BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
PHÙNG THỊ NGỌC YẾN
GIÁM SÁT VÀ PHẢN BIỆN XÃ HỘI CỦA MẶT
TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM TRONG QUẢN LÝ
HÀNH CHÍNH NHÀ NƢỚC
Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số: 60 38 01 02
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. HOÀNG QUỐC HỒNG
HÀ NỘI - 2016
LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên¸ tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc đến TS
Hoàng Quốc Hồng - Ngƣời đã nhiệt tình hƣớng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ tôi
trong suốt quá trình viết luận văn. Và tôi cũng xin chân thành cảm ơn các thầy
cô giáo trƣờng Đại học Luật Hà Nội đã trang bị cho tôi những kiến thức, cách
nghiên cứu, giúp tôi có thể hiểu và xử lý đề tài một cách phù hợp nhất với khả
năng của mình. Luận văn này là kết quả phản ảnh một phần kiến thức chuyên
ngành mà tôi đã tiếp nhận, tích lũy từ các thầy cô dƣới mái trƣờng Đại học
: Mặt trận Tổ quốc
: Phản biện xã hội
Mục lục
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
CHƢƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIÁM SÁT VÀ PHẢN
BIỆN XÃ HỘI CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM TRONG
QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƢỚC
. .......................................................................................................................... 8
1.1. Khái niệm giám sát và phản biện xã hội của MTTQ Việt Nam trong hoạt
động quản lý hành chính nhà nƣớc. .................................................................. 8
n m
qu n lý
un v
n mv
n
ín n
ms tv p n
n
ủ
t
3 3 P ân
t
ms t ủ
t
m vớ
ms t ủ
tổ ứ
ín trị , tổ ứ
ín trị -n
n
pv
tổ ứ
k
........................................................................................................... 31
3 4 P ân
t oạt đ n p n
n
ủ
t
mv
tổ
ứ
n
n
p ................................................................................. 33
CHƢƠNG II: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ HOẠT ĐỘNG GIÁM
SÁT , PHẢN BIỆN XÃ HỘI CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM
TRONG QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƢỚC TA HIỆN NAY ........ 35
2.1. Quy định của pháp luật về giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận tổ
ạn ế tron oạt đ n
ms tv p n n
t m ...................................................................... 61
CHƢƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ
GIÁM SÁT VÀ PHẢN BIỆN XÃ HỘI CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC
TRONG QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƢỚC. ................................... 65
3.1. Xây dựng, hoàn thiện các quy định của pháp luật về giám sát và phản
biện xã hội trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nƣớc ................................ 65
3.2. Đổi mới tổ chức và hoạt động của MTTQ Việt Nam nhằm đáp ứng yêu
cầu tăng cƣờng hiệu quả giám sát, phản biện xã hội trong hoạt động quản lý
hành chính nhà nƣớc. ...................................................................................... 69
3
ân
ín trị -
o tr
n m ủ
tron ôn t
ặt trận ổ quố
ms tv p n
t
n
mv
tổ ứ
ấp ........ 71
tron
ms t
nướ ........... 73
KẾT LUẬN .................................................................................................... 75
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Quyền lực nhà nƣớc thuộc về nhân dân, vì vậy, nhân dân có quyền kiểm
tra, giám sát hoạt động của các cơ quan, ngƣời thực hiện quyền lực nhà nƣớc,
phản biện dự thảo các văn bản về chủ trƣơng của Đảng, chính sách pháp luật
của Nhà nƣớc nhằm hạn chế sự tùy tiện, lạm dụng và vi phạm pháp luật.
Trong quá trình xây dựng nhà nƣớc pháp quyền, thực thi dân chủ thì giám sát
và phản biện xã hội có ý nghĩa quan trọng.
