Ký Việt Nam từ đầu thế kỉ đến 1945 - Pdf 55

Ký Việt Nam từ đầu thế kỷ đến 1945
PGS.TS Nguyễn Hữu Sơn
Viện Văn học
Khác với truyện ngắn và tiểu thuyết vốn có sự ổn định tương đối về đặc trưng thể loại, các
tác phẩm ký tuy cùng nằm trong loại hình văn xuôi tự sự song lại là tên gọi chung cho một
nhóm thể tài có tính giao thoa giữa báo chí (chính luận, điều tra, ghi chép tư liệu, tường thuật
sự kiện...) với văn học, in đậm dấu ấn “sự hợp nhất truyện và khảo cứu” (M. Gorki) và thường
có tính xã hội, tính thời sự sâu sắc, bao gồm nhiều tiểu loại thể văn như bút ký, ký sự, phóng
sự, tiểu thuyết phóng sự, du ký, hồi ký, nhật ký, tuỳ bút, tản văn, tạp văn, tiểu luận (et-xe)
(1)
...
Đặc điểm sự giao thoa này càng trở nên rõ ràng khi mà bản thân thể tài ký còn đang trong quá
trình hình thành và phát triển, khi mà ngay đường biên thể loại giữa truyện ngắn và ghi chép,
giữa tiểu thuyết và phóng sự đôi khi cũng chưa được phân định rõ nét. Đây cũng là đặc điểm
chung của văn học Việt Nam ở giai đoạn bước đầu hiện đại hoá, đang từng bước hội nhập vào
nền văn học có tính chất toàn nhân loại.

*

Trên thực tế nền văn học dân tộc thời trung đại, nhất là ở giai đoạn hậu kỳ, cũng đã xuất hiện
nhiều tác phẩm ký xuất sắc như Thượng kinh ký sự của Lê Hữu Trác (1720-1791), Tây hành
nhật ký của Phạm Phú Thứ (1821-1882), Chuyến đi Bắc kỳ năm Ất Hợi (1876) của Trương
Vĩnh Ký (1837-1898)... Bước sang thế kỷ XX, cùng với sự phát triển vượt bậc của chữ Quốc
ngữ và việc ra đời các loại báo, tạp chí, các nhà xuất bản khắp trong cả nước thì thể tài ký
cũng xuất hiện và mau chóng giữ một vị trí quan trọng trong đời sống văn học. Ở đây trước hết
phải ghi nhận những sáng tác có ý nghĩa đặt nền móng của Tản Đà (1889-1939) - người đã có
công “khai sinh cho nhiều thể văn trong văn học Việt Nam buổi đầu thế kỷ” - đặc biệt cũng
chính ông là người đã đề xuất và tự mình khai bút cho mục “Việt Nam nhị thập kỷ - Xã hội ba
đào ký” trên An Nam tạp chí (không đều kỳ, 1926-1933). Nhà phê bình Vũ Ngọc Phan đã sớm
xác định vị trí thể văn bút ký của Tản Đà: "Nếu kể Việt văn thì trong khoảng mấy năm 1915,
1916, 1917, Nguyễn Khắc Hiếu đã viết nhiều bài phiếm luận có tính cách bút ký, vì ông đã căn

Phù hợp với tiến trình văn học sử 1930-1945 nói chung, sự phát triển của thể ký giai đoạn này
cũng có thể chia thành hai chặng đường lớn: 1930-1939 và 1940-1945.

Ở chặng đường nằm trọn trong thập kỷ ba mươi, thể loại ký về cơ bản đã định hình phong
cách nghệ thuật với các thể văn như phóng sự, hồi ký, nhật ký, bút ký, ghi chép, du ký... Đặt
trong dòng mạch phát triển chung, việc xuất hiện phóng sự Tôi kéo xe của Tam Lang (Hà thành
ngọ báo, 1932; Trung Bắc xuất bản, 1935) có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Trước hết, tác phẩm
vừa xác lập dòng chủ lưu của thể ký, nghĩa là chính thức đưa thể văn phóng sự lên ngôi, đồng
thời mở đầu cho một kiểu loại văn học mới. Trong quá trình phát triển thể loại văn học còn
chưa rõ ràng, song vẫn có thể định danh được các tác gia viết ký tiêu biểu của thời kỳ này là
Tam Lang (Vũ Đình Chí), Trọng Lang (Trần Tán Cửu), Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố, Nguyễn
Tuân, Phùng Tất Đắc, Lê Văn Hiến, v.v...

