhận rủi ro.




Second, a positive correlation between bank size and leverage.



Third, a negative correlation between risk-taking and holding shares ratio of

management.
Based on the results of this study, the author expects to help policy makers have a
accurated view of the impact of size and structured of the bank on risks. Since then,
making decisions to help improve the risk management.
Keywords: bank size, risk, leverage, Too big to fail, 2 SLS



1

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU
1.1

ĐẶT VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Sự ổn định và thịnh vượng của hệ thống tài chính là bàn đạp rất quan trọng để kinh
tế tăng trưởng bền vững. Đặc biệt là các ngân hàng có vai trò rất quan trọng trong
việc dẫn dắt cả nền kinh tế. Vì thế nên các tổ chức tài chính và các ngân hàng lớn
này luôn nhận được những lợi ích và ưu ái đặc biệt từ các chính sách của chính phủ,
ngân hàng trung ương. Các tổ chức khổng lồ này hoạt động với niềm tin rằng sẽ
nhận được sự hỗ trợ từ chính phủ khi rủi ro xảy ra. Vì những đặc quyền đó nên xuất

đang điêu đứng.
Citigroup đổi 27 tỷ USD cổ phần ưu đãi với lãi suất sinh lợi 8%/năm để lấy 20 tỷ
USD tiền mặt cứu trợ. Các ngân hàng đầu tư Goldman Sachs và Morgan Stanley
buộc phải chuyển thành ngân hàng thương mại để có thể mượn tiền từ FED.
Tiếp đó là vụ rót tiền lớn nhất trong lịch sử nước Mỹ vào Fannie Mae và Freddie
Mac để Chính phủ đoạt quyền kiểm soát doanh nghiệp. Với con số 187.5 tỷ USD,
số tiền này lớn hơn rất nhiều so với đợt bỏ ra cứu trợ trong đợt khủng hoảng tín
dụng năm 1989.
Fannie Mae và Freddie Mac là hai kẻ khổng lồ đóng vai trò trung tâm trong thị
trường địa ốc Mỹ. Hai định chế tài chính này được chính phủ bảo trợ để thu mua
các khoản vay mua nhà trả góp từ ngân hàng, các tổ chức tài chính khác rồi bán ra
thị trường thứ cấp. Vì các khoản thế chấp này được ngầm đảm bảo bởi chính phủ
nên hai công ty này chấp nhận rủi ro nhiều hơn để đem lại lợi nhuận cao hơn. Cuối
năm 2007, khi các ngân hàng kiểm soát hoạt động tín dụng chặt chẽ hơn, các khoản
vay trả góp của hai công ty này nắm giữ đã khoảng 90% thị trường. Vì thế, chính
phủ không thể không ra tay cứu trợ, một phản ứng dây chuyền chắc chắn sẽ xảy ra
với hệ thống tài chính của Mỹ nếu hai kẻ khổng lồ này khủng hoảng.
Trường hợp Tập đoàn Bảo hiểm Quốc tế Mỹ (AIG) cũng là một ví dụ điển hình về
“Too big to fail”. AIG quá lớn, nằm trong một mạng lưới quá phức tạp của hệ thống
tài chính, nên không thể để rơi vào tình trạng vỡ nợ. Vì thế chính phủ phải ra tay
ứng cứu khẩn cấp với gói cứu trợ trị giá 182 tỷ USD, nhằm đưa AIG thoát khỏi
nguy cơ phá sản và tránh cho thị trường tài chính nước này một kết cục tồi tệ.


3

Để hạn chế những tác động xấu từ các tổ chức tài chính lớn, nhiều ý kiến cho rằng
phải giảm sự kết nối giữa các tập đoàn, giảm quy mô của các tập đoàn có sức ảnh
hưởng lớn đối với thị trường, khi quy mô, năng lực của các tổ chức này giảm thì sẽ
làm mức độ chấp nhận rủi ro của doanh nghiệp giảm, gánh nặng của nền kinh tế


Lập luận thứ tư, những người phản đối dự luật đã đưa ra các ví dụ rằng

không chỉ các doanh nghiệp có quy mô lớn, mà cả những doanh nghiệp nhỏ vẫn có
tác động đáng kể đến nền kinh tế.


