VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
----------------
BÙI THỊ THIÊN KIM
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIÁM SÁT VÀ
PHẢN BIỆN XÃ HỘI CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC
VIỆT NAM QUẬN NGŨ HÀNH SƠN,
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
HÀ NỘI - 2019
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
----------------
BÙI THỊ THIÊN KIM
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIÁM SÁT VÀ
PHẢN BIỆN XÃ HỘI CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC
VIỆT NAM QUẬN NGŨ HÀNH SƠN,
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Chuyên ngành
: Chính sách công
1.3. Nội dung, hình thức giám sát, phản biện xã hội của MTTQ Việt Nam ............... 20
1.4. Các điều kiện bảo đảm cho hoạt động giám sát và phản biện xã hội của
MTTQVN .................................................................................................................. 38
Chương 2. THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIÁM SÁT VÀ
PHẢN BIỆN XÃ HỘI CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM QUẬN
NGŨ HÀNH SƠN, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG HIỆN NAY ................................. 43
2.1. Khái quát đặc điểm tự nhiên và dân số của quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà
Nẵng .......................................................................................................................... 43
2.2. Thực trạng tổ chức và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam quận Ngũ
Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng.................................................................................. 44
2.3. Thực trạng thực hiện chính sách giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận
Tổ quốc quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng................................................... 54
Chương 3. QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC
HIỆN CHÍNH SÁCH GIÁM SÁT VÀ PHẢN BIỆN XÃ HỘI CỦA MẶT
TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM QUẬN NGŨ HÀNH SƠN HIỆN NAY ............. 65
3.1. Quan điểm cơ bản .............................................................................................. 65
3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách giám sát và phản biện xã
hội của MTTQVN quận Ngũ Hành Sơn hiện nay. .................................................... 69
KẾT LUẬN .............................................................................................................. 78
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (MTTQVN) ra đời ngày 18 tháng 11 năm 1930
với tên gọi ban đầu là Hội Phản đế đồng minh - hình thức tổ chức đầu tiên của Mặt
trận dân tộc thống nhất, tổ chức liên minh giữa giai cấp công nhân, nông dân, đội
ngũ trí thức và các lực lượng yêu nước có mục tiêu chung là giải phóng dân tộc.
Ngày nay, MTTQVN được Hiến pháp Việt Nam năm 2013 và pháp luật ghi nhận là
thành viên hệ thống chính trị nước Cộng hoà XHCN Việt Nam. Là liên minh chính
MTTQ cũng đã có nhiều cố gắng trong tham gia các ý kiến vào việc hoạch định các
chủ trương, đường lối, chính sách phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Nhiều ý kiến
của MTTQ đã được các cấp uỷ Đảng, chính quyền tôn trọng tiếp thu, điều chỉnh,
đem lại nhiều lợi ích thiết thực cho nhân dân.
Tuy nhiên, thực tiễn triển khai hoạt động này trong nhiều năm qua cho thấy,
3
mặc dù chính sách giám sát và phản biện xã hội của MTTQ đã được đặt lên tầm hiến
định, song đến nay vẫn còn tỏ ra lúng túng về nội dung, phương pháp thực hiện, dẫn
đến hiệu quả rất hạn chế, chưa ngang tầm với vị trí chính trị pháp lý của mình. Giám
sát và phản biện xã hội là một nhiệm vụ mới, rất quan trọng, khó khăn và nhạy cảm,
nhưng chưa có cơ chế phản biện xã hội cụ thể, chưa có quy định thật rõ về mục đích,
yêu cầu, nguyên tắc, chủ thể, đối tượng, nội dung giám sát và phản biện xã hội. Do vậy
chính sách giám sát và phản biện của MTTQVN của quận còn gặp nhiều khó khăn,
hiệu quả chưa cao, chưa thực sự phát huy vai trò giám sát và phản biện xã hội đáp ứng
yêu cầu của quy định pháp lý cũng như thực tiễn phát triển đất nước nói chung và của
thành phố nói riêng. Vì những lý do trên, tác giả chọn “Thực hiện chính sách giám sát
và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam quận Ngũ Hành Sơn, thành phố
Đà Nẵng” làm đề tài cho Luận văn thạc sỹ chuyên ngành Chính sách công.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Chính sách giám sát và phản biện xã hội của MTTQ là một đề tài được nhiều
nhà nghiên cứu thuộc các chuyên ngành chính sách công, chính trị học, luật học,
triết học và các nhà chính trị, các nhà quản lý tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau.
