1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Áp xe vú là tình trạng trong vú có nang giống túi chứa đầy mủ và bao
quanh bởi các mô viêm. Bệnh nhân bị áp xe vú thường do biến chứng của
bệnh viêm vú, tình trạng viêm và nhiễm trùng của các mô vú. Viêm và áp xe
vú là do xâm nhập của vi khuẩn vào các mô vú thông qua núm vú và gây ra
nhiễm khuẩn các ống dẫn sữa và các tuyến sữa. Chính vì vậy, tổn thương
viêm tuyến vú cấp thường xảy ra trong thời kỳ hậu sản, trong thời gian cho
con bú. Viêm tuyến vú có hình thái lâm sàng khá đa dạng từ viêm một phần
đến viêm toàn bộ tuyến vú hay áp xe tuyến vú. Bệnh tiến triển dần dần, gây
nhiều phiền phức với người phụ nữ cho con bú: gây đau, ngừng cho con bú.
Cuối cùng gây biến chứng nặng là áp xe vú, tổn thương vú, giảm khả năng
nuôi con, để lại sẹo xấu, mất thẩm mỹ cho người phụ nữ [1]. Về lâu dài có thể
là một trong những yếu tố thuận lợi ung thư vú, một bệnh hay gặp, đứng hàng
đầu trong ung thư phụ khoa, tử vong đứng hàng thứ 2 trong tỷ lệ chết do ung
thư ở phụ nữ. Việc chăm sóc vú, cho con bú vẫn được cho là kiến thức thông
thường, gần như bản năng phụ nữ nào cũng biết, nó được phổ biến trong dân
gian, trong thông tin đại chúng, kiến thức phổ thông. Cho con bú sữa mẹ là
đóng góp cho việc bảo vệ, phát triển và nâng cao sức khỏe trẻ em. Bú mẹ
được khuyến khích và chấp nhận rộng rãi ở Việt Nam. Hiện nay Việt Nam
triển khai rộng rãi chương trình làm mẹ an toàn trong cả nước, khuyến khích
bà mẹ cho con bú và đặc biệt là bú sớm [2]. Ước tính có khoảng 98% trẻ nhỏ
được bú mẹ nhưng chỉ 57% các bà mẹ thực hiện cho bú mẹ ngay sau đẻ [3].
Đã có nhiều nghiên cứu về việc cho bú, bú sớm, nhưng những vấn đề
phiền nhiễu khi cho con bú và biến chứng nặng nề như áp xe vú thì chưa có
nghiên cứu nào cụ thể. Khoảng 25% số phụ nữ cho con bú bị nứt đầu vú, 15%
bị cương vú và 5% bị viêm bạch mạch vú. Những trường hợp này nếu không
2
rất thay đổi nhưng thường có hình cái nón ở phụ nữ chưa sinh đẻ và có thể
chảy xệ lủng lẳng ở những phụ nữ đã sinh đẻ. Cấu trúc vú gồm 3 thành phần:
da, mô dưới da và mô vú, trong đó mô vú bao gồm cả mô tuyến và mô đệm.
Phần mô tuyến được chia thành 15 – 20 phân thùy, tất cả đều tập trung về
núm vú. Sữa từ các thùy sẽ được đổ vào các ống góp có ở mỗi thùy, đường
kính khoảng 2mm, rồi tới các xoang chứa sữa dưới quầng vú có đường kính
từ 5 đến 8 cm. Có tất cả khoảng 5 đến 10 ống dẫn sữa mở ra ở núm vú [1].
Có rất nhiều cách gọi tên hệ thống ống dẫn, hệ thống nhánh có thể được
gọi tên theo hình dáng, bắt đầu bằng các ống góp ở núm vú và kéo dài cho tới
các ống làm nhiệm vụ dẫn sữa tại mỗi nang. Mỗi ống dẫn ở 1 thùy được tạo
thành từ các ống dẫn nhỏ hơn của 20 – 40 tiểu thùy, cấu trúc vi thể các ống
này được Parks mô tả rất kỹ. Mô dưới da và mô đệm vú bao gồm mỡ, các mô
liên kết, mạch máu, sợi thần kinh và bạch huyết.
