Tên đề tài:
THỰC HIỆN CHỨC NĂNG GIÁM SÁT XÃ HỘI CỦA MẶT
TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM TẠI HUYỆN HÀM YÊN TỈNH
TUYÊN QUANG
2
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 8
CHỨC NĂNG GIÁM SÁT XÃ HỘI CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC 8
VIỆT NAM - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN 8
1.1 Vị trí, vai trò của mặt trận tổ quốc trong hệ thống chính trị 8
1.2 Giám sát xã hôi và chức năng giám sát xã hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
16
Chương 2 31
THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG QUÁ TRÌNH
THỰC HIỆN CHỨC NĂNG GIÁM SÁT XÃ HỘI CỦA MẶT TRẬN TỔ
QUỐC VIỆT NAM Ở HUYỆN HÀM YÊN HIỆN NAY 31
2.1 Khái quát huyện Hàm Yên và Tổ chức bộ máy Mặt trận Tổ quốc huyện.31
2.2 Thực trạng hoạt động giám sát xã hội Mặt trận tổ quốc huyện Hàm Yên
hiện nay 41
2.3 Những vấn đề đặt ra trong quá trình thực hiện chức năng giám sát xã hội
của Mặt trận Tổ quốc Huyện 67
Chương 3 71
QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM NÂNG CAO CHỨC
NĂNG GIÁM SÁT XÃ HỘI CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM
HUYỆN HÀM YÊN 71
3.1 Các quan điểm nhằm nâng cao hiệu quả chức năng giám sát xã hội Mặt
trận Tổ quốc huyện Hàm Yên 71
3.2 Những giải pháp chủ yếu nhằm đảm bảo thực hiện chức năng giám sát xã
hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam huyện Hàm Yên hiện nay 76
dựng, tập hợp khối đại đoàn kết dân tộc, phát huy quyền làm chủ của nhân dân,
nâng cao năng lực, sức chiến đấu của Đảng, xây dựng nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân…
Trong thời gian qua, hoạt động giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam (MTTQVN) đã đạt được một số thành tựu nhất định, như:
Tổng hợp ý kiến, kiến nghị của hội viên, đoàn viên, thành viên và nhân dân để
kiến nghị với các cơ quan tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét, giải quyết
những yếu kém trong xây dựng và thực thi pháp luật, những sai sót trong quản
2
lý, điều hành, thực thi nhiệm vụ của các cơ quan có thẩm quyền, gây phiền hà và
thiệt hại cho dân; thực hiện giám sát thông qua Ban Thanh tra nhân dân cấp xã,
từ đó phát hiện ra những sai sót, yếu kém và kiến nghị với cơ quan có thẩm
quyền cơ sở khắc phục những sai sót, yếu kém đó.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, hoạt động giám sát của
MTTQVN cũng có những hạn chế nhất định, chất lượng và hiệu quả hoạt động
giám sát của Mặt trận còn thấp, chưa đáp ứng mong đợi và những đòi hỏi của
nhân dân. Hoạt động giám sát của Mặt trận trong thực tế còn hình thức, hiệu quả
pháp lý chưa cao, chủ yếu mới thể hiện qua các phát hiện, nêu ý kiến nhẹ nhàng
tại các kỳ họp, phiên họp của các cơ quan, tổ chức thuộc đối tượng giám sát,
chưa có phương thức giám sát đúng nghĩa, chưa được quan tâm thực hiện
thường xuyên, liên tục. Đặc biệt chức năng giám sát của MTTQ cấp huyện còn
nhiều thiếu sót, dẫn tới nhiều sai lầm. Trong quá trình hội nhập ở nước ta hiện
nay, hơn bao giờ hết cần phải chú trong nâng cao chức năng giám sát của
MTTQ ở các cơ sở. Chính vì thế mà en xin chọn đề tài: “Thực hiện chức năng
giám sát xã hôi mặt trận tổ quốc Việt Nam tại huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên
Quang” làm đề tài khóa luận tôt nghiệp, với mong muốn góp một phần nhỏ bé
