nghiên cứu một số yếu tố nguy cơliên quan và cách xử trí thiểu ối ở thai từ trên 387 tuần trở lên tại bệnh viện phụ sản trung ương từ tháng 2 - tháng 7 năm 2009 - Pdf 24

ĐẶT VẤN ĐỀ
Từ nhiều năm nay người ta đã nhận thấy tầm quan trọng của nước ối đối
với thai nhi vì nước ối có một số vai trò quan trọng sau:
-
Vai trò cơ học: nước ối như một chiếc áo khoác che chở cho thai chống
mọi va đập. Nước ối giúp cho thai cử động tự do, không bị dớnh vào
màng ối, các cơ quan dễ dàng phát triển, dõy rốn không bị chốn ép,
tuần hoàn thai dễ dàng.
-
Vai trò chuyển hoá nước - điện giải: nước ối giúp cho thai đạt được cõn
bằng nước và điện giải.
-
Nước ối duy trì thõn nhiệt của thai trong tử cung.
-
Nước ối có tác dụng kỡm hóm vi khuẩn phát triển.
-
Nước ối giúp cho thai nhi dễ thay đổi tư thế, bình chỉnh ngôi trong tử
cung, góp phần hình thành đầu ối, giúp cổ tử cung xoá mở trong
chuyển dạ.
-
Nước ối không chỉ là môi trường dinh dưỡng mà cũn là chỗ bài tiết,
đào thải của thai nhi như nước tiểu, phõn xu [66]
Do vậy mọi bất thường về nước ối đều làm tăng cao tỷ lệ tử vong và tỷ
lệ mắc bệnh chu sinh[17]. Để đánh giá lượng nước ối, người ta đã lần lượt áp
dụng nhiều kỹ thuật khác nhau nhưng ngày nay siêu âm là phương pháp thông
dụng và dễ dàng nhất được lựa chọn bởi vì sử dụng phương pháp này không gây
nguy hại cho cỏc mụ, không gây chảy máu, cho phép nhìn thấy rõ thai và các
phần phụ của thai, không đau và có thể thực hiện nhiều lần trên một người…
Chamberlain và cộng sự[29] đã thấy tỷ lệ tử vong chu sinh tăng lên 47
lần khi có thiểu ối và tăng lên 13 lần khi TTNO hạn chế so với TTNO bình
thường. Một số tác giả cho rằng tỷ lệ này tăng là do hậu quả của thiểu ối dẫn

1.1. SINH LÝ NƯỚC ỐI
1.1.1. Nguồn gốc nước ối
Buồng ối là khoang đầu tiên xuất hiện trong phôi [51]. Phelan cho rằng
buồng ối xuất hiện ở ngày thứ 11 hay 12 sau khi thụ tinh [70]. Lúc này phôi là
một đĩa trũn dẹt gồm hai lớp và được gọi là đĩa phôi lưỡng bì [76]. Khi hình
thành, buồng ối chứa đầy dịch trong mà nguồn gốc có thể là từ huyết thanh
người mẹ, đó là nước ối [70].
Sự luân chuyển nước ối
Nước ối luôn luôn có sự luõn chuyển đi vào và đi ra khỏi buồng ối [67].
Tham gia tạo nước ối có hai nguồn chớnh là nước tiểu của thai và dịch tiết
của phổi thai, ngoài ra có một phần từ da thai nhi. Nước ối tiêu đi theo hai con
đường chớnh là thai nuốt nước ối và hấp thụ qua màng ối. Ngoài ra một phần
nước ối thoát qua màng ối và dõy rốn. Nguồn gốc tạo nước ối và tiêu nước ối
thay đổi theo tuổi thai.
1.1.1.1. Các con đường tạo nước ối
 Thận thai nhi
Nước tiểu được nhận thấy ở bàng quang của thai nhi vào đàu tuần thứ
11, tốc độ sản xuất nước tiểu hàng giờ của thai nhi tăng dần theo tuổi thai.
Theo Abramovich [16] thấy hiện tượng tạo nước tiểu có từ sớm, khi thai 10
tuần mỗi giờ đã sinh ra 0,6ml đến 0,7ml nước tiểu. Seeds [81] đã dùng siêu
õm nghiên cứu bài tiết nước tiểu theo giờ. Khi thai được 30 tuần, mỗi giờ sinh
9,6ml nước tiểu. Khi thai 40 tuần lượng nước tiểu tăng lên 27,3ml/giờ với
tổng lượng là 470ml/24 giờ và giảm xuống một chút khi thai 42 tuần
3
(24ml/giờ). Túm lại ở nửa sau thời kỳ thai nghén, mỗi ngày thai sản xuất
lượng nước tiểu bằng khoảng từ 20% đến 30% trọng lượng của thai.
Nồng độ urờ, acid uric, creatinin trong nước ối tăng dần theo sự trưởng
thành của thận thai khiến nước ối có thành phần tương tự như dịch gian bào [81].
 Phổi thai nhi
Khái niệm phổi thai chế tiết dịch mới được biết và cũn nhiềuớy kiến