Da vùng vú mỏng, bao gồm các nang lông, tuyến bã và các tuyến mồ
hôi. Núm vú nằm ở khoang liên sườn 4, có chứa các tận cùng thần kinh cảm
giác, bao gồm các thể Ruffini và các hành tận cùng của Krause. Ngoài ra còn
có các tuyến bã và tuyến bán hủy nhưng không có các nang lông. Quầng vú
4
có hình tròn, màu sẫm, đường kính từ 1,5 đến 6 cm. Các củ Morgani nằm ở
rìa quầng vú, được nâng cao lên do miệng các ống tuyến Montgomery. Các
tuyến Montgomery là những tuyến bã lớn, có khả năng tiết sữa, nó là dạng
trung gian giữa tuyến mồ hôi và tuyến sữa. Toàn bộ vú được bao bởi cân ngực
nông, cân này liên tục với cân nông Camper ở bụng. Mặt dưới vú nằm trên
cân ngực sâu, cân này che phủ phần lớn ngực và cơ răng trước. Hai lớp cân
này nối với nhau bởi tổ chức xơ (dây chằng Cooper), là phương tiện nâng đỡ
tự nhiên cho vú.
1.1.2. Mạch máu của vú
6
- Sự phát triển ở người trưởng thành
Khi chưa trưởng thành, các ống dẫn và các nang tuyến được chia hang
bởi 2 lớp tế bào biểu mô, gồm 1 lớp tế bào có đáy hình lập phương và 1 lớp tế
bào dẹt. Ở thời kỳ dậy thì và sau đó, dưới tác dụng của estrogen lớp biểu mô
này tăng sinh phát triển thành nhiều lớp. Có 3 loại tế bào là tế bào ở bề mặt (tế
bào sáng), tế bào nền (tế bào chính) và tế bào cơ biểu mô.
Các tế bào bề mặt là những tế bào bắt màu kiềm, sẫm màu, giàu
Ribosom. Các tế bào bề mặt tiến triển đến giai đoạn có giãn gian bào, với sự
phình lên của các ti lạp thể, tập hợp thành các nhóm, tạo thành những cài chồi
trong lòng ống. Tế bào nền là loại tế bào chính của biểu mô tuyến vú, màu
sáng với nhân hình trứng mà không có hạt nhân. Nơi các tế bào nền tiếp xúc
với lòng ống, có các vi nhung mao ở trên màng tế bào. Các sợi trong bào
tương giống với các sợi trong tế bào cơ biểu mô. Các tế bào cơ biểu mô nằm
quanh nang và các ống tiết sữa nhỏ giữa mặt trong của các màng đáy và lớp
ngay trên. Các tế bào cơ biểu mô được sắp xếp theo nhánh có hình như ngôi
sao. Cơ tương bao gồm các sợi có đường kính từ 50 – 80nm, những sợi cơ
này được gài vào màng đáy bởi các cầu nối gian bào. Những tế bào này không
chịu sự chi phối nhưng có thể bị kích thích bởi các hormone Prolactin và
Oxytocin.
1.1.5 Sinh lý tuyến vú
1.1.5.1. Tuyến vú lúc dậy thì
Mầm tuyến vú đầu tiên xuất hiện ở bào thai không chịu ảnh hưởng của
hormon, cho đến lúc dậy thì tuyến vú là mạng ống thưa thớt nối với núm vú.
Đến khi dậy thì, dưới ảnh hưởng của các hormon buồng trứng, mạng ống tăng
7
- Sự xuống sữa xuất hiện sau đẻ từ 3 – 4 ngày ở con so, 2 – 3 ngày ở con
dạ. Hiện tượng xuống sữa là do nồng độ prolactin trong máu tăng đột ngột và
kéo theo tổng hợp nhiều sữa.
- Ban đầu sự tiết sữa được duy trì bằng động tác mút vào núm vú. Động
tác mút theo đường phản xạ thần kinh kích thích vùng dưới đồi giải phóng
prolactin. Mỗi khi bú, nồng độ prolactin trong máu đạt đỉnh cao. Sau này, sự
tiết sữa được duy trì bằng hiện tượng hết sữa trong các tiểu thùy mỗi khi cho
trẻ bú. Các tiểu thùy chỉ sản xuất sữa khi sữa trong tiểu thùy được lấy hết đi.
Tới lúc này, nồng độ prolactin trong máu giảm dần về mức bình thường như
trong chu kỳ kinh nguyệt. Sự chế tiết các hormon hướng sinh dục xuất hiện lại
dần dần và hiện tượng kinh nguyệt trở lại. Người ta thấy rằng ở những phụ nữ
cho con bú kéo dài hai năm hay hơn thì:
Sau 1 năm, 80% số phụ nữ này vẫn chưa có kinh trở lại.