Mặt trận tổ quốc có chức năng quan trọng hàng đầu, đó là giám sát và
phản biện xã hội. Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X của Đảng đã
khẳng định vai trò quan trọng của Mặt trận tổ quốc, đó là:
“ ặt trận ổ quố
trọn tron v
đạ d n
t
ủ Đ n ,
nướ
trò
sốn , óp p ần ây dựn sự đồn t uận tron
ơ
ế để
ms tv p n
ặt trận v
n
đo n t ể n ân dân t ự
”
Giám sát và phản biện xã hội đã trở thành một chủ trƣơng lớn của Đảng
từ Đại hội X, đại hội XI tiếp tục kế thừa quan điểm đó. Chủ trƣơng này đã
đƣợc thể chế trong Hiến pháp. Điều 9 Hiến pháp 2013 quy định:
“ ặt trận ổ quố
dân; đạ d n,
t
ml
ơ sở
o v quy n v lợ í
m
ây
nướ , oạt đ n đố n oạ n ân dân óp p ần ây dựn v
ổ quố ”
Đến nay, chức năng phản biện xã hội đã đƣợc cụ thể hóa thành quy chế
trong Quy chế giám sát và phản biện xã hội năm 2013. Thực hiện tốt vai trò
1
giám sát và phản biện sẽ góp phần củng cố chính quyền nhân dân, bảo vệ nhà
nƣớc pháp quyền Xã hội chủ nghĩa. Nhƣ vậy, chức năng giám sát và phản
biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đƣợc khẳng định nhất quán trong
văn kiện cao nhất của Đảng và trở thành mục tiêu, phong trào, hành động
thực tế của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Tuy nhiên, thực tiễn thực hiện hoạt động giám sát và phản biện xã hội
của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong nhiều năm qua cho thấy hiệu quả giám
sát còn chƣa cao, Mặt trận chƣa phát huy triệt để vai trò trong việc nâng cao
quyền làm chủ của nhân dân. Phản biện xã hội thậm chí phải đến Hiến pháp
2013 mới đƣợc hiến định. Trong tình hình dân chủ hóa, xuất phát từ nguyên
tắc quyền lực nhà nƣớc thuộc về nhân dân, giám sát và phản biện xã hội của
Mặt trận tổ quốc là đòi hỏi cấp bách và tất yếu. Trên cơ sở đó xây dựng nền
hành chính trong sạch, tinh gọn và thuận tiện, tránh thực trạng mất dân chủ,
cửa quyền, lạm quyền, quan liêu.
Với những lý do trên và xuất phát từ mong muốn góp thêm một góc
nhìn khoa học đối với hoạt động giám sát và phản biện xã hội, tác giả chọn
vữn mạn năm 2009 do ThS. Nguyễn Văn Pha làm chủ nhiệm; Đề tài Đổ
2
mớ tổ
ứ ,n
tổ
ứ
dun v p ươn t ứ
ín trị -
p t tr ển dân
v
ủ
ủn ĩ ở
oạ
Xuân Hằng;
ủ
ủ
oạt đ n
ủ
n
ms t
t ốn
thạc sĩ luật học: ân
oạt đ n lập p p ủ
ơ
ế
n n y do ThS. Nguyễn Lam làm chủ
nhiệm, Hà Nội năm 2012; đề tài khoa học cấp Nhà nƣớc: C
p pt ự
n
m của ThS. Nguyễn Thanh Bình, Tạp chí
Nghiên cứu lập pháp, số 13/2010; Đề tài khoa học cấp bộ: Xây dựn
p n
ỹ năn
t
m
u qu
ủ p n
n
tron
n n y của Trƣơng Thị Ngọc Lan,
Trƣờng Đại học Luật Hà Nội; sách P n
n
- âu ỏ đặt r từ u
sốn của Trần Đăng Tuấn, Nxb Đà Nẵng, 2006; ...
- Luận án Tiến sĩ và Luận văn Thạc sĩ, Luận án Tiến sĩ Chính trị học:
“Thực hiện chức năng giảm sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam hiện nay” của Nguyễn Thọ Ánh (2010), Luân văn Thạc sĩ Luật:
“Giám sát xã hội đối với quyền lực Nhà nước ở Việt Nam” của Nguyễn
Long Hải (2006), Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh; Luận văn Thạc
sĩ : “Giám sát của Mặt trận Tổ quốc trong quản lý hành chính nhà nước ở
nước ta hiện nay” của Hồ Nam (2012).