của mình vào vào việc nâng cao chất lượng hoạt động giám sát xã hội MTTQ
cấp huyện nói riêng và của MTTQVN nói chung, để mặt trận thực sự là tổ chức
đại diện cho quyền lợi của nhân dân lao động
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
trong giám sát và phản biện, xây dựng và hoàn thiện cơ chế pháp lý, nâng cao
chất lượng và đổi mới tổ chức của MTTQ các cấp
Nguyễn Thanh Bình (2014), “Mặt trận tổ quốc Việt Nam với công tác
giám sát và tham gia giải quyết khiếu nại tố cáo trong thời kỳ đổi mới”, Tạp chí
Mặt trận số 123, tr.41-45. Nếu nên vai trò giám sát của Mặt trận đối việc giải
4
quyết khiếu nại tố cáo quy định còn chung chung và tác giải chỉ ra những
nguyên nhân chính hạn chế vài trò giám sát xã hội của Mặt trận đối lĩnh vực này
Hà Ngọc Thảnh (2014), “Phát huy trách nhiệm của mặt trận tổ quốc Việt
Nam và các đoàn thể nhận dân trong giám sát hoạt động của các đại biểu dân
cử”, Tạp chí mặt trận số 129+130, tr.62-66. Bài viết nêu trách nhiệm MTTQVN
và đoàn thanh tra nhân dân trong giám sát hoạt động các đại biểu dân cử thể
hiện một số vấn đề chủ yếu như giám sát đại biểu dân cử theo nhiệm vụ chính
trị, chức danh, lời hứa trước cử trị, bảo đảm và quyền lợi chính đáng của nhân
dân từ vấn đề nêu trên bài viết đưa ra yêu cầu đối MTTQVN và các đoàn thanh
tra nhân dân
Đỗ Phương (2014), “Lại bàn về giám sát và phản biện” Tạp chí số 133,
tr.4-7 bài viết đề cập vị trí và vai trò giám sát trong xã hội hiện nay còn nhiều
hạn chế, để phát huy vai trò giám sát và phản biện cần những thay đổi cơ chế và
tổ chức quản lý nêu không giám sát và phản biện xã hội chỉ là cụm từ sử dung
trong tổ chức MTTQVN mà thôi
Trần Ngọc Nhẫn (2014), “Vai trò mặt trận tổ quốc Việt Nam trong xây
dựng chính sách, pháp luật và giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật”
Tạp chí mặt trận số 129+130, tr.21-24. Bài viết nêu tầm quan trọng vai trò giám
sát Mặt trận trong hệ thống chính trị, nhưng đối việc xây dựng chính sách, phát
luật thì quy định văn bản hạn chế, nếu có chỉ mang tính hình thức. Hiện nay, có
một số quy định mới triển khai chậm, chưa hướng dẫn cụ thề dẫn khó khăn thực
hiện vì vậy Quốc hội nghiên cứu sớm có quy định về cơ chế cụ thể đóng góp ý
kiến các đoàn thể chính trị - xã hôi trong quá trình xây dung chính sách pháp
luật và thực hiện chức năng giám sát Mặt trận.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng
Đối tương nghiên cứu của khóa luận về việc thực hiện hoạt động giám sát
xã hội mặt trận tổ quốc Việt Nam tại huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Khóa luận tập trung nghiên cứu hoạt động giám sát xã hội của mặt trận tổ
quốc huyên Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang trong thời gian từ năm 2009 – 2014
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu đề tài
5.1 Cơ sở lý luận
Khóa luận vận dụng quan điểm chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh về dân chủ, về kiểm soát quyền lực, quan điểm của Đảng Cộng Sản Việt
Nam về thực thi quyền lực của nhân dân, về vai trò của nhân dân, của MTTQ và
các đoàn thể chính trị xã hội trong vệc giám sát hoạt động của bộ máy Đảng và
Nhà nước
5.2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận: khóa luận vận dụng những nguyên tắc, phương pháp
luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ
nghĩa Mác – Lênin.