Sau 2 năm, vẫn còn 20% số phụ nữ chưa có kinh trở lại
- Mỗi khi trẻ mút vào núm vú, sẽ xuất hiện phản xạ thần kinh dẫn tới
thùy sau của tuyến yên và làm giải phóng oxytocin. Chính oxytocin đã làm co
tế bào cơ – biểu mô ở các ống dẫn sữa và tống sữa ra ngoài. Oxytocin còn
được giải phóng mỗi khi người mẹ nhìn thấy đứa bé hay nghe tiếng trẻ khóc
(phản xạ có điều kiện). Bên cạnh đó oxytocin còn làm tử cung co bóp.
1.3. Cho bú
Người ta khuyến khích nuôi con bằng sữa mẹ vì nhiều lý do:
- Sữa mẹ là nguồn thức ăn tốt nhất cho trẻ em, đặc biệt là sữa non trong
những ngày đầu.
9
- Cho con bú là cơ sở để nảy nở tình cảm mẹ con, tạo ra sự âu yếm, quấn
quýt mẹ con.
- Cho con bú sữa mẹ cũng là một phương pháp tránh thai trong những
- Tư thế cho con bú: người mẹ có thể cho con bú ở tư thế ngồi hay tư thế
nằm. Khi cho bú phải cho trẻ ngậm kín quầng vú.
- Chế độ ăn của người mẹ: nhu cầu năng lượng tăng 25% so với lúc bình
thường, khoảng 500 kcalo. Lưu ý cho bà mẹ uống thêm nhiều nước, ăn tăng
protein (thịt, cá, trứng, sữa…). Bên cạnh đó nên cho bà mẹ sử dụng thêm
canxi và sắt. Bà mẹ nên ăn thành nhiều bữa trong ngày. Không nên dùng các
chất kích thích như rượu, bia, chè, cà phê, thuốc lá…
1.3.4. Những trường hợp không được cho con bú
Không có nhiều chống chỉ định cho con bú. Trong một số bệnh lý,
người bệnh không được cho con bú như bệnh tim, lao đang tiến triển, bị
nhiễm HIV, bị bệnh tâm thần không có khả năng chăm sóc con…
1.4. Một số vấn đề hay gặp khi nuôi con bằng sữa mẹ
1.4.1. Đau rát ở núm vú
Núm vú được chi phối bởi mạng lưới thần kinh cảm giác phong phú, do
vậy rất nhạy cảm với các kích thích sờ, áp lực. Khi đứa trẻ mút vú, nó tạo ra
một lực kéo lớn và trong một thời gian dài lên hai đầu vú. Sau độ 6 hay 7 lần
cho bú, các đầu vú có thể bị đau mỗi khi trẻ mút vào núm vú. Đau tăng dần
qua các lần cho bú trong 3, 4 ngày, sau đó dần dần quen đi. Đó là một hiện
tượng bình thường, cần giải thích để người mẹ hiểu và kiên nhẫn. Trong nhiều
trường hợp bị nhầm là nứt đầu vú. Người mẹ không cần làm gì đặc biệt nếu
11
có thì chỉ là xoa bóp hai đầu vú. Nguy cơ của hiện tượng này là người mẹ sợ
mỗi khi cho con bú, có thể dẫn đến cương tức vú và sự chế tiết sữa kém đi.
Tất cả các hiện tượng đó rơi vào vòng xoắn bệnh lý [6].
1.4.2. Tụt núm vú
Tụt núm vú không phải là chống chỉ định cho con bú vì khi bú đứa bé
ngậm rộng ra cả quầng vú. Sau một số lần bú, sức bú của đứa bé của đứa bé
- Điều trị: để hở vú tiếp xúc với không khí, ánh sáng. Bôi mỡ có vitamin
A, E, bôi dung dịch eosin 1%, tạm ngừng cho con bú bên bị đau 6 đến 12 giờ
và vắt sữa bằng tay. Nếu không đỡ phải tìm nguyên nhân nấm gây tưa miệng
ở trẻ.
1.4.6. Cương vú
Cương vú có thể gặp bất cứ thời điểm nào trong giai đoạn cho con bú.
Hay gặp trong tuần đầu tiên. Yếu tố thuận lợi : trẻ bú ít, bú yếu, mẹ bị đau khi
cho trẻ bú, bị nứt đầu vú, khi người mẹ cai sữa. Biểu hiện: toàn bộ vú căng tức,
đau, đôi khi sốt. Điều trị: xoa bóp, chườm nóng, cho trẻ bú tiếp. Có thể dùng
oxytocin tiêm bắp. Cần điều trị tốt tránh viêm bạch mạch và áp xe vú.