Bên cạnh đó còn có một số bài viết đăng tải trên các tạp chí chuyên
ngành nhƣ “Quan niệm về giám sát việc thực hiện quyền lực Nhà nƣớc và
Việt Nam đối với hoạt động quản lý hành chính nhà nƣớc; trên cơ sở đó, đề
xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả giám sát và phản biện của Mặt trận đối
với hoạt động quản lý hành chính nhà nƣớc.
- Nhiệm vụ:
Luận văn tập trung giải quyết một số vấn đề sau:
4
Nghiên cứu làm rõ khái niệm, nội dung, vai trò giám sát và phản
biện của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với hoạt động quản lý hành
chính Nhà nƣớc.
Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động giám sát và phản biện
của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với hoạt động quản lý hành chính nhà
nƣớc, làm rõ những hạn chế, nguyên nhân và những vấn đề đặt ra cần giải
quyết.
Đề xuất quan điểm và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động
giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với hoạt động quản lý hành
chính nhà nƣớc.
4. Phạm vi nghiên cứu của luận văn
Giám sát và phản biện của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với hoạt
động quản lý hành chính nhà nƣớc vừa phản ánh bản chất của nhà nƣớc, vừa
là chức năng, nhiệm vụ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đƣợc ghi nhận trong
quan điểm, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nƣớc. Hoạt động quản lý
hành chính nhà nƣớc là hoạt động có vị trí trung tâm, chủ yếu trong hoạt động
quản lý nhà nƣớc nói chung, đồng thời chính là hoạt động thực thi quyền hành
pháp của hệ thống cơ quan hành chính nhà nƣớc. Để làm rõ vấn đề này, đề tài
sẽ đi sâu nghiên cứu hoạt động giám sát và phản biện xã hộicủa Mặt trận Tổ
quốc ở cả Trung ƣơng và địa phƣơng, từ đó đề ra đƣợc những giải pháp nhằm
nâng cao hơn nữa hiệu quả của hoạt động này.
trận Tổ quốc Việt Nam, đặc biệt là hoạt động giám sát và phản biện đối với
hoạt động quản lý hành chính nhà nƣớc, tăng cƣờng hiệu lực, hiệu quả giám
sát của nhân dan, khắc phục những hạn chế, bất cập trong hoạt động thực tiễn
thời gian qua.
- Đồng thời luận văn cũng có thể dùng làm nguồn tài liệu tham khảo
phục vụ nghiên cứu, công tác giảng dạy, làm tài liệu cho các cán bộ Mặt trận
và tổ chức đoàn thể trong hoạt động giám sát và phản biện xã hội, tổng kết
thực tiễn hoạt động giám sát và phản biện của nhân dân đối với hoạt động
quản lý hành chính nhà nƣớc.
7. Kết cấu của luận văn
6
Luận văn bao gồm các phần: Mục lục; Mở đầu; Nội dung; Kết luận; Danh
mục tài liệu tham khảo; Phụ lục. Trong đó, phần nội dung chính gồm 3
chƣơng:
CHƢƠNG I
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIÁM SÁT VÀ PHẢN BIỆN
XÃ HỘI CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM TRONG QUẢN LÝ
HÀNH CHÍNH NHÀ NƢỚC
CHƢƠNG II
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT,
PHẢN BIỆN CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM TRONG HOẠT
ĐỘNG QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƢỚC HIỆN NAY
CHƢƠNG III
MỘT SỐ ĐỀ XUẤT NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIÁM SÁT VÀ
PHẢN BIỆN XÃ HỘI CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM
TRONG QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƢỚC.
