MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG TẠI TÒA ÁN .........................................8
1.1. Khái niệm, đặc điểm tranh chấp hợp đồng tín dụng ngân hàng...........................8
1.2. Những vấn đề lý luận về giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng ngân hàng .........14
1.3. Khái quát pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại tòa án .......23
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT CÁC
TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG CỦA TÒA ÁN TẠI
THÀNH PHỐ HÀ NỘI ...........................................................................................35
2.1. Thực trạng pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng của tòa án...........35
2.2. Thực tiễn giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng ngân hàng của tòa án tại
thành phố Hà Nội ......................................................................................................41
Chương 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU
QUẢ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG
TẠI TÒA ÁN............................................................................................................59
3.1. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại
Tòa án ........................................................................................................................59
3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng ngân
hàng tại Tòa án. .........................................................................................................64
3.3. Xây dựng cơ sở vật chất, ứng dụng công nghệ thông tin vào hành chính tư pháp ...67
KẾT LUẬN ..............................................................................................................68
TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................................70
DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt
Cụm từ tiếng việt
Luật trọng tài thương mại
NHNN
Ngân hàng nhà nước
NHTM
Ngân hàng thương mại
QSDĐ
Quyền sử dụng đất
TAND
Tòa án nhân dân
TMCP
Thương mại cổ phần
TNHH
Trách nhiệm hữu hạn
TTTM
Trọng tài thương mại
hưởng trực tiếp đến tính an toàn, hiệu quả kinh doanh của chính các ngân hàng
thương mại. Thời gian qua, tranh chấp dân sự, kinh doanh thương mại trong đó có
tranh chấp HĐTD không ngừng gia tăng, đó là chưa kể đến các tranh chấp được các
bên thỏa thuận giải quyết bằng các phương thức khác như thương lượng, hòa giải
hay trọng tài thương mại.
Từ thực tiễn giải quyết tranh chấp liên quan đến HĐTD ngân hàng ở Việt
Nam thời gian qua, nhiều câu hỏi được đặt ra cần có lời giải đáp thỏa đáng như: cần
nhận thức như thế nào về bản chất của các tranh chấp và cơ chế giải quyết các tranh
chấp HĐTD ngân hàng; làm thế nào để hạn chế các tranh chấp HĐTD ngân hàng,
nếu đã phát sinh tranh chấp thì làm thế nào để giải quyết nhanh chóng, thuận tiện và
ít tốn kém về thời gian, tiền bạc cho các bên liên quan?
Thực tiễn ở Việt Nam trong những năm qua cho thấy rằng hệ thống quy định
pháp luật về giải quyết tranh chấp nói chung và giải quyết tranh chấp về HĐTD
ngân hàng nói riêng đã được Nhà nước ta quan tâm xây dựng và phát triển theo
hướng ngày càng hoàn thiện. Tuy nhiên, với số lượng tranh chấp HĐTD ngân hàng
có xu hướng tăng lên cả về số lượng và tính phức tạp thì tình trạng tồn đọng tranh
chấp này ngày càng nhiều. Các tranh chấp phát sinh từ HĐTD ngân hàng chậm
được giải quyết đã cho thấy những hạn chế, bất cập của pháp luật về nội dung, pháp
luật về hình thức.
1
Trên thế giới, hình thức giải quyết tranh chấp phát sinh từ HĐTD ngân hàng
được các bên tranh chấp lựa chọn phổ biến nhất là hòa giải và trọng tài thương mại.
Sở dĩ như vậy là bởi vì, các hình thức giải quyết tranh chấp này có nhiều ưu điểm
vượt trội như: tiết kiệm thời gian; giải quyết dứt điểm; tôn trọng quyền tự định đoạt
của các bên; không bị ràng buộc bởi các nguyên tắc tố tụng phức tạp…
Đối với Việt Nam, do những đặc thù về điều kiện kinh tế - xã hội nên hình
thức giải quyết tranh chấp phát sinh từ HĐTD ngân hàng thường được các bên
thường xuyên lựa chọn là phương thức thương lượng và/hoặc phương thức giải
luật và bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa.