- Phương pháp nghiên cứu: để thực hiện được mục tiêu nghiên cứu, khóa
luận sử dụng tổng hợp các phương pháp như: phương pháp logic – lịch sử,
phương pháp sánh, phương pháp phân tích – tổng hợp, phương pháp tra cứu tài
liệu, phương pháp thu thập và xử lý thông tin…
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của khóa luận
- Khóa luận cung cấp cơ sở lý luận về hoạt động giám sát xã hôi của
MTTQ góp phần viêc nghiên cứu, đổi mới sự lãnh đạo của đảng đối với công tác
măt trận nói chung và hoạt động giám sát xã hội của mặt trận nói riêng, từ cơ sở
7
đó góp phần nâng cao chất lượng hoạt động giám sát xã hội của mặt trận trên địa
bàn huyện Hàm Yên
- Khóa luận góp phần nâng cao nhận thức về vai trò của MTTQ đối với
vụ Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã chỉ thị thành lập Hội phản đế Đồng
Minh – hình thức đầu tiên của Mặt trân dân tộc thống nhất, một hình thức liên
minh chính trị của giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và các lực lực lượng
yêu nước khác nhằm “ Đoàn kết lực lượng cách mạng phản đế lại, để đánh đổ
đế quốc chủ nghĩa, mưu việc hoàn toàn độc lập cho xứ Đông Dương và bênh
vực cho phong trào giải phóng ở các thuộc địa và bán thuộc địa [15, tr.10]
9
Và từ thời gian đó đến nay trong lịch sử cách mạng Việt Nam chưa bao
giờ vắng bóng tổ chức Mặt trận. Khi cách mạng chưa giành được chính quyền
thì Mặt trận là liên minh chính trị của công nông với các lực lượng tiến bộ trực
tiếp tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, vận động đoàn kết nhân
dân chống thực dân pháp và phong kiến giành chính quyền về tay nhân dân,
trong những giai đoạn lịch sử Mặt trận còn thực hiện chức năng và nhiệm vụ của
chính quyền ở vùng giải phóng .Sau khi Đảng giành được chính quyền, MTTQ
trở thành thành viên của hệ thống chính trị , Mặt trận cùng với Đảng, Nhà nước
là công cụ thực hiện và phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Đặc biệt hiện nay
trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa nhận thức về vị trí MTTQVN ngày càng
được hoàn thiện thông qua chủ trương, đường lối của Đảng, mà còn thể hiện
trong hiến pháp, trong các luật đặc biệt là luật MTTQVN và sự thừa nhận của
các tầng lớp nhân dân.
Trong các văn kiện quan trọng của Đảng ngày càng tiếp tục khảng định vị
trí quan trong của Mặt trận trong hệ thống chính trị cụ thể:
Chỉ thị 17 của Ban bí thư Trung ương Đảng khóa V, ngày 18/4/1983 về
tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác MTTQVN trong giai đoạn
mới ghi rõ:
“Măt trận Tổ quốc Việt nam là tổ chức chính trị Xã hội rộng lớn vừa có
liên hiệp rộng rãi, vừa có tính quần chúng sâu sắc. Mặt trận đại diện chung cho
quyền làm chủ của nhân dân lao động, là sợi dây nối liền các tằng lớp xã hội
rộng rãi với Đảng, là chỗ dựa vững chắc cho Nhà nước”
Nghị quyết 07 của Bộ chính trị khóa VII về đại đoàn kết dân tộc và tăng
và đạo đức cách mạng, quyền và nghĩa vụ công dân, tăng cường mối liên hệ
giữa nhân dân với Đảng, Nhà nước”.“Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức liên
minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã
hội, tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, tầng lớp xã hội,
11
các dân tộc, tôn giáo và người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam là một bộ phận của hệ thống chính trị, là cơ sở chính trị của
chính quyền nhân dân. Đảng Cộng sản Việt Nam vừa là thành viên vừa là người
lãnh đạo Mặt trận. Mặt trận hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, hiệp thương
dân chủ, phối hợp và thống nhất hành động giữa các thành viên.” [16]
Tại điều 9 Hiến pháp 1992 đã quy định “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ
chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị, các tổ chức
chính trị-xã hội, các tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp,
các tầng lớp xã hội, các dân tộc, các tôn giáo và người Việt Nam định cư ở nước
ngoài” [17]
Hiến pháp năm 2013 nêu rõ: "Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức liên
minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị -
xã hội, tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, tầng lớp xã
hội, dân tộc, tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân; đại diện, bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân; tập hợp, phát huy sức mạnh đại
đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội; giám
sát, phản biện xã hội; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, hoạt động đối ngoại
nhân dân góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc"[18]. Điều đó khẳng định Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam là một bộ phận không thể thiếu được của hệ thống chính
trị nước ta.
Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam khóa X, kỳ họp thứ 5 đã thông qua ngày 12 tháng 6 năm
1999, trong đó đã khẳng định: "Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là một bộ phận của
hệ thống chính trị của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, do Đảng
động của bộ máy Đảng và Nhà nước ta.