[54] đã chứng minh TTNO được thai uống vào tăng dần theo tuổi thai, đạt
mức tối đa là 1006ml/ngày khi thai 40 tuần. Năm 1994 Brace và cộng sự [24]
nghiên cứu thấy rằng mức độ uống nước ối khác nhau tuỳ theo từng điều
kiện:
+ Thai bình thường uống 264 ± 43 ml/24h/kg trọng lượng thai
+ Thai thiếu oxy uống 92 ± 23ml/24h/kg
+ Thai thiếu oxy đã hồi phục uống 271 ± 24ml/24h/kg.
Túm lại mỗi ngày thai uống lượng nước ối nằng khoảng 20% đến 25%
trọng lượng của thai, ít hơn so với lượng nước tiểu do thai bài tiêt ra [23].
 Màng ối
Màng ối là màng xốp có tính chất bán thấm đối với nước, các chất điện
giải, urờ, glucose, creatinin, protein. Nước ối đi qua màng ối theo cơ chế thụ
động, với chiều từ buồng ối vào cơ thể mẹ lưu lượng khoảng 100ml/24giờ [30].
 Dây rốn
Bao phủ dõy rốn là một lớp tế bào biểu mô có ít nhung mao ở cực ngọn,
liên kết với nhau bởi các cầu nối chắc. Đến nửa sau của thời kỳ thai nghén, số
lượng vi nhung mao của tế bào tăng dần lên, các cầu nối gian bào không đều,
đôi khi không cũn. Abramovich [16] chứng minh hiện tượng thấm nước và
các chất sinh học của dõy rốn chỉ thực sự bắt đầu diễn ra từ tuần thứ 18. Có
5
tác giả nghiên cứu [89] chứng minh thai đủ tháng có 50ml nước được trao đổi
qua day rốn trong 24 giờ. Hiện tượng trao đổi nước và chất diễn ra ở đoạn dõy
rốn gần thai nhiều hơn ở đoạn dõy rốn gần bánh rau [89].
Mann và cộng sự [57] chứng minh con đường trao đổi nước ối qua da
thai, dây rốn, màng ối phần bánh rau tăng dần theo tuổi thai và đạt 393ml/ngày
khi thai 40 tuần.
1.1.2. Thể tích nước ối
Thể tích nước ối tăng một cách nhanh chóng từ thể tich trung bình
60ml ở tuần thứ 12 lên đến 980ml ở tuần thứ 36[73]. Sau đó nước ối giảm dần
khi gần đến ngày sinh [69]