Xuất phát từ nhận thức về tầm quan trọng của việc giải quyết tranh chấp
HĐTD ngân hàng, cùng với những lợi thế do đang trực tiếp công tác trong lĩnh vực
xử lý nợ trong ngành ngân hàng, tôi quyết định chọn đề tài: “Giải quyết tranh chấp
hợp đồng tín dụng ngân hàng từ thực tiễn xét xử của Tòa án tại thành phố Hà
Nội” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình, thông qua đó giúp tôi học hỏi thêm nhiều
kinh nghiệm, nâng cao kiến thức pháp luật của mình về lĩnh vực HĐTD trên thực tế
giúp ích cho công việc của mình đang làm. Từ đó có những kiến nghị hoàn thiện
các quy định của pháp luật chưa phù hợp với thực tiễn về giải quyết tranh chấp
HĐTD thông qua Tòa án.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong lĩnh vực pháp luật về hợp đồng nói chung và giải quyết tranh chấp
phát sinh từ HĐTD ngân hàng nói riêng, đã có nhiều công trình nghiên cứu với
những khía cạnh khác nhau đóng góp không nhỏ tạo cơ sở lý luận giúp cho việc
hoàn thiện quy định pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng, đặc biệt là tranh
chấp HĐTD ngân hàng, chẳng hạn như:
- Luận văn thạc sỹ luật học của tác giả Trương Thị Hai (2018) với đề tài:
“Hòa giải tranh chấp hợp đồng tín dụng qua thực tiễn giải quyết tại Tòa án nhân
dân thành phố Đà Nẵng”.
- Luận văn thạc sỹ luật học của tác giá Vũ Thị Thúy (2015) với đề tài: “Vai
trò của Tòa án trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
- Luận văn thạc sỹ của tác giải Đỗ Thị Thương (2016) với đề tài: “giải quyết tranh
chấp kinh doanh thương mại bằng phương thức Tòa án từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam”.
Bên cạnh đó, còn rất nhiều bài viết của các tác giải đăng trên tạp chí chuyên
ngành về luật học, tạp chí Dân chủ và pháp luật, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật có
3
liên quan đến chủ đề ngày như sau:
- Bài viết trên báo pháp luật ngày 03 tháng 03 năm 2016 về hòa giải trong
- Đưa ra một số giải pháp, kiến nghị cụ thể hoàn thiện pháp luật thông qua
việc giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại Tòa án.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các quy phạm pháp luật, các tài liệu liên
quan đến tranh chấp hợp đồng tín dụng và pháp luật giải quyết tranh chấp hợp đồng
tín dụng và thực tiễn việc giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng.
Phạm vi nghiên cứu:
Về lĩnh vực hoạt đồng tín dụng: hoạt đồng cho vay của các tổ chức tin dụng
đối với khách hàng để phục vụ nhu cầu kinh doanh thương mại.
Về không gian: Nghiên cứu hoạt động giải quyết tranh chấp hợp đồng tín
dụng từ thực tiễn xét cử của Tòa án tại thành phố Hà Nội.
Về thời gian: số liệu khảo sát thực tiễn từ năm 2016 đến năm 2018.
5. Cơ sở lý luận và Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả chủ trương sử dụng phối hợp các
phương pháp nghiên cứu có tính phổ quát trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân
văn như:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp, khái quát hóa: Phương pháp này được sử
dụng trong tất cả các chương của luận văn để phân tích các khái niệm, phân tích quy
định của pháp luật, các số liệu,...
- Phương pháp đối chiếu, so sánh luật học: Được sử dụng trong luận văn để
so sánh một số quy định của pháp luật trong các văn bản khác nhau.
- Phương pháp diễn dịch, quy nạp: Được sử dụng trong luận văn để diễn giải
các số liệu, các nội dung trích dân liên quan và được sử dụng tất cả cá chương của
luận văn.
- Phương pháp phỏng đoán khoa học được sử dụng chủ yểu trong Chương 3
để đề xuất những giải pháp cho việc hoàn thiện pháp luật.
Các phương pháp trên được sử dụng phối hợp để giải quyết những nội dung
chủ yếu thuộc yêu cầu và phạm vi nghiên cứu của đề tài.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn được cấu trúc gồm 3 chương như sau:
6
Chương 1: Những vấn đề lý luận về giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng
ngân hàng tại Tòa án
Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn giải quyết tranh chấp hợp đồng
tín dụng ngân hàng của Tòa án tại thành phố Hà Nội.
