Bộ giáo dục v đo tạo - Bộ quốc phòng
Học viện quân y lê đức mẫn
nghiên cứu một số yếu tố nguy cơ v biện pháp
điều trị dự phòng nhiễm khuẩn huyết bỏng
tại viện bỏng quốc gia. Chuyên ngành : Phẫu thuật đại cơng
Mã số : 3.01.21 Tóm tắt Luận án tiến sỹ y học
Hà Nội 2007
Công trình đợc hoàn thành tại: Học viện quân y
Những công trình đ công bố của tác giả
có liên quan đến luận án 1. Lê Đức Mẫn, Lê Năm, Nguyễn Văn Việt (2005), Vai trò của CRP trong nhiễm
khuẩn huyết ở bệnh nhân bỏng nặng. Tạp chí Y học thực hành, 12, tr. 54-56.
2. Lê Đức Mẫn, Nguyễn Gia Tiến (2006), Một số nhận xét về mối liên quan giữa nồng
độ IgG, IgM, IgA, số lợng tế bào TCD4, TCD8 với nhiễm khuẩn huyết và tử vong ở
bệnh nhân bỏng nặng, Tạp chí Y học thảm hoạ và Bỏng, 2, tr. 50-57
3. Lê Đức Mẫn, Hoàng Ngọc Hiển (2005), Relationship between burn wound bacteria
quantity and bacteraemia incidence, Program and Abstracts of 5
th
Asian Pacific Burns
Congress, November 4-7
th
, 2005 Shanghai, China, p.318.
lâm sàng, cận lâm sàng, cấy máu nhiều lần bằng máy.
2. Đánh giá đợc hiệu quả của bốn biện pháp điều trị can thiệp có tác dụng
trong dự phòng nhiễm khuẩn huyết bỏng.
2
Bố cục của luận án: Luận án có 149 trang (không kể phụ lục), gồm 4
chơng, tổng quan: 31 trang; đối tợng phơng pháp nghiên cứu: 22 trang;
kết quả nghiên cứu: 36 trang (gồm 49 bảng, 7 biểu đồ); bàn luận: 32 trang,
danh mục 208 tài liệu tham khảo (tiếng Việt: 70; tiếng Anh: 131; tiếng
Pháp: 6 ; tiếng Nga: 1).
Chơng 1
Tổng quan ti liệu
1.1. Một số yếu tố nguy cơ gây nhiễm khuẩn huyết bỏng: Rối loạn miễn
dịch gặp ngay sau chấn thơng bỏng, cơ thể bị các rối loạn cả về miễn dịch
dịch thể và miễn dịch tế bào. Các rối loạn này xảy ra chủ yếu trong thời kỳ
1 và thời kỳ 2 của bệnh bỏng, có thể dẫn đến xóa bỏ miễn dịch làm cho tỷ
lệ tử vong tăng cao.Theo Lê Thế Trung, các tổn thơng miễn dịch sau bỏng
xảy ra sớm, diễn biến kéo dài.
Hoại tử bỏng là nguồn gốc sinh ra nhiều
chất gây suy giảm miễn dịch bao gồm: Độc tố bỏng, các kháng thể tự thân,
các đa peptit gây ức miễn dịch. Hỗn chất LPC (lipid protein complex) còn
gọi là độc tố bỏng, có khả năng gây ức chế và xoá bỏ miễn dịch rất mạnh,
hơn cả nội độc tố hàng nghìn lần Biểu hiện của rối loạn miễn dịch trong
bỏng là giảm số lợng các tế bào lympho B, lympho T
. Giảm số lợng và
chức năng bạch cầu máu ngoại vi.
Giảm nồng độ các kháng thể trong máu.