thời kỳ thai nghén trở nên hơi đục do lẫn chất gõy, tế bào thượng bì,
long, chất bã, tế bào đường tiết niệu, tế bào õm đạo.
-
Hơi nhớt
-
Mựi tanh nồng
-
Tỷ trọng 1001
-
Hơi kiềm: pH từ 7,1 – 7,3
1.1.1.4. Hoỏ tính
-
97% là nước, 2-3% là muối khoáng và chất hoà tan
-
Chất vô cơ: Na+, K+, Mg++, Ca++
-
Chất hữu cơ: Protein, glucose, lipid, các hormone và các chất màu.
1.2. THIỂU ỐI VÀ TỶ LỆ THIỂU ỐI.
1.2.1. Thiểu ối
Định nghĩa thiểu ối chưa hoàn toàn được thống nhất, nhiều giới hạn
thiểu ối khác nhau tuỳ theo từng tác giả. Theo Phan Trường Duyệt và Nguyễn
Đức Hinh thiểu ối là lượng nước ối giảm so với lượng nước ối bình thường
tớnh theo tuổi thai và ở dưới đường percentile thứ 5 [5], [10]. Theo Phelan
(1987) thiểu ối là khi CSNO đo được dưới 50mml. Theo Magann [55] thiểu ối
là khi TTNO dưới 500ml, theo Poissonnier là dưới 200ml [92].
1.2.2. Tỷ lệ thiểu ối
Tỷ lệ thiểu ối thay đổi tuỳ theo từng tác giả, tiêu chuẩn chẩn đoán, đối
tượng nghiên cứu, phụ thuộc phương pháp xác định thăm dò.
Theo Hill và cộng sự (1983) [49] thăm dò cho 1408 thai phụ thấy tỷ lệ
thiểu ối là 0,43%.

hoàn của thai: nóo và tim được ưu tiên cung cấp mỏu, các cơ quan khác bị
giảm tưới mỏu (da, phổi…) và sự bài niệu bị giảm mạnh [90].
8
Trong suy thai trường diễn, biểu hiện kốm theo thiểu ối là thai kém phát
triển trong tử cung. Nguyên nhõn của thai kém phát triển trong tử cung kốm
theo thiểu ối là [90]:
-
Suy tuần hoàn tử cung rau: trong trường hợp mẹ bị THA hay TSG
nặng, dị dạng hoặc thiểu sản tử cung, u mạch màng đệm rau.
-
Đa dị tật, bất thường bộ nhiễm sắc thể của thai, nhiễm khuẩn mẹ và thai.
-
Hội chứng cho nhận trong song thai
Sự phõn bố lại tuần hoàn của thai dẫn đến việc cung cấp bất thường
oxy và chất dinh dưỡng cho các cơ quan của thai: mỏu được ưu tiên cung cấp
cho nóo, do đó duy trì sự phát triển của nóo, duy trì sự phát triển đường kớnh
lưỡng đỉnh, chu vi đầu bình thường trong khi chu vi bụng phát triển chậm lại.
Tiếp theo sau là giảm dòng mỏu và làm chậm lại sự phát triển của gan và các
cơ quan khác trong ổ bụng. Chiều dài của xương đùi ít thay đổi trừ trường
hợp thai kém phát triển trong tử cung thể nặng. Thai kém phát triển trong tử
cung chủ yếu liên quan đến cõn nặng và ít liên quan đến chiều dài thai.
Chẩn đoán thai kém phát triển trong tử cung thường dựa trên đo chu vi
đầu, chu vi bụng, chiều dài xương đùi để từ đó tớnh ra cõn nặng của thai tuy
nhiên có sai số từ 10% - 15%.
Có nhiều định nghĩa về thai kém phát triển trong tử cung được đưa ra,
nhưng phần lớn đều chấp nhận là trọng lượng thai nhỏ hơn đường thứ 10
percentil của tuổi thai [41], [75].
1.3.3. Do mẹ dùng một số thuốc điều trị trong quá trình mang thai
Hai nhúm thuốc chớnh được xác định là có liêen quan đến giảm thể tích
dịch ối là nhúm thuốc ức chế men chuyển (ACE) và nhúm ức chế tăng tổng