Chương 3: Giải pháp, kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả
giải quyết các tranh chấp hợp đồng tín dụng ngân hàng tại Tòa án
7
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG TẠI TÒA ÁN
1.1. Khái niệm, đặc điểm tranh chấp hợp đồng tín dụng ngân hàng
1.1.1. Khái niệm tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tranh chấp phát sinh từ HĐTD là tình trạng pháp lý trong quan hệ HĐTD,
mà ở đó các bên thể hiện sự xung đột hay bất đồng ý chí với nhau về những quyền
và nghĩa vụ phát sinh từ HĐTD.
Trên thực tế, không phải bất cứ hành vi vi phạm HĐTD ngân hàng nào cũng
đều xảy ra tranh chấp. Có trường hợp có hành vi vi phạm nhưng không có tranh
chấp bởi vì giữa các bên chủ thể của HĐTD ngân hàng không thể hiện tranh chấp
đó bằng các hành vi phản kháng cụ thể. Do đó, một HĐTD ngân hàng chỉ được coi
là có tranh chấp xảy ra khi sự xung đột, bất đồng ý chí giữa các bên được thể hiện ra
dụng với khách hàng bên cho vay đã không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ
nghĩa vụ giải ngân.
- Việc vi phạm nghĩa vụ thanh tóan của bên vay, đa phần là dạng tranh chấp
về vi phạm nghĩa vụ trả nợ của khách hàng khi đáo hạn và phần lớn các tranh chấp
hợp đồng tín dụng là nguyên đơn là tổ chức tín dụng.
- Dạng tranh chấp nữa của HĐTD là tranh chấp về chủ thể xác lập, điều này
thấy rõ trong ví dụ chủ thể ký kết trong hợp đồng thế chấp với tài sản bảo đảm là hộ
gia đình, thiếu thành viên ký kết trong hợp đồng thế chấp hoặc trường hợp tài sản
được chia thừa kế cho hai vợ chồng tuy nhiên văn phòng đăng ký sử dụng đất sai
sót trong quá trình cấp sổ, chỉ cấp sổ đứng tên một người, đã có bản án cụ thể về
trường hợp này. Hay những tranh chấp có yếu tố nước ngoài, ví dụ tài sản chung
của hai vợ chồng tuy nhiên chồng hoặc vợ đi định cư ở nước ngoài và giả mạo ủy
quyền ký kết thế chấp tài sản.
- Tranh chấp về luật áp dụng và cơ quan giải quyết tranh chấp. Trường hợp
một trong hai bên là bên nước ngoài mà khi ký kết hợp đồng các bên đã không thoả
thuận lựa chọn cơ quan giải quyết tranh chấp cũng như luật áp dụng.
Thứ tư: Phần lớn tranh chấp liên quan đến HĐTD là tranh chấp của bên vay
không thực hiện nghĩa vụ thnh tóan gốc lãi cho bên cho vay. Đây là một trong
9
những nghĩa vụ chính nhất, đóng vai trò nòng cốt trong quá trình thực hiện HĐTD
của các bên và việc thực hiện này có tác động trực tiếp đến quyền lợi của TCTD.
1.1.3. Phân loại tranh chấp hợp đồng tín dụng ngân hàng
Thực tiễn cho thấy tranh chấp phát sinh từ HĐTD ngân hàng là rất đa dạng
và phức tạp. Tuy nhiên, thường tranh chấp phát sinh từ HĐTD có hai loại:
Thứ nhất, tranh chấp HĐTD là tranh chấp về hợp đồng dân sự khi bên vay
vốn là cá nhân, hộ gia đình hay tổ chức không có mục đích lợi nhuận và không có
đăng ký kinh doanh.
giá của chi nhánh đã định giá sai giá trị tài sản bảo đảm. Sau khi Phòng thẩm định
giá khu vực Miền Bắc định giá lại thì giá trị tài sản là 1,95 tỷ đồng, không đủ để bảo
đảm cho khoản vay 2 tỷ theo HĐTD đã ký. Phía công ty cho biết việc chậm giải
ngân của ngân hàng đã làm ảnh hưởng tới tiến độ thanh toán tiền hàng của Hợp
đồng mua bán đã ký với Công ty TMHH Quang Minh. Vì vậy, Công ty TNHH
Quang Minh đã không giao hàng cho Công ty TNHH Hoàng Đông, dẫn tới kế
hoạch sản xuất và cung ứng thành phẩm cho đối tác cũng vì thế bị chậm lại. Trước
tình hình đó, Công ty TNHH Hoàng Đông đã làm văn bản gửi tới Eximbank chi
nhánh Hai Bà Trưng đề nghị phía Ngân hàng giải ngân theo đúng HĐTD đã ký.