13
Vì vậy, nhìn từ các góc độ khác nhau cả về pháp lý, cả về lịch sử và hoạt
động thực tiễn đều khẳng định MTTQVN là một thiết chế quan trọng, một chủ
thể không thể thiếu trong hệ thống chính trị nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam.
1.1.2 Vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là một bộ phận cấu thành hệ thống chính trị
của nước ta hiện nay. Sự qui định này là do yêu cầu khách quan của sự nghiệp
cách mạng, là xuất phát tư thể chế chính trị: nước ta là nước dân chủ, mọi quyền
lực thuộc về nhân dân. Đây là vấn đề lịch sử, vấn đề truyền thống. Vai trò của
Mặt trận không phải tự Mặt trận đặt ra mà là do chính nhân dân, chính lịch sử
thừa nhận. Thắng lợi huy hoàng của Cách mạng Tháng Tám 1945 gắn liền với
sự nghiệp của Mặt trận Việt Minh. Thành tích của Mặt trận Việt Minh chính là
sự kế tục sự nghiệp cách mạng đã được chuẩn bị từ trước của Hội Phản đế đồng
minh (1930-1936) và của Mặt trân Dân chủ Đông Dương (1936-1939).Tiếp theo
Mặt trận Việt Minh là Mặt trận Liên Việt đã góp phần đưa cuộc tháng chiến
chống thực dân Pháp đến thắng lợi. Kế tục Mặt trận Liên Việt, Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam ra đời đã đoàn kết, tập hợp các tầng lớp nhân dân tiến hành cách mạng
xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, làm hậu thuẫn cho cuộc đấu tranh thống nhất nước
nhà ở miền Nam. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam đã cùng với Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam
và liên minh các lực lượng dân tộc dân chủ và hòa bình Việt Nam đoàn kết nhân
dân cả nước làm tròn sứ mệnh lịch sử vẻ vang: giải phóng miền Nam bảo vệ
miền Bắc, hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước.
Từ khi đất nước thống nhất, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giữ vai trò quan trọng
trong việc củng cố và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc.
Với vai trò là tổ chức tập hợp, đoàn kết rộng rãi các lực lượng chính trị,
các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu trong các
Nam quy định rõ vai trò của Mặt trận: “ là cơ sở chính trị của chính quyền nhân
dân, nơi thể hiện ý chí nguyện vọng, tập hợp khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phát
huy quyền làm chủ của dân,nơi hiệp thương phối hợp và thống nhất hành động
của các thành viên, góp phần dữ vững độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia và
toàn vẹn lãnh thổ, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước, vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh”[19]
Mặt trận là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, vai trò cơ sở chính
của Mặt trận thể hiện ở chỗ:
- Mặt trận là nơi thể hiện ý chí, nguyện vọng tập hợp xây dựng khối đại
đoàn kết toàn dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong việc tham
gia xây dựng và bảo vệ chính quyền.
- Mặt trận là nền tảng chính trị, là sức mạnh có tổ chức của toàn dân. Nhà
nước phải dựa vào Mặt trận để phát huy sức mạnh của mình thông việc
phát huy sức mạnh có tổ chức của nhân dân
- Mặt trận cùng Nhà nước chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chính
đáng của nhân dân, động viên nhân dân tham gia xây dựng và phản biện
các chủ trương, chính sách pháp luật, giám sát hoạt động của các cơ quan
nhà nước, đại biểu dân cử và cán bộ công chức nhà nước, các cuộc vận
động xã hội, thực hiện tốt cac chủ trương chính sách của Đảng và Nhà
nước.
Ngoài ra, với đặc điểm của hệ thống chính trị của nước ta, để tránh nguy
cơ độc đoán, quan liêu xa dân… đòi hỏi phải phát huy vai trò của MTTQ trong
hệ thống chính và đời sống xã hội thông qua việc tham chính và tham nghị, giám
sát và phản biện xã hội đối với hoạt động cơ quan Nhà nước và mỗi cán bộ đảng
viên trong hệ thống đó.
16
1.2 Giám sát xã hôi và chức năng giám sát xã hội Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam.
1.2.1 Khái niệm giám sát và hoạt động giám sát xã hội của Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam
“Giám sát” luôn gắn với một chủ thể nhất định, tức là phải trả lời câu hỏi;
ai (người hoặc tổ chức nào) có quyền thực hiện việc theo dõi, xem xét, kiểm tra
và đưa ra nhận định về một việc làm nào đó đã được thực hiện đúng hoặc sai
những điều đã quy định. Đồng thời “giám sát” luôn gắn với một đối tượng cụ
thể, tưc là phải trả lời được câu hỏi: giám sát ai? Giám sát việc gì? Để có những
tác động nhằm điều chỉnh đối tượng thực hiện đúng yêu cầu, quy định của chủ
thể quyền lực.