Trong thời gian vừa qua, có các công trình nghiên cứu tiêu biểu sau:
- Đề tài KX 10 - 06/06 - 10, (2009) "Các hình thức và giải pháp thực hiện
giám sát xã hội và phản biện xã hội đối với hệ thống chính trị" (của PGS.TS Trần
Hậu làm chủ nhiệm),
- Luận văn tốt nghiệp Đại học Chính trị (2008), "Nâng cao hiệu quả phản
Hoạt động giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam quận
Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu chính sách giám sát và phản biện xã hội của
MTTQVN quận Ngũ Hành Sơn giai đoạn 2014 đến nay.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Luận văn vận dụng quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
về dân chủ và hoạt động của Mặt trận, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về
vai trò của nhân dân, của MTTQVN và các đoàn thể chính trị - xã hội trong việc
thực hiện giám sát và phản biện xã hội trong quá trình hình thành đường lối, chủ
trương của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành mục tiêu và các nhiệm vụ nghiên cứu, luận văn sử dụng các
phương pháp nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn, khoa học chính sách. Cụ thể
là các phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, trừu tượng hóa, so sánh,
phương pháp định tính và định lượng để giải quyết mục tiêu và nhiệm vụ.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Luận văn cung cấp cơ sở lý luận về phản biện xã hội, góp phần vào nghiên
cứu, đổi mới hệ thống chính trị trong điều kiện một đảng duy nhất lãnh đạo và cầm
quyền, trong đó có việc đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với MTTQ nói chung và
hoạt động phản biện xã hội của MTTQ nói riêng, góp phần nâng cao chất lượng hoạt
động phản biện xã hội của MTTQ quận Ngũ Hành Sơn thành phố Đà Nẵng hiện nay.
6
- Luận văn góp phần nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò của MTTQ trong
tình hình mới, đặc biệt là vai trò của MTTQ trong quá trình dân chủ hoá đời sống xã
hội ở nước ta, trong đó có vai trò giám sát và phản biện xã hội.
18/11/1930, Ban Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương (tên gọi từ
tháng 10/1930) ra chỉ thị thành lập Hội Phản đế Đồng minh, hình thức đầu tiên của
Mặt trận Dân tộc thống nhất dưới sự lãnh đạo của Đảng, một hình thức liên minh
chính trị của giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và các lực lượng yêu nước khác
nhằm đánh đổ đế quốc, giành độc lập dân tộc, giải phóng đồng bào ta khỏi xiềng
xích thực dân và phong kiến.
Tháng 11/1936, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông
Dương quyết định thành lập Mặt trận Thống nhất Nhân dân Phản đế Đông Dương.
Tháng 6/1938, đổi tên thành Mặt trận Thống nhất Dân chủ Đông Dương, gọi tắt
là Mặt trận Dân chủ Đông Dương. Tháng 11/1939, với chủ trương tạm gác khẩu
hiệu ruộng đất, Mặt trận Dân tộc Thống nhất Phản đế Đông Dương được thành lập.
Ngày 19/05/1941, Việt Nam Độc lập Đồng minh Hội, gọi tắt là Mặt trận Việt
Minh, được thành lập với mục tiêu tập hợp các tổ chức yêu nước vào một Mặt trận
thống nhất nhằm thực hiện nhiệm vụ cách mạng giải phóng dân tộc.