oạt đ n
ủ đố tượn
ế n ằm đạt đượ mụ đí ,
o p p luật đượ tuân t eo n
đ n
êm
ằn
ịu sự
u qu đ
ỉn "
Mặc dù các định nghĩa trên là không đồng nhất, tuy nhiên có thể nhận
thấy một điểm chung đó là, các tác giả đều cho rằng giám sát là theo dõi,
kiểm tra việc thực hiện một công việc nào đó trong cuộc sống hoặc một
nhiệm vụ nào đó của cơ quan Nhà nƣớc và thông qua giám sát chủ thể có
quyền kiểm tra tới các đối tƣợng khi thực hiện hoạt động. Trong lĩnh vực luật
pháp thì giám sát là hoạt động của một chủ thể có thẩm quyền tác động đến
các đối tƣợng chịu sự giám sát để đảm bảo cho hoạt động của những đối
tƣợng đó phải nghiêm chỉnh tuân theo pháp luật trong việc thực hiện chức
8
vì đƣợc pháp luật quy định. Mục đích của chủ thể giám sát đối với đối tƣợng
giám sát cùng hƣớng tới là trạng thái hoạt động bình thƣờng, thông suốt, đúng
pháp luật của các cơ quan, tổ chức, cá nhân. Chủ thể giám sát phải khách
quan độc lập với đối tƣợng giám sát.
G ms t ủ
t Nam
“ ặt trận ổ quố
dân; đạ d n,
t
ml
ơ sở
o v quy n v lợ í
ín trị ủ
ợp p p,
ín quy n n ân
ín đ n
ủ
tập ợp, p t uy sứ mạn đạ đo n kết to n dân t , t ự
ế” thay cho cơ chế “đố trọn ” trong hệ
9
thống chính trị. Thực hiện vai trò của yếu tố “k m
ế” nhằm kiểm soát
quyền lực, tránh xu hƣớng lạm quyền, vi phạm nền dân chủ, đòi hỏi MTTQ
phải thực hiện tốt chức năng giám sát và phản biện xã hội của mình. Với chức
năng, nhiệm vụ, quyền hạn đƣợc quy định cụ thể do luật định, có thể khẳng
định MTTQ Việt Nam là một trong những hình thức tổ chức thích hợp nhất
để thực hiện quyền giám sát của nhân dân đối với hoạt động của các cơ quan
Nhà nƣớc, đại biểu dân cử và cán bộ công chức nhà nƣớc.
Qua phân tích có thể rút ra định nghĩa về giám sát của MTTQ nhƣ sau:
“G m s t ủ
t
em ét tín
ợp lý, ợp p p tron
qu n
n
ín n
n
Theo cách hiểu thông thƣờng, phản biện là sự tranh luận với ngƣời đã có
quan điểm, ý tƣởng nào đó để làm rõ các vấn đề phải trái, đúng sai.
-Trong cuốn Đại từ điển tiếng Việt, “p n
đ n
n” đƣợc hiểu là “v
ất lượn …”
Theo Từ điển bách khoa Việt Nam thì phản biện đƣợc hiểu là:
“v
đư r
n ận ét, đ n
v m t ôn trìn k o
n, luận văn, k ó luận oặ kết qu n
ôn trìn n
ên ứu)
t ết v ý n ĩ
un l đạt
ườ ( y ơ qu n) p n
ùn đ n
y k ôn đạt n ữn yêu ầu đ r , ếp loạ ”
Về phƣơng diện ngữ nghĩa, p n là phê phán cái đã có,
luận, phản biện là tr n luận n ượ lạ . Nhƣ vậy, p
n ữn ý k ến ó trướ
ằn lập luận t eo
n
n là có lập
n l tr n luận vớ
u n ượ lạ . Vì vậy, nó có giá
trị phát hiện sai trái và phê phán những sai trái đó một cách có lập luận.
10
Phản biện là một hoạt động không chỉ diễn ra trong nghiên cứu khoa
học mà còn là một trong các hoạt động không thể thiếu của đời sống xã
hội. Chính vì vậy, trong bất cứ lĩnh vực nào mà con ngƣời tham gia hoạt
động đều có thể thấy sự xuất hiện của hoạt động này. Tuy nhiên, đối với
từng lĩnh vực khác nhau, hoạt động phản biện cũng có những sự khác biệt
nhất định cả về mặt nội dung, hình thức và chủ thể phản biện. Đối với
những vấn đề mang tính chất chung, liên quan đến lợi ích của toàn xã hội
v lợ í
n n ữn đ ểm
ín đ n
ủ
nướ ,
ư
ín
,
ủ n ân dân để k ến
ó t ẩm quy n em ét sử đổ , ổ sun
o p ù ợp”
PGS.TS Nguyễn Văn Động cho rằng, PBXH là: “sự p n ứn m n tín
p ủ địn trên t n t ần ây dựn , óp ý ủ
luật ủ
đố vớ
ín s
,p p
một số khái niệm khác mà trong nội hàm của nó có một số điểm tƣơng đồng
với khái niệm PBXH nhƣ phản biện khoa học, phản đối, dƣ luận xã hội.