Ngày 30/7/2014, đại diện của Công ty TNHH Hoàng Đông đã đến trụ sở
Eximbank chi nhánh Hai Bà Trưng để giải quyết mẫu thuẫn này. Qua quá trình đàm
phán, thỏa thuận, hai bên đã đi đến thống nhất, Eximbank chi nhánh Hai Bà Trưng
tiếp tục giải ngân khoản tiền còn lại của HĐTD vào ngày 05/8/2014 và phía công ty
đồng ý đưa doanh thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh về tài khoản ngân hàng tại
Eximbank chi nhánh Hai Bà Trưng.
- Hành vi vi phạm nghĩa vụ trả gốc và lãi của bên vay: Phần lớn các tranh
chấp phát sinh từ HĐTD ngân hàng xuất phát từ việc vi phạm nghĩa vụ trả gốc và
lãi của khách hàng với nhiều nguyên nhân khác nhau như: tác động của nền kinh tế
suy thoái khiến các doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, do doanh nghiệp cố tình chiếm
dụng vốn của ngân hàng, doanh nghiệp phá sản và có không ít doanh nghiệp lừa đảo
vốn của các NHTM. Trong những năm gần đây, loại tranh chấp phát sinh từ phía
khách hàng vay vốn đang là dạng tranh chấp xảy ra nhiều nhất trong các loại tranh
chấp phát sinh từ HĐTD ngân hàng, tranh chấp này đã và đang gây không ít khó
khăn trong quá trình giải quyết tranh chấp để thu hồi vốn, giảm tỷ lệ nợ xấu xuống
theo đúng tỷ lệ mà NHNN quy định tại các NHTM
11
1.1.3.2 Tranh chấp về chủ thể xác lập, thực hiện hợp đồng
Nếu dựa vào tiêu chí của quan hệ tranh chấp, có thể phân loại tranh chấp phát
dạng về chủng loại và phức tạp về tính chất, mức độ của quan hệ tranh chấp. Chính
vì thế, việc tìm hiểu những nguyên nhân dẫn đến tranh chấp là hết sức cần thiết để
từ đó đánh giá và đưa ra những giải pháp, chính sách phù hợp nhất nhằm hạn chế
tranh chấp, từ đó giảm chi phí giao dịch cho các bên liên quan đến hợp đồng tín
dụng ngân hàng.
Thực tế cho thấy, có nhiều nguyên nhân dẫn đến tranh chấp phát sinh từ
HĐTD ngân hàng. Tuy nhiên, về lý thuyết có thể phân chia các nguyên nhân này
thành ba nhóm cơ bản sau đây:
Thứ nhất, nguyên nhân từ phía bên vay (khách hàng):
- Tranh chấp liên quan đến thanh toán nợ gốc và lãi suất: nguyên nhân khách
quan như do thiên tai, hỏa hoạn, do sự thay đổi của chính sách quản lý kinh tế, điều
chỉnh quy hoạch ngành, sự tác động của cuộc khủng hoảng tài chính trong và ngoài
nước, quan hệ cung cầu hàng hóa thay đổi.....làm cho hoạt động của bên vay không
thực hiện như kế hoạch đề ra.
Nguyên nhân chủ quan là do khách hàng cố tình vi phạm nghĩa vụ thanh toán.
- Tranh chấp do sự không am hiểu pháp luật của khách hàng.
Thứ hai là nguyên nhân từ phía bên cho vay:
- Nguyên nhân từ vấn đề giải ngân: Bên cho vay đã không thực hiện hoặc
thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ giải ngân như các điều kiện trong hợp đồng đã ký
làm hạn chế khả năng thực hiện kế hoạch kinh doanh như dự kiến, hiệu quả kinh
doanh đạt được thấp gây ảnh hưởng đến việc trả lãi và gốc sau này của bên vay.
- Năng lực, phẩm chất, đạo đức của cán bộ tín dụng: Thứ nhất do sự hạn chế
về năng lực nghiệp vụ của các bộ ngân hàng; Thứ hai, do các ngân hàng thường có
thói quen tập trung nhiều công sức cho việc thẩm định trước khi cho vay mà không
kiểm soát sử dụng vốn cho vay.