Ngày 29/05/1946, Hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam, gọi tắt là Hội Liên
Việt được thành lập, cùng với Mặt trận Việt Minh trở thành chỗ dựa vững chắc cho
chính quyền cách mạng non trẻ vừa mới ra đời, đối phó với thù trong giặc ngoài.
Ngày 07/03/1951, Mặt trận Liên Việt được thành lập từ sự thống nhất của hai
tổ chức Mặt trận Việt Minh và Hội Liên Việt, phát huy vai trò động viên sức lực của
toàn Đảng, toàn dân làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ lịch sử.
Ngày 10/09/1955, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được thành lập tiếp tục sự
nghiệp đoàn kết dân tộc của Mặt trận Việt Minh và Mặt trận Liên Việt, nhằm đấu
8
tranh chống đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai.
Ngày 20/12/1960, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam được
thành lập nhằm đoàn kết toàn dân thực hiện mục tiên kháng chiến chống chiến tranh
xâm lược của Mỹ, đánh đổ Ngụy quyền tay sai ở miền Nam, tiến tới giải phóng
- Tổ chức chính trị: Đảng Cộng sản Việt Nam.
- Các tổ chức chính trị - xã hội: Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Đoàn
9
Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Hội Nông dân
Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam.
- Ngoài ra, tham gia Mặt trận còn có: các tổ chức xã hội (Hội chữ thập đỏ
Việt Nam, Hội người cao tuổi Việt Nam, Hội Người mù Việt Nam, Hội Kế hoạch
hóa gia đình Việt Nam. Hội Khuyến học Việt Nam, Hội Y học cổ truyền Việt Nam,
v.v..); Quân đội nhân dân Việt Nam - tiền thân là Đội Việt Nam Tuyên truyền giải
phóng quân - là thành viên của Mặt trận Việt Minh, nay kế tục truyền thống đó, là
thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp,
tầng lớp xã hội, dân tộc, tôn giáo và người Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Như vậy, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam không có hội viên, chỉ có các thành
viên bao gồm các thành viên tổ chức và các thành viên cá nhân. Hoạt động của Mặt
trận được thể hiện qua hoạt động của các thành viên là chủ yếu. Các thành viên
tham gia Mặt trận đều có địa vị bình đẳng và độc lập với nhau.
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là bộ phận cấu thành hệ thống chính trị của nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân.
Điều này xuất phát từ thực tiễn và yêu cầu khách quan của sự nghiệp cách mạng,
xuất phát từ thể chế chính trị: nước ta là nước dân chủ, mọi quyền lực thuộc về nhân
dân. Đây còn là vấn đề lịch sử, từ khi có Đảng là có Mặt trận. Sau khi giành được
chính quyền, Đảng, Nhà nước, Mặt trận là những bộ phận hợp thành hệ thống chính
trị. Tuy vai trò, vị trí, chức năng và phương thức hoạt động khác nhau nhưng đều là
công cụ thực hiện và phát huy quyền làm chủ của nhân dân; đều có chung mục đích
là phấn đấu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, dân chủ,
giàu mạnh, có vị trí xứng đáng trên trường quốc tế. Mối quan hệ giữa Đảng, Nhà
nước và Mặt trận là mối quan hệ hữu cơ, tác động lẫn nhau, vì mục tiêu chung.
trong chủ trương, chính sách của Đảng thông qua hoạt động phản biện.
Mặt trận với chính quyền:
Quan hệ giữa Mặt trận với chính quyền là quan hệ hợp tác bình đẳng, tôn
trọng lẫn nhau, phối hợp trong hoạt động. Sự phối hợp giữa Mặt trận Tổ quốc và Nhà
nước là một tất yếu và xuất phát từ nhu cầu tự thân của cả Mặt trận lẫn Nhà nước.