1.4.7. Viêm bạch mạch vú
Khoảng 5% phụ nữ cho con bú bị viêm bạch mạch vú. Nếu người ta
điều trị tốt nứt đầu vú và cương vú thì viêm bạch mạch vú giảm đi. Mầm bệnh
là tụ cầu, liên cầu hay vi khuẩn Gram âm xâm nhập qua thương tổn ở đầu vú
để gây bệnh. Hệ thống bạch huyết của vú bảo đảm sức đề kháng của cơ thể.
Sữa không bị nhiễm trùng cho nên vẫn cho trẻ bú được.
Biểu hiện: sốt cao, rét run. Bên vú bị thương tổn sưng phồng, căng và
rất đau. Trên vú người ta thấy một vùng đỏ khu trú thành mảng hay vùng
13
đỏ kéo dài rất đau khi sờ vào, chạm vào. Khám thấy có hạch tròn, đau, di
động ở nách.
Điều trị: nghỉ ngơi, chườm nóng tại chỗ, giảm đau. Tăng cường cho trẻ
bú bên bị bệnh. Sau khi cho bú phải vắt sạch sữa, có thể dùng thêm oxytocin
tiêm bắp. Nếu sau 24 giờ không đỡ, nên dùng thêm kháng sinh.
1.4.8. Viêm ống dẫn sữa
Thông thường viêm ống dẫn sữa xảy ra sau cương vú và viêm bạch
mạch. Người bệnh sốt cao, ở vú có các nhân cứng và đau, nách có hạch ấn
trị với thuốc kháng sinh đơn thuần.
Hình 2: Áp xe vú
1.5.1. Nguyên nhân
Hầu hết áp xe vú do tụ cầu Staphylococcus aureus. Các dòng
Staphylococcus aureus kháng Methicillin (MRSA) ngày càng trở thành
nguyên nhân gây bệnh quan trọng trong các trường hợp viêm vú ở phụ nữ cho
con bú và không cho con bú [10].
15
Các vi khuẩn gây bệnh ít gặp hơn bao gồm Staphylococccus pyogenes
(nhóm A hoặc B), E.coli, các loài bacteroides, Corynebacterium,
Staphylococci không có coagulase (ví dụ S.lugdunensis), Pseudomonas
aeruginosa, Proteus mirabilis và anaerobes [11]. Các bệnh nhân bị áp xe vú tái
phát nhiều lần do nhiễm cả vi khuẩn kị khí.
Có một số yếu tố làm tăng nguy cơ phát triển áp xe vú nhưng không
phải tất cả mọi trường hợp với những yếu tố nguy cơ này sẽ phát triển thành
một áp xe vú.
Các yếu tố nguy cơ bị áp xe vú ở phụ nữ đang cho con bú sữa mẹ bao gồm:
- Không cho con ăn đúng cách.
- Mặc áo ngực quá chật.
- Không nuôi con bằng sữa mẹ.
- Căng thẳng và mệt mỏi ở các bà mẹ mới sinh.
- Cai sữa cho em bé quá sớm.
Các yếu tố nguy cơ bị áp xe vú ở phụ nữ không cho con bú bao gồm:
- Đang trong độ tuổi sinh đẻ.
- Thừa cân, béo phì.
- Có tiền sử của áp xe vú trước đó.
Trên phương diện gây bệnh, tụ cầu khuẩn được chia thành hai nhóm
chính: tụ cầu có men coagulase và tụ cầu không có men coagulase [12],[13].
Tụ cầu có men coagulase
Nhờ men coagulase này mà trên môi trường nuôi cấy có máu, vi khuẩn
tạo nên các khuẩn lạc màu vàng. Do vậy vi khuẩn này còn gọi là tụ cầu vàng.
Các vi khuẩn quan trọng của nhóm này là:
Staphylococcus aureus hay còn gọi là tụ cầu vàng
17
Staphylococcus intermedius
Trên lâm sàng việc phân biệt các chủng tụ cầu có khả năng gây bệnh và
không gây bệnh thường dựa vào sự hiện diện của men Coagulase. Men này
gắn với prothrombin trong huyết tương và hoạt hóa quá trình sinh fibrin từ
tiền chất fibrinogen. Enzyme này cùng với yếu tố kết cụm (clumping factor),
một enzyme vách vi khuẩn, giúp tụ cầu vàng tạo kết tủa fibrin trên bề mặt của
nó. Tính chất này là yếu tố bệnh sinh cực kỳ quan trọng và cũng đóng vai trò
quan trọng trong chẩn đoán.