Từ sự phân tích trên, có thể hiểu PBXH theo nghĩa rộng là sự phản biện
của xã hội (sự phản biện mang tính xã hội, do nhiều chủ thể thực hiện) Phản
biện xã hội là sự biện luận, thẩm định, đánh giá của các lực lƣợng xã hội đối
với những chủ trƣơng, chính sách, đề án, dự án xã hội liên quan đến quyền, lợi
ích của thành viên trong xã hội.
-Nhƣ vậy có thể hiểu: P n
đố vớ
đ r ,t ể
ủ trươn ,
dân
ủ
ín s
l sự p n n
ủ
v
n ở
, p ân tí
ủ t ể p n
đến ơ qu n ó t ẩm quy n, ó t
sách pháp luật làm cho chính sách pháp luật hoàn chỉnh hơn, phản ánh đƣợc
tâm tƣ nguyện vọng, ý chí của con ngƣời trong tổ chức. Nếu không có phản
biện có nghĩa là chủ trƣơng, chính sách, pháp luật đƣợc ban hành sẽ không
hợp lý. Trƣờng hợp này, nếu xảy ra sẽ dẫn đến hành động, chủ trƣơng, chính
sách pháp luật của chủ thể sẽ không cần tính đến sự xác nhận của xã hội về sự
12
phù hợp, tính đúng đắn. PBXH là một khái niệm chính trị, là biểu hiện đặc
trƣng chuyên nghiệp nhất của đời sống dân chủ.
Trong mỗi một xã hội bao giờ cũng có nhiều nhóm lợi ích khác nhau.
Các nhóm lợi ích bao giờ cũng có nhu cầu tiến hành hành động vì một mục
tiêu nào đó. Nhƣng trên mỗi khía cạnh hay mỗi lĩnh vực của đời sống con
ngƣời bao giờ cũng có những cách lý giải khác nhau và do đó có những cách
hành động khác nhau để đạt đƣợc mục tiêu. PBXH tạo ra một giai đoạn đệm
cho quá trình hành động tự nhiên của các nhóm lợi ích, đó là giai đoạn thảo
luận và thỏa thuận. Thông qua phản biện làm cho các hành vi chính trị, kinh
tế và xã hội trở nên ít chủ quan hơn, tức là các ý kiến khác nhau của các nhóm
lợi ích đã đƣợc điều chỉnh thông qua thảo luận và thỏa thuận. Nói cách khác,
PBXH làm cho những ý kiến chƣa đồng thuận trên thực tế trở thành cuộc
tranh luận mang tính xây dựng dựa trên cơ sở khoa học và theo các trình tự
nhất định.