Như đã nói trên, Tam Lang là nhà văn giữ vị trí chiếu nhất trong làng phóng sự Việt Nam hiện
đại. Có thể khẳng định tất cả các tác phẩm của ông như Tôi kéo xe (1932), Đêm Sông Hương
(viết 1932, in sách 1938), Lọng cụt cán (1939), Người... ngợm (1940) đều sớm đạt đến giá trị
nghệ thuật chuẩn mực, cổ điển. Qua các phóng sự này, Tam Lang đã nhập thân sâu sắc vào
cuộc sống hàng ngày của người phu xe (Tôi kéo xe), kiếp sống long đong của gái làm tiền nơi
sông nước (Đêm Sông Hương) và tiếng nói châm biếm sâu cay bọn quan lại, nghị gật (Lọng
cụt cán)... Trên phương diện tư duy sáng tạo, vai trò chủ thể giữ ngôi thứ nhất, vừa là người
trải nghiệm trong cuộc, chứng kiến chuyện “người thực, việc thực” vừa là nhân vật thuật
chuyện, kể chuyện, trình bày rõ những điều tai nghe mắt thấy. Từ năm 1942, nhà phê bình Vũ
Ngọc Phan đã nhận định: “Dù ở tác phẩm nào của Tam Lang, người ta cũng thấy cây bút của
ông là cây bút tả chân và châm biếm; ông nhạo đời để răn đời, chứ không bao giờ có giọng
độc ác. Bởi vậy, nếu xét kỹ, người ta sẽ thấy trong những tập phóng sự và những tập châm
biếm, trào phúng trên này những tư tưởng thật là bác ái, bao giờ cũng có cái khuynh hướng
bênh vực hạng người nghèo khổ, kém hèn, mà bênh vực vì lẽ phải, vì nhân đạo, chứ không
xen lẫn một ý nghĩ chính trị nào”
(4)
. Đến cuối thế kỷ, nhà nghiên cứu Lê Thị Đức Hạnh sau khi

(6)
. Nhà nghiên cứu Nguyễn Hoành Khung xác định vị trí văn học sử của bộ phận phóng
sự: “Vũ Trọng Phụng chỉ nổi tiếng từ những phóng sự Cạm bẫy người và Kỹ nghệ lấy Tây. Là
một trong hai người viết phóng sự đầu tiên, Vũ Trọng Phụng đã có công lớn trong việc nhanh
chóng đưa thể loại văn xuôi này đến chỗ thành thục, có vị trí vững vàng trong văn xuôi quốc
ngữ... Ông là một trong số những người mở đầu và là người có công lớn nhất trong việc đưa
thể loại phóng sự ở Việt Nam đến thành thục”
(7)
. Qua thời gian dài, việc đánh giá về Vũ Trọng
Phụng ngày càng khách quan, sâu sắc và toàn diện hơn, ngày càng nhận thức khoa học hơn
những đóng góp xuất sắc của dòng văn phóng sự đối với sự phát triển chung của nền văn học
hiện đại.

Tác giả Trọng Lang cũng là cây bút viết phóng sự sớm và chuyên nhất với thể văn này trong
một thời gian dài. Các tác phẩm chính của Trọng Lang có Trong làng chạy, Đời bí mật của sư,
vãi, Gà chọi (1935), Đồng bóng (1935-1936), Hà Nội lầm than (1937), Làm dân (1938), Làm
tiền (1939); và sau này còn có thêm Thầy “lang”, Vợ lẽ nàng hầu, Những đứa trẻ (1941-1944)...
Các phóng sự, ghi chép của Trọng Lang in khá rõ phong cách điều tra, kể chuyện, khai thác tư
liệu thực tế. Nhà văn đã mở rộng diện đề tài, bao quát cả những khía cạnh đời sống tinh thần,
phong tục tập quán và thực trạng những lối sống mới đang nảy sinh. Ở đây có cả thế giới
muôn màu vẻ của bọn trộm cắp (Trong làng chạy), đời sống nhếch nhác cùng cực nơi thị thành
(Hà Nội lầm than, Làm tiền) và muôn mặt những tệ nạn sau luỹ tre làng (Làm dân, Xôi thịt)...
Nhiều trang viết thực sự sinh động, phô bày được những góc khuất tối của bọn người trộm
cắp, đồng cốt, gái làm tiền, tệ nạn thuốc phiện... Không chỉ phản ánh và bộc lộ thái độ trước
các vấn đề xã hội mà Trọng Lang còn tỏ bày khuynh hướng tư tưởng, chỉ ra những nỗi cơ cực,
đau xót của lớp người “làm dân” dưới đáy xã hội. Nhà phê bình Vũ Ngọc Phan từng khái quát ý
nghĩa sáng tác của Trọng Lang: “Trong số các nhà văn viết phóng sự gần đây, Trọng Lang có
óc phê bình hơn cả. Văn ông đanh thép và sắc cạnh, chuyên về tả cảnh nhiều hơn tả tình...
Muốn hiểu tâm hồn những hạng dân quê đã bị “lây” ít nhiều thói tỉnh thành, phải đọc những
phóng sự của Trọng Lang; nhưng muốn hiểu tâm hồn những người dân quê còn đặc quê mùa,