Tụ cầu vàng còn sản xuất nhiều yếu tố độc lực khác có liên quan đến cấu
tạo của vách vi khuẩn.
Vỏ polysaccharide: một số chủng tụ cầu vàng có thể tạo vỏ
Hemolysine và leukocidine: phá hủy hồng cầu (tan máu) và gây chết
các tế bào hạt cũng như đại thực bào.
Exfoliatine: là các men phá hủy lớp thượng bì. Men này gây tổn thương
da tạo các bọng nước. Ví dụ điển hình là hội chứng Lyell do tụ cầu.
Sáu độc tố ruột (Enterotoxine A, B, C, D, E, F) bền với nhiệt. Các độc
tố ruột này đóng vai trò quan trọng trong ngộ độc thực phẩm.
Độc tố gây hội chứng sốc nhiễm độc: là nguyên nhân gây nên hội
chứng sốc nhiễm độc, một hội chứng sốc trầm trọng.
Hầu hết các chủng tụ cầu đều sản xuất được men penicillinase (beta-
lactamase). Men này phá hủy vòng beta-lactam, cấu trúc cơ bản của các
kháng sinh như penicilline G, Ampicilline và Ureidopenicilline, làm cho các
kháng sinh này mất tác dụng.
Tụ cầu có men coagulase gây nên rất nhiều bệnh lý khác nhau. Có thể
chia các bệnh này theo khả năng xâm nhập hay sinh độc tố của tụ cầu:
Bệnh do tụ cầu xâm nhập
Hội chứng sốc nhiễm độc: thường gặp ở phụ nữ trẻ trong kỳ kinh
nguyệt có dùng băng thấm hút mạnh. Chính do khả năng thấm hút tốt này mà
băng có thời gian sử dụng lâu hơn. Một số loại bông thấm này có khả năng
gắn với các ion magnesium do đó làm giảm lượng ion này trong âm đạo.
20
Khoảng 20% phụ nữ có mang tụ cầu ở đường âm đạo. Do lượng ion
magnesium giảm xuống, vi khuẩn này tăng cường sản xuất các ngoại độc tố
gây sốc. Bệnh cảnh lâm sàng của hội chứng sốc nhiễm độc gồm đột ngột
sốt cao, cảm giác mệt mỏi, tiêu chảy toàn nước, nhức đầu, đau cơ, nổi ban
ngoài da và một hoặc nhiều dấu hiệu của sốc. Hội chứng này có tỉ lệ tử vong
khá cao.
Hội chứng Thukydides: là thể đặc biệt của hội chứng sốc nhiễm độc. Hội
chứng này có thể gặp ở thanh thiếu niên cả hai giới, thuờng gặp do bội nhiễm
tụ cầu sau khi bị cúm. Tỉ lệ tử vong của hội chứng này rất cao (trên 50%).
Biểu hiện lâm sàng về mặt hô hấp và tiêu hóa rất giống với bệnh dịch hạch do
Thurykodides mô tả ở Athen và năm 430 trước công nguyên.
Bệnh do độc tố
Ngộ độc thực phẩm là bệnh điển hình nhất do độc tố ruột bền với nhiệt
của tụ cầu sau khi ăn các thức ăn nguội hoặc kể cả các thức ăn nhiễm tụ cầu
đã được nấu chín. Có thể phân thành hai thể:
Viêm dạ dày ruột: nguyên nhân do ăn phải các thức ăn nhiễm độc tố tụ
cầu. Bệnh thường xảy ra trong thời gian ngắn với triệu chứng nôn mửa dữ
dội, tiêu chảy phân tóe nước, không sốt. Bệnh thường lành nhanh chóng và
không cần điều trị kháng sinh.
Viêm ruột non-đại tràng: nguyên nhân do thức ăn nhiễm một lượng lớn
vi khuẩn tụ cầu (>105 vi khuẩn/g thức ăn) hoặc do vi khuẩn tăng sinh trong
lòng ruột (có đến 2-30% số người mang vi khuẩn này trong ruột). Triệu chứng
22
Do không có men coagulase nên trên môi trường nuôi cấy có máu, khuẩn
lạc có màu trắng ngà. Trên lâm sàng thường gọi các vi khuẩn này là tụ cầu
trắng. Các vi khuẩn nhóm này có thể kể:
Staphylococcus epidermidis
Staphylococcus saprophyticus
Staphylococcus haemolyticus
Staphylococcus capitis
Staphylococcus simulans
Staphylococcus hominis
niệu thường gặp ở phụ nữ trẻ vì vi khuẩn này có khả năng bám dính vào tế
bào biểu bì đường tiết niệu và sản xuất men urease.