4

Dermine và Schoenmaker (2010) cho rằng việc giới hạn quy mô doanh nghiệp
không phải là công cụ tốt nhất, dựa trên phát hiện rằng các nước có ngân hàng
tương đối nhỏ phải đối mặt với chi phí cứu trợ lớn; ngoài ra, bài nghiên cứu này còn
cảnh báo rằng việc giới hạn quy mô có thể có các tác động không mong muốn,
chẳng hạn như thiếu đa dạng rủi ro tín dụng.
Theo họ, quy mô không phải là yếu tố tác động đến việc chấp nhận rủi ro của những
tổ chức tài chính, ngân hàng lớn. Việc kiểm soát quy mô và sự phát triển của các
doanh nghiệp là hoàn toàn phi lý.
Sau khủng hoảng 2008, câu chuyện về việc các tổ chức “Too big to fail” lại đưa ra
một cái nhìn khác về việc quy mô ảnh hưởng đến rủi ro doanh nghiệp. Cụm từ SIFI
được thay thế và các doanh nghiệp không còn muốn khuyếch đại quy mô. Các tập
đoàn với quy mô lớn không còn nhận được đặc quyền từ chính phủ, và nếu đã đạt ở
trạng thái “too big” sẽ được chính phủ thêm vào danh sách SIFI, đây là danh sách
các tổ chức tài chính có quy mô lớn mà chính phủ cần giám sát cứng rắn và chặt chẽ
hơn so với các tổ chức quy mô nhỏ. Với quy mô lớn và sức ảnh hưởng với nền kinh
tế, khi các tổ chức tài chính đạt đến ngưỡng có thể vào SIFI, họ sẽ dừng lại xem
phương án nào sẽ có lợi cho công ty.
Tuỳ vào chiến lược công ty, một số sẽ vẫn tiếp tục gia tăng đầu tư khuyếch đại tài
sản và doanh thu để được vào nhóm SIFI để nhận được sự cứu trợ của chính phủ
khi khủng hoảng. New York Community Bancorp là tập đoàn tài chính nắm giữ
lượng tiền gửi tiết kiệm lớn thứ 4 tại Mỹ, thực hiện kế hoạch nhằm thu mua công ty

bắt buộc toàn bộ cổ phần với giá 0 đồng cho đến nay. Những ngân hàng 0 đồng này
sau khi tái cấu trúc vẫn không cho thấy kết quả khả quan. Cuối năm 2017, kiểm
toán nhà nước cho thấy kết quả tái cơ cấu đều không mấy khả quan, tài chính của cả
ba ngân hàng vẫn không được cải thiện, hoạt động kinh doanh tiếp tục thua lỗ lớn,
việc âm vốn chủ sở hữu ngày càng tăng.
Từ ngày 15/1/2018, Luật các tổ chức tín dụng sửa đổi đã chính thức có hiệu lực thi
hành cho phép các ngân hàng yếu kém được phép phá sản. Và bảo hiểm tiền gửi tại
Việt Nam, cả gốc và lãi của một cá nhân tối đa là 75 triệu đồng, tăng từ 25 triệu
đồng lên 75 triệu đồng. Con số 75 triệu này là khá thấp và vô lý dù số tiền gửi của
người dân có thể trên vài trăm triệu hoặc vài tỷ đồng. Khi ngân hàng thực sự phá


6

sản, người dân sẽ mất lòng tin vào hệ thống ngân hàng, dẫn đến việc rút tiền ào ạt,
mua vàng và ngoại tệ cất vào két sắt, nguồn vốn khan hiếm càng khan hiếm hơn.
Tuy nhiên, các ông lớn ngân hàng và cả các ngân hàng nhỏ vẫn sẽ được ngân hàng
nhà nước và chính phủ hỗ trợ để không phá sản. Việc ngân hàng nhà nước cho phép
tổ chức tín dụng phá sản chỉ là biện pháp cuối cùng khi các tổ chức này không thực
hiện được các phương án phục hồi, sáp nhập, hợp nhất, giải thể, và chuyển giao bắt
buộc.
Bởi tại Việt Nam, tâm lý và trình độ người dân vẫn phụ thuộc vào hiệu ứng bầy
đàn, bất cân xứng thông tin nên việc cho phép một ngân hàng được phép phá sản có
thể đe doạ đổ vỡ dây chuyền, gây mất an toàn hệ thống ngân hàng và kéo theo
những tác động tiêu cực đến nền kinh tế. Bên cạnh đó, cứu trợ các ngân hàng hoạt
động yếu kém là một tín hiệu của ngân hàng nhà nước cho người dân an tâm gửi
tiền vào hệ thống ngân hàng.
Câu chuyện về khủng hoảng tại Việt Nam lại khác với câu chuyện “Too big to fail”
của Mỹ, những ngân hàng với quy mô nhỏ lại chấp nhận rủi ro nhiều hơn. Và thực
sự rủi ro của các ngân hàng chịu tác động bởi quy mô, khi muốn kiểm soát rủi ro thì