1.4. HẬU QUẢ CỦA THIỂU ỐI
Thiểu ối gây biến chứng từ 0,5 – 5% và cũng liên quan đến tăng tỷ lệ
bệnh tật, tỷ lệ tử vong chu sinh, tăng tỷ lệ đẻ ngôi ngược và mổ đẻ cho mẹ [29]
Theo Stoll (1990) [85] tỷ lệ biến chứng của thiểu ối là 1,9% và tỷ lệ này
ở Casey (2000) [26] là 2,3% và Chandra (1999) [30] là 4 – 5%.
1.4.1. Với con
1.1.1.5. Phân xu trong nước ối
Khi thể tích ối giảm dây rốn sẽ bị chèn ép, hoặc giảm chức năng bánh
rau và làm giảm cung cấp oxy và chất dinh dưỡng cho thai, khi oxy trong
cung cấp cho thai giảm kéo dài hoặc giảm quá mức dẫn đến tình trạng phõn
bố lại tuần hoàn thai nhi nhằm cung cấp oxy cho các cơ quan của thai : tim và
nóo là các cơ quan trọng yếu cần được ưu tiên cung cấp oxy, do đó giảm cung
cấp cho da, ruột dẫn đến tăng nhu động ruột gõy tống phõn xu ra buồng ối và
nhuộm xanh nước ối.
Tỷ lệ phõn xu trong nước ối ở thai phụ thiểu ối có tỷ lệ khá cao qua
nghiên cứu của một số tác giả. Theo Mercer và cộng sự ( 1984) [60] thấy 17%
thai phụ thiểu ối đã có phõn xu trong nước ối và Lin và cộng sự (1990) [53] tỷ
lệ phõn xu trong nước ối ở thai phụ thiểu ối là 25%. Golan và cộng sự ( 1994)
[43] 29,1% thai phụ thiểu ối có phõn xu trong nước ối
Theo Nguyễn Duy Tài [14] nghiên cứu 100 thai phụ thiểu ối tại bệnh
viện Hùng Vương từ 3/2001 đến tháng 8/2001 thấy tỷ lệ phõn xu trong nước
ối là 12 %.
Curdy (1993) [38] đã tổng kết kết quả nghiên cứu của một số tác giả và
tỷ lệ phõn xu trong nước ối của thai phụ thiểu ối như sau :
Sarno 28%
Robson 36%
Phelan 71%
Rutherford 56%.
11
1.1.1.6. Sự giảm nhịp tim thai xuất hiện từ 10 – 20% số thai phụ bị thiểu ối [90].

Phelan 86% 29%
Rutherford 30% 11%
1.1.1.9. Trẻ sơ sinh bị bệnh:
Chamberlin và cộng sự (1984) [29] đã báo cáo tỷ lệ trẻ sơ sinh bị bệnh
ở nhúm thiểu ối cao hơn nhúm chứng một cách có ý nghĩa.
Thiểu ối trung bình tỷ lệ trẻ sơ sinh bị bệnh là 2,5%, thiểu ối nặng là
9,4%, trong khi đó nhúm chứng tỷ lệ trẻ sơ sinh bị bệnh chỉ chiếm 0,54%.
Mercer và cộng sự (1984) [60] thấy 7% thiểu ối có thai bất thường và
Golan và cộng sự (1994) [43] 11% thai bất thường ở thai phụ thiểu ối.
Trong một số nghiên cứu gần đõy của các tác giả Casey (2000) [26] thì
tỷ lệ trẻ sơ sinh bị bệnh của nhúm thiểu ối là 7%, trong khi đó nhúm chứng
chỉ là 2%, sự khác biệt này có ý nghĩa với p<0,001.
Theo Fournet [90] trong các biến chứng của trẻ sơ sinh thì thiểu sản
phổi là nặng nhất. Sinh lý bệnh học rất phức tạp và sự thiểu sản phổi liên quan
đến nhiều hiện tượng : áp lực ngoài lồng ngực, cử động hô hấp của thai kém
và gradient giữa áp lực trong lòng các phế nang và khoang ối. Khả năng xảy
ra thiểu sản phổi phụ thuộc nhiều yếu tố:
- Thời điểm xuất hiện thiểu ối : nguy hiểm nhất là vào giai đoạn từ 17 đến
26 tuần vì giai đoạn này là giai đoạn hình thành và phát triển các phế nang.
- Thời gian kéo dài của thiểu ối: nhất là kéo dài trên 1 tuần
- Mức độ của trầm trọng của thiểu ối.
Tiên lượng cho các trường hợp này thường rất xấu mặc dù đứa trẻ sống
và thường để lại di chứng.
13
Ngoài ra có thể gặp các bất thường do sự nén cơ học: khoốo chõn, tay,
cứng khớp
1.1.1.10. Tử vong chu sinh
Tỷ lệ tử vong chu sinh ở những trẻ sinh ra từ thai phụ thiểu ối cao hơn
so với nhóm chứng một cách có ý nghĩa, theo Bastid và cộng sự (1986) tỷ lệ
tử vong chu sinh ở nhóm thiểu ối là 132,7/1000 và ở nhóm chứng là