tác phẩm của ông có khi được gọi là du ký như Một chuyến đi (in báo 1938, in sách 1941), có
khi là phóng sự như Ngọn đèn dầu lạc (1939), Tàn đèn dầu lạc (1941) - trong khi Vũ Ngọc
Phan cho đó “chỉ là một thiên phóng sự về thuốc phiện, chia làm hai quyển, mà đáng lý phải
mang chung một nhan đề: “Ngọn đèn dầu lạc” - hoặc tuỳ bút như Chiếc lư đồng mắt cua
(1941). Các tác phẩm ký của Nguyễn Tuân có tính chất tiếp nối giữa hai thập kỷ ba mươi và
bốn mươi. Ngoài ra, tác phẩm của Nguyễn Tuân thể hiện rõ hơn hết cốt cách nhà văn và tính
chất hỗn dung giữa các thể văn. Vũ Ngọc Phan đã nhận xét đúng mức: “Ông là một nhà văn
đứng hẳn ra một phái riêng, cả về lối văn lẫn về tư tưởng... Những bài bút ký, những truyện
ngắn, truyện dài của ông (...) đã làm cho văn giới Việt Nam phải chú ý đến lối hành văn đặc biệt
của ông và những ý kiến cùng tư tưởng phô diễn bằng những giọng tài hoa, sâu cay và khinh
bạc, lúc thì đầy nghệ thuật, lúc thì bừa bãi, lôi thôi, như một bức phác hoạ, nhưng bao giờ nó
cũng cho người ta thấy một trạng thái của tâm hồn”
(11)
... Với Phùng Tất Đắc, thực chất ông chỉ
viết một số tản văn, tạp văn trên các báo Đông Tây, Nhật tân và tập sách Trước đèn (1939).
Nhà phê bình Vũ Ngọc Phan xếp Trước đèn vào thể bút ký nhưng cũng gọi đây là tập “phiếm
luận”, “nói chơi”, “lời bàn phiếm”... Như vậy, các sáng tác của Nguyễn Tuân, Phùng Tất Đắc đã
bổ sung thêm dòng phong cách nhấn mạnh vai trò chủ thể, khả năng cảm luận, phiếm luận để
rồi sau này phát triển hoàn chỉnh thêm ở các tác phẩm tuỳ bút, bút ký.

Nói đến diện mạo lịch sử ký Việt Nam thời kỳ này cần phải ghi nhận vai trò của nhiều cây bút
đã viết ghi chép, phóng sự điều tra, nhật ký, hồi ký, du ký. Ở đây có những trang tường thuật
cuộc sống người nghệ sĩ như Trương Đình Thi với Tôi, kép kịch (1934), Trần Tiêu có phóng sự
điều tra Thanh niên thôn quê (1938). Về hồi ký có Lê Văn Hiến với Ngục Kontum (1938) đã kể
lại cuộc sống lao tù khắc nghiệt nhưng đầy quả cảm của những người cách mạng. Ngoài ra
còn có nhiều trang viết in báo ngắn gọn mang phong cách du ký (bao gồm đi thăm di tích lịch
sử, danh lam thắng cảnh, du lịch sinh thái, lễ hội, hội chợ...) của nhiều cây bút như Nhất Linh,
Việt Sinh (Thạch Lam), Lê Ta (Thế Lữ), Thạch Lam, Trọng Lang, Khái Hưng, Thanh Tịnh... Tất
cả những trang ghi chép này góp phần làm phong phú và tạo nên dòng chảy chung của thể ký
Việt Nam, tạo tiền đề cho cả một quá trình phát triển tiếp theo.

...