Đối với Nhà nước, Mặt trận tham gia xây dựng, giám sát và bảo vệ Nhà nước,
góp phần phát huy sức mạnh tổ chức và hoạt động của Nhà nước:
- Vận động, tổ chức nhân dân thực hiện tốt quyền làm chủ của mình, tham
gia xây dựng bộ máy nhà nước: bầu ra cơ quan dân cử; tổ chức hiệp thương với các
tổ chức thành viên, giới thiệu những người đủ tiêu chuẩn làm hội thẩm nhân dân
của tòa án nhân dân các cấp; giám sát hoạt động của cơ quan Nhà nước, đại biểu
dân cử, cán bộ, công chức Nhà nước.
- Tham gia vào hoạt động hành pháp của Nhà nước; phát huy sức mạnh của
hệ thống các cơ quan quản lý hành chính; tham gia xây dựng pháp luật, chính sách,
kế hoạch của Nhà nước: tổ chức tiếp xúc, lấy ý kiến nhân dân tham gia xây dựng
Hiến pháp, sửa đổi bổ sung các văn bản luật và dưới luật, các chương trình, dự án,
chính sách, kế hoạch, thông qua các kỳ họp Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân.
Mặt trận tham gia tuyên truyền, phổ biến pháp luật trong nhân dân, đấu tranh chống
tệ quan liêu, cửa quyền, tham nhũng, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của dân.
- Vận động, tổ chức nhân dân tham gia các phong trào quần chúng, thực hiện
tốt các chương trình kinh tế - xã hội của đất nước.
Nhà nước dựa vào Mặt trận và các đoàn thể để phát huy quyền làm chủ và
11
sức mạnh có tổ chức của nhân dân, tôn trọng và tạo điều kiện để nhân dân trực tiếp
hoặc thông qua đoàn thể của mình tham gia xây dựng, quản lý và bảo vệ Nhà nước.
Hoạt động của Nhà nước mang tính quyền lực từ trên xuống, hoạt động của Mặt
trận mang tính chất vận động quần chúng từ cơ sở. Nhà nước phối hợp với Mặt trận
- Khi phối hợp và thống nhất hành động, các tổ chức thành viên của Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam tuân theo Điều lệ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đồng thời vẫn giữ
12
tính độc lập của tổ chức mình.
- Đảng Cộng sản Việt Nam vừa là tổ chức thành viên, vừa lãnh đạo Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam.
Về cơ cấu tổ chức:
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được tổ chức theo cấp hành chính, từ trung ương
tới cơ sở. Ở mỗi cấp hành chính đều có Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Dưới
cấp xã còn có Ban công tác Mặt trận ở khu dân cư.
Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là cơ quan chấp hành giữa hai kỳ đại hội
của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, có trách nhiệm tổ chức thực hiện nhiệm vụ của
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Ở trung ương có Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Đoàn Chủ
tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Ban Thường trực Ủy ban
trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Ở địa phương có Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, thành phố trực thuộc trung
ương (gọi chung là cấp tỉnh); Ủy ban Mặt trận Tổ quốc huyện, quận, thị xã, thành
phố thuộc tỉnh và đơn vị hành chính tương đương (gọi chung là cấp huyện); Ủy ban
Mặt trận Tổ quốc xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã). Ở mỗi cấp có Ban
Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc. Ngoài ra, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cấp xã
thành lập Ban công tác Mặt trận ở thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc, tổ dân phố,
khu phố, khối phố và cộng đồng dân cư khác (gọi chung là khu dân cư).
1.1.3. Chức năng, nhiệm vụ của MTTQ Việt Nam.
Tuy chưa có văn bản pháp luật nào quy định rõ ràng về chức năng của Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam, tuy nhiên Điều 9 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa 2013 đã khẳng định: “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là cơ sở chính trị của chính
toàn dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân.