Thứ ba, nguyên nhân do quy định của pháp luật.
Ngoài những nguyên nhân chính trên còn có nguyên nhân từ thực hiện các
chủ trương, chính sách của Nhà nước về bình ổn kinh tế, nguyên nhân từ việc thay
đổi, bổ sung , chấm dứt hợp đồng vay tiền tại tổ chức tín dụng không đúng quy định
đồng, các vấn đề đặt ra sau đó như là chủ thể nào sẽ tham gia giải quyết tranh chấp,
thẩm quyền và thủ tục giải quyết tranh chấp như thế nào, hiệu lực của phán quyết
khi giải quyết tranh chấp ra sao?...
Trên nguyên tắc, việc giải quyết tranh chấp kinh tế nói chung và tranh chấp
14
phát sinh từ HĐTD ngân hàng nói riêng cần phải đáp ứng được những yêu cầu cơ
bản như: nhanh chóng, kịp thời; tiết kiệm và hiệu quả về kinh tế; không làm hạn
chế, cản trở hoạt động kinh doanh; có thể tận dụng được những cơ hội kinh doanh;
loại trừ những rủi ro từ tác động của thị trường; bảo đảm giữ được bí mật của hoạt
động kinh doanh cũng như uy tín, thương hiệu của các bên chủ thể trong quan hệ
tranh chấp. Mỗi bên đều phải tự cân nhắc lựa chọn phương thức giải quyết tranh
chấp đảm bảo lợi ích kinh tế, mối quan hệ các bên.
Tranh chấp phát sinh từ HĐTD ngân hàng chỉ được giải quyết thỏa đáng khi
các bên đã tìm ra phương án dung hòa được quyền lợi và nghĩa vụ của nhau.
Việc giải quyết tranh chấp phát sinh từ HĐTD thường có các vấn đề sau: Một
là, chủ thể giải quyết tranh chấp; hai là, thẩm quyền giải quyết tranh chấp; ba là,
thủ tục giải quyết.
Việc giải quyết các tranh chấp phát sinh từ HĐTD ngân hàng cần phải đạt
được những yêu cầu sau:
+ Tranh chấp phát sinh từ HĐTD ngân hàng phải được giải quyết một cách
kịp thời, không làm hạn chế, cản trở hoạt động kinh doanh, có thể tận dụng được
những cơ hội kinh doanh, loại trừ những rủi ro từ tác động của thị trường.
+ Việc giải quyết tranh chấp phát sinh từ HĐTD ngân hàng phải bảo đảm giữ
được bí mật của hoạt động kinh doanh cũng như uy tín, thương hiệu của các bên
chủ thể trong quan hệ tranh chấp.
+ Việc giải quyết tranh chấp phát sinh từ HĐTD ngân hàng phải khôi phục
và duy trì các quan hệ hợp tác, tín nhiệm giữa các bên chủ thể.
+ Việc giải quyết tranh chấp phát sinh từ HĐTD ngân hàng phải có chi phí
quyết tranh chấp phát sinh từ HĐTD ngân hàng. Mặc dù vậy, hầu hết các quốc gia
đều thừa nhận các hình thức giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại nói chung
và giải quyết tranh chấp phát sinh từ HĐTD ngân hàng nói riêng bao gồm: thương
lượng; hòa giải; trọng tài thương mại và toà án.
Thực tế cho thấy, mỗi hình thức giải quyết tranh chấp nói trên đều có những
lợi thế và đồng thời cũng thể hiện những điểm hạn chế nhất định. Tùy thuộc vào
tính chất của tranh chấp, mức độ phức tạp của tranh chấp, khả năng và điều kiện cụ
thể của các bên mà các chủ thể tranh chấp có thể lựa chọn hình thức này hay hình
thức khác, hoặc sử dụng phối hợp nhiều hình thức khác nhau nhằm giải quyết tranh
chấp đạt hiệu quả cao nhất.
16
1.2.2.1. Giải quyết tranh chấp theo hình thức thương lượng
Thương lượng (đàm phán) là những hoạt động cơ bản của con người. Trong cuộc
sống hằng ngày, thương lượng hiện diện ở mọi lúc mọi nơi. Vậy thương lượng là gì?