Vết thơng bỏng rộng, độ sâu lớn, số lợng và chủng loại vi khuẩn trên vết
bỏng là những yếu tố nguy cơ trực tiếp trên bệnh nhân làm cho cơ thể giảm
-
Lọc máu liên tục tĩnh mạch-tĩnh mạch làm giảm tỷ lệ biến chứng
xuất huyết tiêu hoá, nhiễm khuẩn huyết và giảm tỷ lệ tử vong do nó
loại
thải đợc một số chất độc lu hành trong máu bệnh nhân bỏng nặng dựa
trên sự khuếch tán và đối lu, nên có hiệu quả với các chất có trọng lợng
phân tử trung bình và lớn nh : Độc tố bỏng, nội độc tố vi khuẩn, một số
chất trung gian hoá học, một số cytokin. Lọc máu liên tục thải đợc độc
tố và nớc liên tục nhng chậm, nên ít ảnh hởng đến huyết động. 4
Chơng 2
Đối tợng v phơng pháp nghiên cứu
2.1 Đối tợng nghiên cứu
454 bệnh nhân (BN) từ 6tháng đến 60 tuổi điều trị tại khoa Hồi sức
cấp cứu Viện Bỏng Quốc Gia từ tháng 1 năm 2002 đến tháng 12 năm 2004;
diện bỏng chung: 20 - 96%; diện bỏng sâu: 0% - 80% DTCT. Vào viện
trong 72 giờ đầu sau bỏng. Nghiên cứu đợc tiến hành theo hai giai đoạn:
Giai đoạn 1: Tiến hành trong hai năm 2002 và 2003, nghiên cứu theo dõi
trên 302 BN bỏng nặng trong đó có 76 BN bị nhiễm khuẩn huyết (NKH)
nhằm tìm ra các yếu tố nguy cơ (xác định mục tiêu 1).
Giai đoạn 2: Tiến hành trong năm 2004, nghiên cứu các biện pháp can
thiệp điều trị dự phòng NKH trên 152 BN (Xác định mục tiêu 2). BN đợc
chia hai nhóm:
Nhóm nghiên cứu (118 BN) ngời lớn bỏng nặng (tuổi từ
16-55), có diện tích bỏng chung từ 30-50% DTCT (397,8%) và diện tích
bỏng sâu từ 10-30% DTCT (179,52%). Tiến hành nghiên cứu các biện
pháp chủ yếu là: Cắt bỏ hoại tử sớm, ghép da ngay (da tự thân, đồng loại
hoặc dị loại). Nuôi dỡng sớm qua đờng tiêu hoá. Truyền khối bạch cầu
* Nuôi dỡng sớm qua đờng tiêu hoá tiến hành trên 69 BN ngời lớn.
Chia 2 nhóm: Nhóm nghiên cứu (35 BN): đợc nuôi dỡng sớm đờng ruột
trong vòng 72 giờ đầu sau bỏng qua sonde dạ dày. Nhóm chứng (34 BN)
nuôi dỡng bằng đờng tĩnh mạch và đờng ruột ở thời điểm muộn (sau 72
giờ).
*Truyền khối bạch cầu giàu bạch cầu đa nhân trung tính. Chỉ định: BN
bỏng nặng có số lợng bạch cầu máu ngoại vi <4.10
9
/lít. Tiến hành trên 60
BN ngời lớn có số lợng bạch cầu máu ngoại vi (<4.10
9
/l) đợc chia 2
nhóm. Nhóm nghiên cứu: 32 BN có giảm bạch cầu máu ngoại vi đợc
truyền khối bạch cầu giàu bạch cầu đa nhân trung tính.
Nhóm chứng:
28BN có diện tích bỏng chung và diện độ sâu tơng đơng (P>0,05) là
nhóm bệnh nhân bị giảm bạch cầu nhng không đợc truyền khối bạch
cầu.
6
*
Lọc máu liên tục tĩnh mạch tĩnh mạch. Chỉ định: Bệnh nhân có hội
chứng nhiễm độc, nhiễm khuẩn do bỏng nặng, thời gian từ ngày thứ 4 đến
14 sau bỏng. Tiến hành trên 67 bệnh nhân ngời lớn chia 2 nhóm: Nhóm
đợc lọc máu gồm 33 bệnh nhân. Nhóm chứng gồm 34 bệnh nhân đợc
điều trị thông thờng bằng truyền dịch, lợi tiểu thải độc
2.3.2 Phơng pháp nghiên cứu cận lâm sàng
* Cấy khuẩn máu và vết bỏng .Qui trình kỹ thuật theo phơng pháp
thờng qui vi sinh vật. Khi có chỉ định cấy máu, để tránh các sai sót kỹ
thuật, mỗi BN đều đợc cấy máu hai lần liên tục cách nhau 15 đến 30 phút,
53
b
(22,94)
231
Sai 8 3 11
Tổng 226 76 302
P(a-b)<0,05
RR=1,45
7
- Nguy cơ nhiễm khuẩn huyết ở nhóm không đợc xử trí kỳ đầu cao gấp
1,45 lần so với nhóm có đợc xử trí kỳ đầu đúng (P<0,05).
3.2.5 Liên quan nhiễm khuẩn huyết bỏng với mức độ sốc bỏng.
Bảng 3.7: Liên quan nhiễm khuẩn huyết với mức độ sốc bỏng.