1.2. Khái niệm, đặc điểm, vai trò giám sát và phản biện xã hội của
MTTQVN
1.2.1. Quan niệm về phản biện và phản biện xã hội
Để hiểu về chức năng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam,
trước hết cần làm rõ hai thuật ngữ “phản biện” và “phản biện xã hội”.
Phản biện đã được đề cập đến từ lâu trong các cuộc hội thảo, trong các tài
liệu, văn bản, trong hoạt động chính trị - xã hội và trong nghiên cứu khoa học. Đặc
biệt, phản biện xã hội là chủ đề được nói đến nhiều trong thời kỳ Đảng, Nhà nước
có chủ trương mở rộng dân chủ và tạo cơ chế để Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể
nhân dân tham gia giám sát và phản biện xã hội. Đó là khi người dân ngày càng ý
thức được quyền làm chủ của mình và đòi hỏi thực hiện dân chủ thực sự.
Tuy nhiên, nếu “phản biện” là một thuật ngữ đã khá phổ biến, nhất là trong
hoạt động khoa học, thì “phản biện xã hội” lại là khái niệm chưa xuất hiện trong từ
điển tiếng Việt.
Trước hết, nói về phản biện, tuy là đã xuất hiện từ lâu và khá phổ biến song
cũng có rất nhiều cách hiểu về khái niệm này.
Theo âm Hán Việt, phản là phê phán cái đã có, biện là nói có lập luận. Từ
điển Hán Việt của tác giả Trần Văn Chánh giải thích: phản có các nghĩa: chuyển
biến, lật lại, đảo ngược, trái lại, nghĩ lại, xét lại; biện có nghĩa là tranh luận, giải
thích. Từ điển Hán Việt của Thiều Chiểu cũng nói: phản biện là tranh luận theo cái
nhìn ngược lại. Như vậy, theo nghĩa Hán Việt thì phản biện là tranh luận với những
14
ý kiến có trước bằng cách lập luận theo chiều hướng ngược lại. Cách định nghĩa này
đơn thuần xét trên phương diện ngữ nghĩa học.
Còn theo Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học do Hoàng Phê chủ biên
thì phản biện là “đánh giá chất lượng một công trình khoa học khi công trình đó được
cả các hành động [2, 28/02/2007]
Tác giả Lê Đức Tiết lại đưa ra quan niệm:
15
Phản biện là việc dùng chứng cứ, lập luận để bác bỏ chứng cứ, lập luận đã
được đưa ra trước đó hoặc dùng chứng cứ lập luận để bác bỏ lại sự phản biện đã nêu
ra sau đó. Về mặt triết học, phủ định sự khẳng định hoặc phủ định sự phủ định
chính là sự phản biện. Phản biện được thực hiện bằng hai dạng hành động cơ bản là
biện luận và phản biện hoặc chứng minh hoặc chứng minh ngược lại [43, tr.42]
Có thể thấy, tùy vào điều kiện, quan hệ và lĩnh vực cụ thể mà người ta xác
định loại hình và các mức độ của phản biện, đưa ra những cách hiểu về phản biện.
Dưới góc độ chính trị học, tôi đồng tình với cách hiểu về phản biện như sau:
Là một phạm trù triết học chính trị dùng để chỉ sự nhận xét, khẳng định và
phê phán của một cá nhân hoặc tổ chức đối với tất cả các quan điểm, chủ trương,
chính sách của một cá nhân hay tổ chức khác. Đó là hoạt động đưa ra các lập luận,
chứng cứ, phân tích, đánh giá về một vấn đề nào đó mang tính góp ý, bổ sung, đặt
lại vấn đề hoặc phản bác một phần hoặc cả dự án, cả quyết định hay công trình nào
đó [40, tr.16]
Phản biện nói chung không phân biệt lĩnh vực và không giới hạn đối tượng
phản biện. Chúng ta có thể cụ thể hóa hoạt động phản biện đối với bất kỳ vấn đề gì,
với bất kỳ ai. Đó là sự phủ định của phủ định nhằm đạt tới chân lý của tri thức con
người trong đời sống nhân loại [40, tr.17]
Phản biện xã hội là hoạt động phổ biến trong xã hội hiện đại. Ở nước ta,
phản biện xã hội là hoạt động đã tồn tại trong nhiều năm dù chúng ta chưa gọi tên
nó là “phản biện xã hội”. Cho đến Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng,
khái niệm “phản biện xã hội” mới được chính thức ghi nhận trong Văn kiện Đảng.