Có thể hiểu thương lượng là phương thức giải quyết tranh chấp HĐTD, trong
đó các bên tranh chấp (Bên cho vay (ngân hàng), bên vay (khách hàng) và người có
quyền và lợi ích liên quan (bên bảo lãnh....)) cùng nhau bàn bạc, thỏa thuận đi đến
thống nhất một phương án giải quyết bất đồng giữa họ mà không cần bất kỳ sự can
thiệp của cơ quan nhà nước hay của bất kỳ người thứ ba nào.
Quá trình thương lượng gồm: thương lượng trực tiếp, thương lượng gián tiếp
và kết hợp thương lượng trực tiếp với thương lượng gián tiếp.
Ngoài những đặc trưng chung của các hình thức giải quyết tranh chấp thì
việc giải quyết các tranh chấp phát sinh từ HĐTD bằng hình thức thương lượng
cũng có một số đặc điểm riêng sau:
Thứ nhất, thương lượng là hình thức giải quyết tranh chấp không cần đến vai trò
của một chủ thể thứ ba mà thông qua việc các bên chủ thể của tranh chấp phát sinh từ
HĐTD cùng nhau gặp gỡ, trình bày ý kiến, quan điểm của mình, bàn bạc để thỏa thuận,
tháo gỡ những bất đồng mâu thuẫn phát sinh. Do vậy, các bên chủ thể của tranh chấp
của các bên. Các bên tranh chấp ai biết bảo vệ quyền lợi của mình, nắm rõ những
xung đột và nguyên nhân phát sinh tranh chấp nên dễ dàng cảm thông nhau hơn để
đi đến thỏa thuận, các bên cùng có lợi.
Hạn chế phương thức giải quyết tranh chấp bằng thương lượng:
- Thương lượng thành công hay không hoàn toàn phụ thuộc vào sự hiểu biết
và thái độ thiện chí, hợp tác của các bên tranh chấp, phụ thuộc vào các bên có thiện
chí muốn tìm giải pháp đối với tranh chấp.
- Người thiếu thiện chí sẽ lợi dụng thủ tục thương lượng để trì hoãn việc thực
hiện nghĩa vụ của mình.
- Việc thực hiện kết quả thương lượng cũng không được bảo đảm, không bị
ràng buộc bởi bất kỳ cơ chế cưỡng chế nào. Do đó, dù các bên có đạt được thỏa
thuận để giải quyết vụ tranh chấp thì các bên phải tự nguyện thi hành thì thỏa thuận
đó mới thành công.
- Mặt khác, phương thức giải quyết thương lượng dễ nảy sinh những tiêu
cực, trái pháp luật do hình thức giải quyết khép kín, không công khai.
- Dễ dẫn đến hiện tượng tiêu cực giữa các doanh nghiệp như xóa nợ, giảm nợ
18
cho nhau trái với nguyên tắc quản lý tài chính của nhà nước.
1.2.2.2. Giải quyết tranh chấp theo hình thức hòa giải
Hòa giải được hiểu là phương pháp để giải quyết tranh chấp, là quá trình mà
tại đó hòa giải viên thương mại tạo điều kiện giao tiếp và đàm phán giữa các bên để
hỗ trợ họ trong việc đạt được một thỏa thuận tự nguyện về tranh chấp của họ.
Việc giải quyết tranh chấp bằng hòa giải được thực hiện theo quy định của
Nghị định 22/2017/NĐ-CP ngày 24/02/2017 của chính phủ về hòa giải thương mại.
Về phương diện lý thuyết, hình thức giải quyết tranh chấp phát sinh từ
HĐTD bằng hòa giải có những đặc điểm cơ bản sau đây:
Thứ nhất, có sự tham gia của bên thứ ba độc lập được gọi là hòa giải viên,
đại điện cho tổ chức hoặc cá nhân có trình độ chuyên môn cao và có kinh nghiệm
dễ bị ảnh hưởng hơn quá trình thương lượng. Bên cạnh đó, chi phí cho quá trình
giải quyết bằng hòa giải cũng tốn kém hơn do phải trả phí cho bên trung gian.
1.2.2.3. Giải quyết tranh chấp theo hình thức trọng tài thương mại
Trọng tài thương mại là một phương pháp pháp lý để giải quyết tranh chấp
ngoài Tòa án, theo đó các bên tranh chấp thỏa thuận đưa tranh chấp của mình đến
một trọng tài viên hay một hội đồng trọng tài để giải quyết theo quy định của Luật
trọng tài thương mại và chấp nhận chịu sự ràng buộc về mặt pháp lý, tuân thủ phán
quyết của trọng tài viên hay của hội đồng trọng tài.