Đảng, Nhà nƣớc cũng nhƣ tƣ tƣởng Hồ Chí Minh luôn xác định nhân
dân là gốc. Vì vậy, hầu hết những chủ trƣơng, chính sách trong khi xây
dựng trƣớc đây đều đƣợc hỏi ý kiến nhân dân. Đây cũng là một hình thức
nắm bắt thông tin phản hồi của nhân dân để xây dựng chính sách pháp luật
phù hợp với nguyên vọng của nhân dân. Hoạt động này là phù hợp với một
giai đoạn lịch sử khi mà trình độ văn hóa, dân trí chƣa cao. Ngày nay, phản
biện là tranh luận một cách khoa học để đi đến một chân lý khách quan. So
oạt đ n qu n lý
n
ín
nướ
-Pháp luật quy định phạm vi giám sát của MTTQ tƣơng đối rộng, Theo
quy định của Hiến pháp và pháp luật, phạm vi đối tƣợngng chịu sự giám sát là
toàn thể “Các cơ quan, tổ chức từ Trung ƣơng đến cơ sở; Cán bộ, đảng viên,
đại biểu dân cử, công chức,viên chức nhà nƣớc”, trong đó có cơ quan hành
chính nhà nƣớc và cán bộ, công chức hoạt động trong cơ quan đó. Ở đây
trọng tâm chỉ nghiên cứu tới giám sát của MT đối với cơ quan hành chính nhà
nƣớc. Giám sát của MTTQ là hoạt động giám sát toàn diện. Đối tƣợng giám
sát là các cơ quan hành chính và hoạt động thực hiện nhiệm vụ, công vụ của
cán bộ, công chức trong cơ quan hành chính. Nhà nƣớc có trách nhiệm tạo
điều kiện để MTTQ giám sát hoạt động của mình. Có thể hiểu:
Giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với hoạt động quản lý
hành chính nhà nƣớc là hoạt động của Mặt trận Tổ quốc theo dõi, quan sát,
xem xét tính hợp lý, hợp pháp trong hoạt động của cơ quan hành chính nhà
nƣớc, hoạt động của cán bộ, công chức nhà nƣớc trong việc chấp hành, thực
hiện pháp luật trong quản lý xã hội đồng thời kiến nghị giải quyết xử lý
những vấn đề nảy sinh có liên quan
-Từ định nghĩa trên, có thể hiểu giám sát của MTTQ Việt Nam trong
quản lý hành chính nhà nƣớc có những đặc trƣng sau: .
+ Hoạt đ n
n
gồm quyền, trách nhiệm giám sát của các tổ chức thành viên. MTTQ Việt
Nam hiện có 46 tổ chức thành viên, trong đó Đảng Cộng sản Việt Nam vừa là
thành viên, vừa là hạt nhân lãnh đạo. Khi thực hiện vai trò giám sát của mình,
MTTQ nói chung và các tổ chức thành viên nói riêng tuân theo nguyên tắc
bảo đảm phát huy dân chủ, sự tham gia của Nhân dân, thành viên của Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam; xuất phát từ yêu cầu, nguyện vọng của Nhân dân;
thực hiện công khai, minh bạch, không chồng chéo; không làm cản trở hoạt
động của cơ quan, tổ chức, cá nhân đƣợc giám sát. (Điều 25 Luật MTTQ
2015).
Tuy nhiên, mỗi tổ chức thành viên của Mặt trận đều là những tổ chức
độc lập đƣợc tổ chức và hoạt động độc lập theo điều lệ của tổ chức mình, do
đó các tổ chức thành viên của Mặt trận ngoài việc thực hiện quyền giám sát
chung của mình thông qua Mặt trận. Ngoài ra các tổ chức thành viên của
MTTQ còn thực hiện việc giám sát độc lập. Điều 10 Hiến pháp 2013 quy
định cho Công đoàn có chức năng tham gia “
n
nướ , đơn vị, do n n
m s t oạt đ n
ủ
ơ qu n
p v n ữn vấn đ l ên qu n đến quy n, n ĩ
vụ ủ n ườ l o đ n ”
Giám sát của MTTQ Việt Nam đối với hoạt động quản lý hành chính nhà
ứ tron
ơ qu n
n
ín n
nướ
trong các cơ quan hành chính nhà nƣớc là đội ngũ chủ yếu thực hiện
công vụ, nhiệm vụ và nhờ các hoạt động này mà chức năng quản lý hành
chính nhà nƣớc đƣợc triển khai trên thực tế. Trong quá trình tổ chức thực hiện
pháp luật không tránh khỏi có những hành vi vi phạm pháp luật ảnh hƣởng
đến quyền lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức. do vậy, giám sát thƣờng
xuyên của MTTQVN giúp cơ quan hành chính phát hiện, và xử lý kịp thời,
thông qua đó chấn chỉnh hoạt động của đội ngũ này, giảm thiểu hoạt động trái
pháp luật.
- Về nội dung và hình thức giám sát
Là một trong những chủ thể của giám sát nhân dân, nội dung và hình
thức giám sát của MTTQ Việt Nam rất phong phú và đa dạng.