Mercer và cộng sự (1984) [60] thiểu ối làm tăng tỷ lệ đẻ ngôi ngược từ
8 – 13%.
Golan và cộng sự (1994) [43] 17% thai phụ thiểu ối đẻ ngôi ngược.
1.1.1.12. Tăng tỷ lệ mổ đẻ
Conway và cộng sự (1998) [35] thấy tỷ lệ mổ đẻ ở nhúm thiểu ối cao
hơn so với nhúm chứng một cách có ý nghĩa (15,8% và 6,6%). Golan và cộng
sự (1994) [43] là 32,5%.
Corosu và cộng sự (1999) [36] tỷ lệ mổ đẻ ở nhúm thiểu ối vì thai có
nguy cơ suy là 66%. Casey (1998) [26] tỷ lệ mổ đẻ vì thai suy là 6%.
1.5. CHẨN ĐOÁN THIỂU ỐI
1.5.1. Lâm sàng [5], [76]
- Chiều cao tử cung nhỏ hơn so với tuổi thai, vòng bụng nhỏ.
- Thai cử dộng kém.
- Khám dễ sờ thấy các phần thai, không thấy dấu hiệu bập bềnh thai.
1.5.2. Phương pháp siờu âm để đánh giá thể tích nước ối
Khi siêu õm ra đời, chẩn đoán siêu õm đánh giá TTNO đã thay thế cho
mọi kỹ thuật trước đó. Có nhiều phương pháp đo TTNO.
1.1.1.13. Phương pháp đo độ sâu tối đa nước ối
15
Năm 1981, tác giả Hill, Manning và Platt đã đề xuất phương pháp đo
ĐSTĐNO [50]. Ban đầu ĐSTĐNO được sử dụng như là một trong nhiều
thông số để đánh giá sinh lực của thai, để phát hiện nguy cơ thai nghén cao.
Độ sõu tối đa nước ối là bề dày tối đa của vùng nước ối lớn nhất. Trong chỉ số
sinh lực thai, Manning coi tiêu chuẩn của thiểu ối là khi đo ĐSTĐNO dưới
1cm ( quy tắc 1cm). Hầu hết thường đo ở khu vực chi của thai hay gáy của
thai [50].
Năm 1984, Chamberlain và Manning [28], [29] xác định ĐSTĐNO cho
7562 thai phụ có nguy cơ cao và đã tỡm ĐSTĐNO bình thường từ 2cm –
8cm, dưới 1cm là thiểu ối, từ 1cm đến 2cm là thiểu ối ở mức giới hạn. nhưng
cũng có tác giả khác lại đưa ra tiêu chuẩn 2cm hay 3cm (Sabbagha) [79].

2
đến 50cm
2
-
Thiểu ối: dưới 15cm
2
-
Đa ối: trên 50cm
2
Về độ tin cậy của các kỹ thuật, Magann và cộng sự [56] đã tién hành
nghiên cứu so sánh mức độ chớnh xác của cả ba phương pháp ĐSTĐNO,
CSNO và HKTNO thấy rằng cả ba kỹ thuật siêu õm đều có độ chớnh xác vừa
phải trong trường hợp nước ối bình thường, đa ối hay thiểu ối. Halperin và
cộng sự [44] thấy các phương pháp đánh giá TTNO bằng siêu õm có sai lệch
trong một người đo giữa nhiều người đo rất ít, đều là những phương pháp tốt.
Magann và cộng sự [55] tiến hành nghiên cứu áp dụng qui tắc 2 x 2cm
(phương pháp HKTNO) để chẩn đoán thiểu ối. Nghiên cứu dựa trên so sánh
đối chiếu với TTNO cùng thời điểm xác định bằng phương pháp pha loóng
chất màu. Tác giả thấy rằng qui tắc 2 x 2cm đã để lọt 90% số trường hợp
thiểu ối.
Năm 1990, Moore [63] chứng minh ưu thế của CSNO so với ĐSTĐNO
trong việc xác định nước ối bất thường. Độ nhạy của chẩn đoán thiểu ối trong
ĐSTĐNO chỉ là 58% so với CSNO.
17
Năm 2004, Moore [64] nghiên cứu trên 1584 thai phụ thấy 7,9% có
CSNO dưới 5cm trong khi đó đo ĐSTĐNO chỉ có 1,4% dưới 2cm.
Theo Nguyễn Đức Hinh [11] cũng thấy rằng CSNO có tớnh ưu việt hơn
hẳn so với ĐSTĐNO vì:
-
Sai lệch của phép đo CSNO thấp hơn với sai lệch của phép đo ĐSTĐNO