Trên thế giới có 2 hình thức trọng tài là Trọng tài vụ việc và trọng tài thường
trực. Trọng tài vụ việc là trọng tài được các bên tranh chấp thỏa thuận lập ra để giải
quyết một tranh chấp cụ thể và sẽ giải thể khi tranh chấp đó được giải quyết xong.
Trọng tài thường trực là hình thức trọng tài luôn tồn tại để giải quyết các tranh chấp.
Trọng tài thường trực có bộ phận giúp việc, có danh sách trọng tài viên và có quy
tắc tố tụng riêng.
Riêng đối với phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thì áp dụng
đối với trường hợp các bên thỏa thuận giải quyết tranh chấp bằng trọng tại đối với
tranh chấp giữa các bên có hoạt động thương mại và tranh chấp khác giữa các bên
mà pháp luật quy định được giải quyết tranh chấp khác giữa các bên mà pháp luật
quy định được giải quyết tranh chấp bằng trọng tài theo quy định tại Điều 2 về thẩm
quyền giải quyết tranh chấp của trọng tài , Luật Trọng tài thương mại năm 2010.
Hiện nay, giải quyết tranh chấp tại trọng tài thương mại là phương thức giải
quyết tranh chấp không thể thiếu trong nền kinh tế thị trường và đang ngày càng
20
được các doanh nghiệp trên thế giới ưa chuộng. Giải quyết tranh chấp phát sinh từ
HĐTD bằng hình thức trọng tài có thể dung hòa được sự khác biệt, thậm chí là đối
lập nhau của hệ thống phát luật và phán quyết của trọng tài có khả năng thi hành
rộng hơn về mặt địa lý so với bản án của tòa án.
Về lý thuyết, hình thức giải quyết tranh chấp phát sinh từ HĐTD ngân hàng
thực hiện tại cơ quan xét xử nhân danh quyền lực nhà nước, tiến hành theo trình tự,
thủ tục nghiêm ngặt, chặt chẽ và bản án hay quyết định của Toà án về vụ tranh chấp
nếu không có sự tự nguyện tuân thủ sẽ được đảm bảo thi hành bằng sức mạnh
cưỡng chế nhà nước. Chính điều này đã tạo nên ưu điểm hơn hẳn của phương thức
này đối với các phương thức khá đó là tố tụng chặt chẽ và tính khả thi của hiệu lực
phán quyết.
Việc giải quyết tranh chấp bằng Tòa án không phụ thuộc thỏa thuận của các
bên. Luật quy định, Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc hoặc có trụ sở có thẩm quyền
giải quyết, trừ trường hợp các bên có quyền tự thỏa thuận với nhau bằng văn bản
yêu cầu Tòa án nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn giải quyết
tranh chấp theo quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 39 về thẩm quyền của Tòa án
theo lãnh thổ, BLTTDS năm 2015.
Ưu điểm:
- Ưu điểm của hình thức giải quyết tranh chấp thông qua tòa án là: Do tòa án
là cơ quan xét xử của Nhà nước nên phán quyết của tòa án có tính cưỡng chế cao
nhất. Nếu các bên không chấp hành bản án, quyết định của tòa án thì sẽ bị cưỡng
chế thi hành, quyền lợi của người thắng kiện sẽ được đảm bảo tuyệt đối nếu như
bên thua kiện có tài sản để thi hành án.
- Thông thường chi phí để giải quyết một tranh chấp hợp đồng của Tòa án sẽ
thấp hơn so với trọng tài.
- Trình tự tố tụng nghiêm ngặt, chặt chẽ theo quy định của pháp luật.
- Nguyên tắc xét xử công khai có tính răn đe đối với cá nhân, tổ chức vi
phạm pháp luật.
- Các tòa án, đại diện cho chủ quyền quốc gia, có điều kiện tốt hơn các trọng tài
viên trong việc tiến hành điều tra, có quyền cưỡng chế, triệu tập bên thứ ba đến tòa.
- Giải quyết tranh chấp bằng tòa án có nhiều cấp xét xử cũng có cái hay là
khả năng sửa sai nếu bản án của một cấp xét xử có sai sót. Nguợc lại, một khu trọng
tài đã ra phán quyết, cho dù có sai sót đi chăng nữa cũng chịu vì phán quyết đó có
22