hàng thương mại Việt Nam. Bài nghiên cứu sử dụng dữ liệu trong khoảng thời
gian 2009-2017 với 23 ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam.

1.2

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Mục tiêu của bài nghiên cứu là tìm hiểu mối quan hệ giữa quy mô hoạt động và đòn
bẩy tài chính, khả năng chấp nhận rủi ro của các ngân hàng thương mại tại Việt
Nam giai đoạn từ năm 2009 đến năm 2017.
Bên cạnh đó, bài nghiên cứu cũng tìm hiểu về việc nắm giữ cổ phần của hội đồng
quản trị và giám đốc điều hành ngân hàng, có giúp làm giảm mức độ chấp nhận rủi
ro mà ngân hàng gánh chịu.
Bài nghiên cứu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc lựa chọn một quy mô thích hợp
để có thể đem lại một kết quả tốt nhất khi thực hiện việc quản trị rủi ro. Thông qua
đó, các nhà quản lý sẽ nắm bắt được tình hình thực tế ở các ngân hàng thương mại
hiện nay, tiến hành cải tiến và hoàn thiện quá trình quản trị rủi ro.


8

1.3

CÂU HỎI NGHIÊN CỨU

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, bài nghiên cứu sẽ làm rõ những câu hỏi sau:


Có hay không mối quan hệ giữa quy mô và mức độ chấp nhận rủi ro tại các
ngân hàng thương mại Việt Nam? Nếu có, mối tương quan giữa quy mô và

Phần 1 : Giới thiệu : Đầ u tiên tác giả giới thiệu tổ ng quan về đề tài nghiên
cứu, và trình bày lý do cho ̣n đề tài, mu ̣c tiêu bài nghiên cứu, ý nghiã và kế t
cấ u của nghiên cứu.



Phần 2 : Tổng quan lý thuyết : Tác giả sẽ trình bày các bài nghiên cứu trước
đây trên thế giới. Từ các bài nghiên cứu trên, tác giả xây dựng các giả thuyế t
cho bài nghiên cứu này.



Phần 3 : Phương pháp nghiên cứu : Phầ n này sẽ trình bày lầ n lươ ̣t về mô hình
nghiên cứu, giải thích các biế n trong bài và cách thu thập dữ liệu nghiên cứu.


9

Cuố i cùng là trình bày về phương pháp kiể m đinh
̣ mô hình, phân tích và trình
bày kế t quả kiể m đinh.
̣


Phần 4 : Kết quả nghiên cứu : Phầ n này sẽ trình bày các kế t luận về mố i quan
hệ giữa quy mô doanh nghiệp và chấp nhận rủi ro của các ngân hàng thương
ma ̣i Việt Nam, so sánh kế t quả với các bài nghiên cứu trước đây, và đưa ra
một số kiế n nghi ̣cho ngân hàng. Đồ ng thời đưa ra một số đinh
̣ hướng để phát
triể n đề tài.

khu vực phi nông thôn tìm thấy mối tương quan ngược chiều giữa tổng tài sản và
rủi ro. Rủi ro được đại diện bởi Z-score và tỷ lệ vốn trên vốn chủ sở hữu.
Houston và cộng sự (2010) nghiên cứu gồm 300 ngân hàng trên thế giới từ 20002007. Kết quả nghiên cứu cho thấy tổng tài sản có mối quan hệ tương quan cùng
chiều với độ lệch chuẩn lợi nhuận hàng ngày của cổ phiếu, nghĩa là quy mô có mối
tương quan dương với mức độ chấp nhận rủi ro. Biến đại diện cho mức độ chấp
nhận rủi ro là Z-score, ROA, tỷ lệ an toàn vốn CAR, độ lệch chuẩn của ROA.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status