Nói về phản biện xã hội, cũng có rất nhiều quan niệm khác nhau, chủ yếu
được xây dựng trên cơ sở nội hàm khái niệm phản biện. Tuy nhiên, có thể thấy,
ích của các đối tượng chịu sự tác động của quyết sách chính trị [7, tr.19]
Tác giả Nguyễn Thọ Ánh nêu ngắn gọn:
Phản biện xã hội là hoạt động của một chủ thể xã hội dùng các luận chứng
khoa học để nhận xét, đánh giá, nêu quan điểm để cơ quan có thẩm quyền xem xét
khi ban hành các quyết sách chính trị [1, tr.36]
Nhưng cũng cần lưu ý rằng, thực chất của hoạt động lãnh đạo, quản lý, điều
hành của các chủ thể quyền lực là ban hành các quyết sách chính trị. Quá trình này
bao gồm cả khâu dự thảo và điều chỉnh (sửa đổi, bổ sung) các quyết sách chính trị.
Vì vậy, phản biện xã hội bao hàm cả quá trình khởi thảo, hoạch định lẫn quá trình
xem xét, đánh giá và đề xuất quan điểm, ý kiến trong quá trình thực thi các quyết
sách chính trị.
Các quan niệm về phản biện xã hội nêu ra trên đây hầu như đều giới hạn hoạt
động phản biện xã hội trong quá trình hoạch định và tổ chức thực thi các quyết sách
chính trị, bao gồm chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật, chương
trình, kế hoạch, dự án, đề án, các biện pháp điều hành của Nhà nước. Phản biện xã
hội là phản biện đối với chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Nếu vậy,
phản biện xã hội vô hình chung đã trở thành phản biện chính sách, đơn thuần trở
thành một khâu trong chu trình chính sách. Do đó, nên chăng, quan niệm về phản
biện xã hội cần được mở rộng hơn: không chỉ được tiến hành đối với chủ trương,
chính sách của Đảng và Nhà nước mà còn bao hàm cả công tác tổ chức và cán bộ,
bao hàm tất cả những hành vi, hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm
17
quyền. Phản biện xã hội là phản biện đối với tất cả những vấn đề thuộc về các chủ
thể thực thi quyền lực của nhân dân có liên quan đến lợi ích chung của xã hội, đến
quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân.
Khi phản biện, người phản biện phải hội tụ đầy đủ các luận cứ thực tiễn,
khoa học. Mục đích của phản biện xã hội là bằng những căn cứ khoa học và thực tiễn
Dư luận xã hội:
18
Dư luận xã hội có thể hiểu là tập hợp ý kiến, thái độ có tính chất đánh giá,
bình luận của xã hội nói chung đối với những vấn đề có tính chất thời sự liên quan
đến lợi ích chung, thu hút sự quan tâm của nhiều người và được thể hiện trong các
nhận định hoặc các hành động thực tiễn của họ.
Phản biện xã hội và dư luận xã hội đều thể hiện dưới những ý kiến đánh giá,
nhận xét của các nhóm xã hội đối với những vấn đề nhất định trong đời sống xã hội.
Tuy nhiên dư luận xã hội có thể nảy sinh đối với tất cả những gì liên quan đến lợi
ích cộng đồng; còn phản biện xã hội theo nghĩa cụ thể chỉ hướng tới những hoạt
động của lực lượng lãnh đạo và quản lý xã hội.