Giám sát mang tính chủ động (có mục đích, nội dung, quy chuẩn…)
thường xuyên liên tục.
Như vậy có thể quan niệm: “giám sát là quá trình theo dõi, quan sát,
phân tích nhận định về hành vi của đối tượng bị giám sát xem có vi phạm những
chuẩn mực của chủ thể quyền lực hay không để có những tác động điều chỉnh
tương đối thực hiện đúng các yêu cầu chuẩn mực mà chủ thể quyền lực đặt ra”
Trong đời sống chính trị cần phân biệt biệt khái niệm “giám sát”và khái
niệm “thanh tra”. Khái niệm “thanh tra” được diễn đạt trọng Nghị quyết số 164-
CP ngày 31/8/1970 của hội đồng chính phủ về tăng cường công tác thanh tra và
chấn chỉnh hệ thống thanh tra Nhà nước như sau:
Thanh tra là một trong công tác quan trọng của công tác quản lý, nó có
mục đích giúp cơ quan lãnh đạo vừa kiểm tra sự đúng đắn của bản thân sự lãnh
đạo của mình và kiểm tra sựu chấp hành của cơ quan quyền lực thuộc thẩm
quyền nhầm tìm ra những biền pháp chỉ đạo, cách quản lý tốt nhất, đảm bảo cho
18
những chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của nhà nước được thực thi
đầy đủ có hiệu lực.
Như vậy, để phân biêt thanh tra và giám sát trước hết ta nhận diện một số
vấn đề sau: Thanh tra là công cụ hỗ trợ hoạt động quản lý nhà nước của hệ thống
cơ quan quản lý hành chính, là công cụ kiểm tra của hệ thống hành pháp, còn
giám sát là hoạt động của hệ thống quyền lực lập pháp. Điểm khác biệt nữa là
đối tượng của thanh tra là cơ quan, tổ chức chấp hành, thực hiện quyền lực hành
pháp (thuộc quyền quản lý của cơ quan hành chính) và chủ thể giám sát không
tiên được đề cập trong Nghị quyết của Đại hội đại biểu Thanh niên cứu quốc
toàn xứ Bắc kỳ tháng 11- 1945 “Mặt trận Việt Minh, Thanh niên cứu quốc hội
có nhiệm vụ ủng hộ Chính phủ và Bộ Thanh niên. Sự ủng hộ đó phải thiết thực
(bằng việc làm không phải bằng lời nói suông), sáng suốt ( thấy cái hay cái dở)
và tích cực ( giám sát và đề nghị)” tuy nhiên quyền giám sát Mặt trận chính thức
ghi nhân tại điều 9 Hiến pháp năm 1992 “ Mặt trận giám sát hoạt động cơ qua
nhà nước, đại biểu dân cử và cán bộ viên chức Nhà nước” nhân dân có quyền
giám sát trực tiếp hoặc gián tiếp cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, đảng viên
( thông qua Mặt trận và các đoàn thể để thực hiện)
Sau Hiến pháp năm 1992, các văn bản pháp luật ngày càng quy định cụ
thể hơn về chức năng giám sát Mặt trận, trong đó có luật Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam, Nhà nước dần chuyền hóa quyền giám sát của Mặt trận trân nhiều lĩnh
vực như: giám sát việc thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, thi hành
luật đất đai, thi hành luật thuế, thi hành luật nghĩa vụ quân sự, giám sát tố tụng
hình sự, dân sự…Như vậy, xét về quyền giám sát Mặt trận trong việc thi hành
chính sách pháp luật của cơ quan nhà nước là rất rộng theo thống kê đến tháng
10/2009, đã có 54 văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến quyền giám sát của
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân. Đó là sự thể hiện đường
lối, chính sách của Đảng về thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy quyền
làm chủ của nhân dân. Trong thực tế, quyền giám sát của Mặt trận đã đi vào
20
cuộc sông và đạt được một số kết quả và kinh nghiệm nhất đinh, nhưng song
bên cạnh đó gặp không ít những khó khăn và nhiều vấn đề đặt ra trong quá trình
thực hiện đòi hỏi Mặt trận phải hướng giải quyết, các biên pháp phù hợp để đạt
hiệu quả hơn nữa.
Hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là hoạt động giám
sát xã hội, là việc quan sát, phát hiện, xem xét, kiến nghị với cơ quan có thẩm
quyền về hoạt động của các cơ quan Đảng, Nhà nước và cán bộ, công chức
đảng viên trong việc thực hiện các chủ trương, chính sách, pháp luật, các
chương trình, đề án, dự án và quy chế quy định có hiệu lực của cơ quan, tổ chức
khoản 4, luật ban hành văn bản quy phạp pháp luật của hội đồng nhân dân, ủy
ban nhân dân năm 2014).
Tùy vào từng đặc điểm của từng địa phương và chương trình công tác
Mặt trận hằng năm mà xây dựng kế hoạch giám sát việc thực hiện pháp luật, quy
phạm của chính quyền địa phương như: giám sát thực hiện luật đất đai, luật
thuế, luật nghĩa vụ quân sự, luật bảo vệ môi trường, các chính sách đối người có
công, chính sách xã hội, nghị quyết của hội đồng nhân dân…
- Giám sát cán bộ, công chức Nhà nước (trong đó có đảng viên).
Phạm vi của nôi dung giám sát cán bộ, công chức nhà nước bao gồm:
nghĩa vụ của cán bộ, công chức nhà nước, đạo đức, văn hóa, văn hóa giao tiếp
của cán bộ, công chức, những việc cán bộ, công chức không được làm (các nôi
dung trên quy định trong luật cán bộ, công chức, các văn bản hướng dẫn của
Đảng, Chính phủ, luật phòng chống tham nhũng, luật thực hành tiết kiệm, chống
lãng phí và các văn bản luật có liên quan)
Hình thức, cơ chế giám sát cán bộ, công chức, đảng viên, ở khu dân cư
được cụ thể hóa ở nghị quyết liên tịch giữa Chính phủ và Ủy ban trung ương
Mặt trận tổ quốc Việt Nam ( số 05, ngày 21-04-2006) ban hành bằng hình thức
22
quy chế, trong đó, quy định rõ mục đích giám sát, nguyên tắc giám sát và đối
tượng bị giám sát, nội dụng giám sát, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức khi trả
lời kiến nghị giám sát.
Mặt trận tổ quốc giám sát cán bộ, công chức còn được quy định trong
pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn năm 2007 với hình thức lấy
phiếu tín nhiệm các chức danh chủ chốt do Hội đồng nhân dân cấp xã bầu, đó là
Chủ tịch Hôi đồng nhân dân, phó Chủ tịch hội đồng nhân dân, Chủ tịch ủy ban
nhân dân (UBND), Phó chủ tịch UBND do Ban thường trực ủy ban Mặt trận tổ
quốc cấp xã chủ trì tổ chức lấy phiếu tín nhiệm. Giám sát cán bộ, công chức nhà
nước theo quy định của Luật phòng chống tham nhũng, luật thực hành tiết kiệm,
chống lãng phí.
- Giám sát hoạt động của đại biểu dân cử
a) Nôi dung hoạt động giám sát Mặt trận tổ quốc Việt Nam
Xuất phát từ vị trí, vai trò, chức năng nhiệm vụ của Mặt trận tổ quốc trong
hệ thống chính trị, hoạt động giám sát của Mặt trận tập trung chủ yếu vào các
nội dung sau: giám sát việc xây dựng, ban hành, thi hành pháp luật và bảo vệ
pháp luật của cơ quan Nhà nước ( lập pháp, hành pháp, tư pháp), chủ yếu tập
chung vào những pháp luật có liên quan đến quyền và nghĩa vụ cơ bản công dân,
của các giai cấp, tầng lớp xã hội, các đối tượng chuyên biệt do Mặt trận trực tiếp
vận động, các pháp luật liên quan đến tổ chức hoạt động của Ủy ban Mặt trận
và các tổ chức thành viên.
* Đối cơ quan lập pháp:
Giám sát quá trình lập pháp (từ giai đoàn sáng kiến pháp luật, giai đoạn
soạn thảo, giai đoạn thẩm định và giai đoạn thông qua các văn bản nghị quyết,
pháp lệnh…)
- Giám sát tính hợp hiến của văn bản luật