Nếu CSNO ≤ 28mm tiên lượng kém, mổ lấy thai trong vòng 6giờ
Nếu 28mm < CSNO ≤ 40mm: nên đình chỉ thai nghén bằng cách gây
chuyển dạ, theo dõi bằng Monitor, nếu thấy thai có dấu hiệu suy thì mổ lấy thai.
Nếu 40mm < CSNO ≤ 60mm: Phải theo dõi sát hàng ngày bằng siêu
âm để phát hiện TTNO giảm để xử trí kịp thời
1.6.1. Siêu âm để đánh giá thể tích nước ối
1.6.2. Theo dõi nhịp tim thai bằng Monitor sản khoa [7]
Năm 1966, Hammocher lần đầu tiên đã trình bày lợi ích lõm sàng của
việc nghiên cứu các biến động của nhịp tim thai bằng Monitor sản khoa [1].
1.1.1.15. Các test thăm dò [1]
• Test không tác động (NST: Non-stress test): [1]
Là việc ghi lại biểu đồ nhịp tim thai trong điều kiện vắng mặt các cơn
co tử cung nhằm khảo sát đáp ứng tăng nhịp tim thai tiếp theo sau các cử
động của thai. thời gian thực hiện tối thiểu là 30 phút.
Test không tác động gọi là có đáp ứng nếu trong 20 phút theo dừi có ít
nhất 2-5 cử động thai và tiếp theo mỗi cử động thai là một đáp ứng tăng nhịp
tim thai. trường hợp ngược lại thì gọi là test không đáp ứng.
19
Đứng trước một NST không đáp ứng cần thiết phải loại trừ tình trạng
ngủ của thai.
• Test tác động (Stresse test): [1]
Test này nhằm đánh giá khả năng chịu đựng của thai về tình trạng thiếu
oxy do những cơn co tử cung gõy ra giảm sự tưới mỏu tử cung – rau.
Thường dùng Oxytocin để gõy cơn co tử cung hoặc kích thích núm vú.
-
Kết quả dương tớnh khi xuất hiện nhịp tim thai chậm muộn (DIP II)
thường xuyên.
-
Kết quả õm tớnh khi nhịp tim thai không thay đổi về tần số và biên độ.
-

Thực hiện khi :
-
CSNO ≤ 28mm
-
Có chống chỉ định khởi phát chuyển dạ.
-
Khởi phát chuyển dạ bằng thuốc không kết quảthất bại
-
Thai suy trong chuyển dạ
-
Test có tác động dương tớnh
21
Chương 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu được tiến hành tại khoa đẻ của Bệnh viện Phụ sản Trung
ương từ tháng 2 – 2009 đến tháng 7 – 2009.
2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
2.1.1. Tiêu chuẩn chọn đối tượng
- Tất cả các phụ nữ Việt nam vào đẻ tại bệnh viện Phụ sản Trung ương
-
Tuổi thai từ 387 tuần trở lên tính theo ngày đầu kỳ kinh cuối
-
Chu kỳ kinh nguyệt đều, nhớ chính xác ngày đầu kỳ kinh cuối hoặc
tuổi thai được khẳng định bằng siêu âm trong quớ I của thai kỳ khi
không nhớ chính xác ngày đầu kỳ kinh cuối.
-
Có một thai và thai sống
-
Được chẩn đoán siêu âm có chỉ số ối ≤ 60mm
-