Dư luận xã hội thể hiện tính quần chúng rộng lớn và thường nghiêng về các
giá trị đạo đức, văn hóa - xã hội chung của cộng đồng. Trong khi đó, phản biện xã
hội mang ý nghĩa chuyên môn khoa học về những lĩnh vực đặc thù.
Dư luận xã hội thường chú trọng đến việc bày tỏ thái độ (tán đồng hoặc phản
đối) của công chúng trước sự kiện; còn phản biện xã hội nghiêng về phân tích, lập
luận, dựa trên cơ sở khoa học và thực tiễn để đưa ra nhận định khách quan, nhằm tư
vấn cho các cơ quan công quyền.
Phản biện khoa học là loại hình phản biện được thực hiện khi tiến hành
nghiệm thu các công trình nghiên cứu khoa học. Phản biện khoa học và phản biện
xã hội đều đòi hỏi tính khách quan, khoa học, nhưng nội dung, mục tiêu, cơ chế
hoạt động khác nhau.
Phản biện khoa học nhằm vào các phát minh, sáng kiến khoa học. Phản biện
xã hội nhằm vào các quyết sách chính trị, các hành vi chính trị.
Mục đích của phản biện khoa học là khẳng định tính đúng đắn của các lý
thuyết, phát minh khoa học, đảm bảo hành động phù hợp với quy luật khách quan
của tự nhiên và xã hội.
chủ thể khác nhau, và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là một trong số đó. Nhưng Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam là chủ thể phản biện xã hội đặc biệt quan trọng. Tuy phản
biện xã hội có thể được thực hiện bằng nhiều cách, nhưng để phản biện diễn ra một
cách chuyên nghiệp và khoa học, nhất thiết phản biện phải được thực hiện trong
một tổ chức nhất định và những ý kiến phản biện cần phải được thống nhất từ trong
những tổ chức đó trước khi đưa ra công khai đối thoại với Nhà nước. Ở Việt Nam,
tổ chức được Đảng và Nhà nước giao nhiệm vụ tổ chức thực hiện phản biện xã hội
chính là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Là tổ chức lớn nhất của đông đảo quần chúng nhân dân, nên chỉ có Mặt trận
Tổ quốc mới có thể thực hiện tốt công việc phản biện, giúp Đảng và Nhà nước
chống tham nhũng, chống đói nghèo, chống tụt hậu có hiệu quả và làm trong sạch
bộ máy nhà nước [40, tr.88]
Nói về phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc, theo các tác giả Thang Văn
Phúc, Nguyễn Minh Phương, trong cuốn “Đổi mới tổ chức và hoạt động của Mặt
trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội ở nước ta hiện nay” thì đây là hoạt
động “yêu cầu Mặt trận đứng ở vị trí người dân để bình luận, nhận xét, đánh giá quá
trình hoạch định và thực thi các chủ trương, chính sách, pháp luật liên quan đến lợi
ích của người dân [32, tr.356]
Còn theo tác giả Trần Ngọc Nhẫn thì phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc là:
Việc góp ý của Mặt trận đối với dự thảo đường lối, chủ trương của Đảng,
chính sách, pháp luật của Nhà nước liên quan đến quyền và nghĩa vụ cơ bản của
20
người dân; đến tổ chức và cán bộ; đến quyền và trách nhiệm của Mặt trận và các tổ
chức chính trị - xã hội để khẳng định tính đúng đắn của dự thảo, đồng thời kiến nghị
những điểm sơ hở, thiếu sót để sửa đổi, bổ sung cho phù hợp. Các cơ quan, tổ chức,
cá nhân có thẩm quyền có trách nhiệm xem xét, tiếp thu và trả lời chủ thể phản biện
xã hội nhằm góp phần đảm bảo cho các chủ trương, chính sách, pháp luật khi được
đối với việc hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách, quyết định lớn của Đảng
21