Điều trị nhiễm trùng do các vi tụ cầu không có men coagulase thường
khó khăn vì vi khuẩn này thường đa đề kháng kháng sinh. Một nguyên nhân
khác nữa là việc xác định chính xác tác nhân nào trong nhóm vi khuẩn này
gây bệnh để điều trị đặc hiệu rất khó vì chúng thường hiện diện trên da và
niêm mạc [12], [13].
1.5.2. Triệu chứng lâm sàng và chẩn đoán
Các biểu hiện của áp xe vú tương tự viêm vú: viêm đau, khu trú ở vú kết hợp
với sốt, mệt mỏi kèm theo khối sưng có kích thước thay đổi, mềm, có thể sờ thấy.
Mặc dù chẩn đoán cơ bản dựa vào triệu chứng lâm sàng, nhưng hình ảnh siêu âm
cũng giúp xác định chẩn đoán và quyết định dẫn lưu mủ.
Thời gian mắc bệnh rất thay đổi. Kết hợp dữ liệu từ 2 nghiên cứu các
bệnh nhân đang cho con bú, 0,4% trường hợp (5/1183) phát triển áp xe vú.
Trong 5 bệnh nhân đó, 2 bệnh nhân có biểu hiện viêm vú và áp xe tái phát
nhiều lần, các trường hợp khác phát triển thành áp xe trong 5 ngày đến 4 tuần
sau lần điều trị viêm vú thứ nhất hoặc thứ hai [14], [15].
Chẩn đoán phân biệt
Rạch dẫn lưu áp xe vú sai: bệnh nhân đôi khi biểu hiện các vùng ứ sữa
khu trú kèm sưng phồng mô vú. Biểu hiện là khối mềm có thể sờ thấy.
Tình trạng này được chẩn đoán phân biệt với viêm vú và áp xe vú bởi
sự thiếu các biểu hiện toàn thân.
24
Các nang sữa: Galactoceles là tập hợp các nang chứa dịch thường gây
ra bởi tắc ống dẫn sữa. Galactoceles biểu hiện là các khối nang mềm khi
khám và thường không kèm các biểu hiện hệ thống. Siêu âm có thể thấy
các khối phức tạp. Chẩn đoán có thể dựa vào bệnh sử lâm sàng.
với điều trị dẫn lưu lặp lại và kháng sinh, can thiệp phẫu thuật được chỉ định
[21], [22].
Hút mủ có hướng dẫn siêu âm: nếu nghi ngờ có áp xe, cần tiến hành
siêu âm [18], [19], [23]. Sử dụng siêu âm khẳng định áp xe sau đó sẽ dựa vào
tình trạng bề mặt da để quyết định điều trị tiếp.
Nếu lớp da bề mặt bình thường, chọc hút áp xe dưới hướng dẫn siêu âm sử
dụng kèm theo gây tê tại chỗ là phương pháp được ưu tiên lựa chọn Nếu bề mặt
da không bình thường, đòi hỏi phải chích dẫn lưu mủ [18], [19], [20], [23].
Gây tê tại chỗ quanh vùng nhỏ da bình thường, cách xa vị trí áp xe.
Lidocain 1% với 1/200.000 epinephrin với liều tối đa 7mg/kg được tiêm vào
da và qua mô vú tới ranh giới khối áp xe. Nếu ổ mủ thấy được không dày, có thể
hút bằng kim 21. Chỉ khi mủ được tháo hết, bơm tiêm được thay và ổ áp xe được
bơm rửa. Bơm rửa được thực hiện cho đến khi tất cả mủ được rút hết và nước rửa
trong [24], [25].
Nếu khối mủ lớn, gây tê tại chỗ tiêm nhẹ vào ổ áp xe và hút mủ được
thực hiện. Nếu mủ không thể hút ra được, thay bơm tiêm và kim. Sau khi
chờ gây tê tại chỗ và epinephrine có tác dụng (tối thiểu 7 – 8 phút), kim 19
hoặc 17 được đâm qua đường gây tê vào trong ổ áp xe để làm sạch ổ áp xe
với dung dịch thuốc tê để làm tan mủ. Có thể sử dụng hoặc lớn hơn 50ml
thuốc tê cho người lớn miễn sao chúng được hút ra trở lại sau đó. Tuy