+Nội dung giám sát của MTTQ Việt Nam đối với hoạt động quản lý
hành chính nhà nƣớc, bao gồm giám sát quá trình thành lập các cơ quan hành
chính của bộ máy nhà nƣớc; giám sát đối với hoạt động của các cơ quan chấp
hành, điều hành hay còn gọi là hệ thống cơ quan hành chính nhà nƣớc, nắm
16
giữ quyền hành pháp trong nhà nƣớc, trực tiếp quản lý các lĩnh vực của đời
Hoạt động giám sát của MTTQ Việt Nam đƣợc thực hiện ở cả 4 cấp
hành chính. Những quy định trong Hiến pháp chính là tiền đề, là cơ sở pháp
lý cần thiết cho việc hiện thực hóa giám sát của MTTQ đối với hoạt động của
bộ máy nhà nƣớc nói chung và cơ quan hành chính nhà nƣớc nói riêng ở nƣớc
ta hiện nay.
1.1.2.2.
n mp n
n
ủ
tron qu n lý
n
ín n
nướ
Nhƣ vậy, PBXH của MTTQ Việt Nam ngoài những yếu tố mang tính
truyền thống thì hiện nay hoạt động giám sát đƣợc “luật ó ” hóa từ chủ
trƣơng đƣờng lối chính sách của Đảng. Nói cụ thể PBXH của MTTQ đƣợc
ghi nhận trong đƣờng lối chủ trƣơng, chính sách của Đảng đã đƣợc thể chế
hóa thành luật làm cơ sở pháp lý cho hoạt động phản biện của MTTQ. Quyền
phản biện của MTTQVN là một nội dung quản trọng làm cơ sở pháp lý cùng
với các yếu tố khác tạo nên cơ chế phản biện của MTTQ Việt Nam và các
Theo các quy định hiện hành thì MTTQ Việt Nam cùng các đoàn thể
chính trị xã hội là Công đoàn Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Hội Liên
18
hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Đoàn Thanh niên
Cộng sản Hồ Chí Minh là chủ thể đóng vai trò chủ yếu trong PBXH. Việc quy
định này dựa trên cơ sở MTTQ Việt Nam vừa có tính riêng là một chủ thể vừa
có tính chung là bao hàm các tổ chức thành viên của Mặt trận. MTTQ Việt
Nam gồm hệ thống các thành viên trên khắp cả nƣớc là tổ chức có ƣu thế về
tính xã hội rộng rãi, tổ chức đến từng khu dân cƣ trên toàn quốc. Cùng với
MTTQ Việt Nam, các đoàn thể chính trị - xã hội cũng là những chủ thể tiến
hành PBXH đối với các chủ trƣơng, chính sách của Đảng và Nhà nƣớc có liên
quan trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của đoàn viên, hội viên, tổ chức,
hoạt động, chức năng, nhiệm vụ của đoàn thể mình. Các cơ quan này cũng
phối hợp với MTTQ Việt Nam trong quá trình thực hiện nhiệm vụ PBXH.
Các đoàn thể chính trị - xã hội là các tổ chức tập hợp nhiều tầng lớp, đối
tƣợng, thành phần khác nhau trong xã hội. Chính vì vậy, những ý kiến phản
biện của loại chủ thể này đối với xã hội cũng mang tầm ảnh hƣởng nhất định,
phản ánh tâm tƣ, nguyện vọng, quyền lợi của nhiều bộ phận cƣ dân trong xã
hội. Ngoài việc tham gia góp ý kiến vào dự thảo các chủ trƣơng của Đảng,
chính sách, pháp luật của Nhà nƣớc nói chung, hoạt động quản lý hành chính
nói riêng. Các chủ thể tiến hành PBXH còn tiến hành phản biện đối với các
hoạt động quản lý hành chính cụ thể, mang tính chất chuyên ngành khi đi sâu
vào việc thẩm định những chƣơng trình, dự án, công trình, hoặc phản biện
gắn với tƣ vấn, giám sát các dự án chuyên ngành.
Hiểu theo nghĩa rộng, chủ thể tiến hành phản biện rất đa dạng, đó là
toàn thể xã hội nói chung. Ngoài MTTQ Việt Nam và các đoàn thể chính
trị - xã hội, các tổ chức xã hội, các tầng lớp nhân dân, cá nhân, các chuyên