Xét trên phương diện tác gia và tác phẩm, các cây bút ký xuất sắc như Trọng Lang, Ngô Tất Tố
tiếp tục có đóng góp mới. Vào thời gian này, Trọng Lang cho in các phóng sự đã in báo trước
đây thành sách như Làm tiền (1942), Làm dân (1943), viết tiếp Thầy lang (in báo 1941, in sách
1944), đồng thời với các phóng sự mới viết về đời sống gia đình như Vợ lẽ nàng hầu (viết
1943, in 1950), Những đứa trẻ (viết 1944-1945, in 1950). Trong khi đó nhà văn Ngô Tất Tố tiếp
tục khai thác đề tài tệ nạn chốn hương thôn với tập phóng sự Việc làng (in báo 1940, in sách
1941)... Ngoài ra, ở thời điểm đêm trước của cuộc Cách mạng tháng Tám vẫn xuất hiện thêm
một số cây bút có vị trí quan trọng trong làng văn làng báo như Nguyễn Đình Lạp, Thạch Lam,
Lộng Chương, Vũ Bằng, Nhật Nham Trịnh Như Tấu, Mãn Khánh Dương Kỵ, Biệt Lam Trần
Huy Bá...

Xem xét trên phương diện thể tài nghệ thuật có thể thấy hình thức tiểu thuyết phóng sự đã lên
ngôi và giữ một vị trí khá đặc biệt. Với các tác phẩm được định danh là “tiểu thuyết phóng sự”
quả đã có sự hỗn dung thể loại, hỗn dung phong cách khiến cho một sự phân chia thể loại theo
lối khoa học, rành mạch trở nên hết sức khó khăn. Có thể kể đến một số tác phẩm tiêu biểu
được chính các tác giả duy danh là “tiểu thuyết phóng sự” hoặc “phóng sự tiểu thuyết” như Lều
chõng (Ngô Tất Tố, 1941), Ngoại ô (Nguyễn Đình Lạp, 1941), Hầu thánh (Lộng Chương, 1942),
Ngõ hẻm (Nguyễn Đình Lạp, 1943)... Nói riêng với tác phẩm Bút nghiên (Chu Thiên, 1942), tuy
tác giả đề rõ là tiểu thuyết, song Vũ Ngọc Phan đã xác định: “Tập Bút nghiên của ông tuy đề là
tiểu thuyết trơn, nhưng có thể coi như một tập ký sự về cái lối đi học thi của ông cha chúng ta
thuở xưa, hay đặt nó vào loại tiểu thuyết phóng sự cũng được”
(15)
. Hầu hết tiểu thuyết của Vũ
Trọng Phụng như Giông tố, Vỡ đê cũng in rõ dấu ấn chất phóng sự với những mức độ đậm
nhạt khác nhau. Điều này có nghĩa là nhiều tác phẩm in đậm tính chất giao thoa thể loại, trong
phóng sự đã có nhiều phần nghệ thuật được nâng cấp gần với tiểu thuyết và trong hình thức
tiểu thuyết vẫn in đậm phong cách ghi chép phóng sự. Những tác phẩm phóng sự xuất sắc
được coi là tương đối thuần nhất về mặt thể loại có thể kể đến Hà Nội băm sáu phố phường

Đặt trong dòng chủ lưu các thể ký thời kỳ đêm trước Cách mạng tháng Tám còn có những tác
phẩm thực sự sáng giá là phóng sự Cai (Vũ Bằng, in báo 1940, in sách 1944), Nợ văn (Lãng
Tử Thúc Tề, 1941) và tập bút ký Hà Nội băm sáu phố phường (Thạch Lam, 1943). Thực tế tác
phẩm Cai cũng có thể gọi là tiểu thuyết phóng sự hoặc truyện ký mà không sai bao nhiêu.
Trong tác phẩm này có cả một cốt truyện tình yêu bi hài, có cả những trang miêu tả diễn biến
tâm lý sinh động về kẻ nghiện, có cả những ghi chép chi tiết về nạn thuốc phiện và đan xen
thêm cả hình thức ghi chép nhật ký. Trong chiều hướng chung nhất, có thể xem đây là thiên
phóng sự đặc sắc, phong phú bậc nhất viết về tệ nạn nghiện hút dưới thời thực dân phong
kiến. Phóng sự Nợ văn của Lãng Tử Thúc Tề đi sâu mô tả đời sống giới văn bút trong muôn
mặt đời thường ở đất báo Sài Gòn. Còn lại Hà Nội băm sáu phố phường là tập bút ký chủ yếu
tái hiện cuộc sống con người và quang cảnh phố phường Hà Nội ở những khía cạnh truyền
thống văn hoá dân tộc, vẻ hào hoa thanh lịch với những biển hàng, những phố đẹp, những hiệu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status