Trong đó:
n: Cỡ mẫu của nhúm nghiên cứu
p = 0,0781 (tỷ lệ thiểu ối ở thai 41 tuầnmắc bệnh sơ sinh ở thai thiểu ối
trở lên theo nghiên cứu của DivonTriệu Thuý Hường [124,52]**))
q = 1 – p
δ : là độ lệch sokhoảng sai lệch mong muốn giữa tỷ lệ thu được và tỷ lệ
của quần thể với thực tế là 5%
Z(1-α/2): hệ số tin cậy với giả thiết là 95% tra từ bảng phân phối chuẩn = 1,96.
n = 139
Như vậy tính theoTừ công thức nàytrên, tổng số đối tượngthai phụ
phải nghiên cứu là: n = 111 thai phụ39 thai phụ.
Dự kiến số thai phụ bỏ theo dõi trong luc nghiên cứu la 10%
111 x 10% ≈ 11 thai phụ
Tổng số thai phụ phải nghiên cứu:
111 + 11 = 122
Như vậy, tính theo công thức này, tổng số đối tượng phải nghiên cứu là 122
thai phụ
Cách chọn mẫu: áp dụng cách chọn mẫu không xác suất(mẫu tiện lợi)
thệ thống (phương pháp chọn mẫu xác xuất). Trên cơ sở các thai phụ có tuổi
23
thai từ 387 tuần (tớnh theo ngày đầu kỳ kinh cuối cùng hoặc có siêu õm trong
quý I của thai để xác định tuổi thai) trở lên vào khoa đẻ do có CSNO ≤ 60mm
dấu hiệu chuyển dạ và/hoặc có chỉ định đình chỉ thai nghén do thiểu ốiCSNO
≤ 40mm.
Đối với nhúm so sánh: cứ 1 thai phụ có thiểu ối được chọn vào nhúm
nghiên cứu sẽ chọn ngẫu nhiên 2 thai phụ có CSNO > 60mm, có cùng các tiêu
chuẩn khác của nhúm nghiên cứu vào khoa đẻ cùng thời điểm hoặc ngay
trước, ngay sau thai phụ được chọn vào nhúm nghiên cứu. Như vậy, nhúm so
sánh có tổng số là : 2272 thai phụ.
2.2.3. Yếu tố nghiên cứu và phương pháp thăm dò

2.2.3.2. Các tiêu chuẩn có liên quan đến nghiên cứu
 Biến động nhịp tim thai [7]
 Nhịp tim thai bình thường :
-
Nhịp tim thai cơ bản dao động từ 120-160 lần/ phút
-
Biên độ dao động: 5 – 25 nhịp/phỳt.
-
Tần số dao động: 2 – 6 chu kỳ/phỳt.
-
Có nhịp tim thai tăng: Là sự gia tăng nhất thời của nhịp tim thai, có
biên độ ít nhất là 15 nhịp/phỳt và kéo dài ít nhất 15 giây, thường xuất
hiện sau cử động của thai chứng tỏ tình trạng khoẻ mạnh của thai.
 Nhịp tim thai không bình thường:
-
Nhịp tim thai cơ bản nhanh: > 160lần/phỳt
-
Nhịp tim thai cơ bản chậm: < 120lần/phỳt
-
Nhịp tim thai phẳng: biên độ dao động < 5nhịp/phỳt
-
Nhịp tim thai chậm sớm (DIP I): trên Monitor xuất hiện nhịp tim thai
chậm nhất khi cơn co tử cung có cường độ cao nhất(đỉnh thấp nhất của
đường ghi nhận nhịp tim thai và đỉnh cao nhất của cơn co tử cung nằm
trên một đường thẳng
-
Nhịp tim thai chậm muộn (DIP II): Nhịp tim thai chậm nhất vào thời
điểm sau khi cơn co có cường độ cao nhất là 21 giây trở lên (đỉnh thấp
nhất của đường ghi nhận nhịp tim thai nằm sau đỉnh cao nhất của cơn
co tử cung. Sau khi hết cơn co nhịp tim thai vẫn tiếp tục chậm.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status