Số lợng bệnh nhân
Mức độ sốc bỏng
Không NKH NKH Tổng
P
Sốc nặng và rất nặng 94
42
a
136
Sốc vừa 105
31
b
c
10
d
3 21
K.pneumoaniae
2 1 0 3
E. cloacae
0 2 0 2
A. baumanii
0 1 0 1
E. coli
0 1 0 1
Tổng 136 136 30 302
P(a-b)<0,01
RR(a-b)=1,9
P(c-d)>0,05
RR(c-d)=0,8
- Nhiễm khuẩn huyết do P. aeruginosa ở nhóm sốc bỏng nặng và rất nặng
cao gấp 1,9 lần ở nhóm sốc vừa (P<0,01). Trong khi sự khác biệt không có
ý nghĩa thống kê ở nhóm nhiễm khuẩn huyết do S. aureus khi so sánh hai
mức độ sốc (P>0,05, RR=0,8).
8
3.2.6. Liên quan nhiễm khuẩn huyết với diện tích bỏng chung.
Bảng 3.9: Liên quan nhiễm khuẩn huyết với diện tích bỏng chung.
Số lợng bệnh nhân
Diện tích bỏng
Tổng 226
76
302
P(b-a)<0,01
RR(b-a)=3,13
P(c-b)<0,05
P(c-b)=1,2 -
Diện tích bỏng càng rộng, nguy cơ NKH bỏng càng cao. Nguy cơ NKH
gấp 3,13 lần ở nhóm diện tích bỏng từ 30-39% DTCT so với nhóm có diện
tích bỏng từ 20-29% DTCT (P<0,01). Nguy cơ NKH gấp 1,2 lần ở nhóm
diện tích bỏng từ 40-49% DTCT so với nhóm có diện tích bỏng từ 30-39%
DTCT.
Bảng 3.10: Liên quan nhiễm khuẩn huyết với diện tích bỏng sâu.
Số lợng bệnh nhân. Diện tích
bỏng sâu
Không NKH NKH(%) Tổng
P
Bỏng nông 63
11
a
(14,86)
74
1-9% 35
7
P(b-a)>0,05
RR(b-a)=1.1
P(c-b)<0,01
RR(c-b)=2,25
-
Có 11 BN bị NKH không có bỏng sâu (14,86%). NKH ở nhóm bỏng nông
và nhóm có diện bỏng sâu từ 1-9% không có sự khác biệt (P>0,05,
RR=1,1). Diện tích bỏng sâu càng lớn, nguy cơ NKH càng cao. Khi so
9
sánh tỷ lệ NKH ở nhóm có diện tích bỏng sâu từ 10-19% và nhóm có độ
sâu từ 1-9% đã có sự khác biệt (P<0,01) và nguy cơ nhiễm khuẩn huyết
cao gấp 2,2 lần.
3.2.8. Liên quan nhiễm khuẩn huyết với vị trí bỏng.
Bảng 3.13: Liên quan nhiễm khuẩn huyết với vị trí bỏng.
Số lợng bệnh nhân
Vị trí bỏng
Không NKH NKH
P
Chẩm + gáy (n=20) 9
1
Thân sau (n=115) 91
24
72
16
a
88
N 5 - 7
75
38
b
113
N 8 - 10
89
10
c
99
N 11 - 15
52 13 65
N 16 - 20
64 7 71
N 21 45
31 4 35
Tổng
383 88 471
P(b-a)<0,01
RR(b-a)=1,85
P(b-c)<0,01
RR(b-c)=3,3
- Trong 471 mẫu cấy máu có 88 mẫu dơng tính (76 BN bị NKH).
- Ngày thứ 3 sau bỏng đã có BN bị nhiễm khuẩn huyết, nhng hay gặp là
cuối tuần đầu (ngày thứ 5 7 sau bỏng). Thời điểm này, nguy cơ nhiễm
khuẩn huyết cao nhất, gấp 1,85 lần (P<0,01) so với thời điểm N 3-4 sau
có 181 69 250 Phù nề toàn
thân
không 42 10 52
>0,05
có 18 6 24 Phế quản,
phế viêm
không 205 73 278
>0,05
-
Đây là một số dấu hiệu lâm sàng xuất hiện trớc khi có biểu hiện của
NKH. Các triệu chứng này làm nặng thêm diễn biến bệnh bỏng. Nguy cơ
NKH ở những bệnh nhân bị bỏng hô hấp cao gấp 1,4 lần những bệnh nhân
không bị bỏng hô hấp (P<0,05). Nguy cơ NKH ở những bệnh nhân bị ỉa
chảy kéo dài cao gấp 1,3 lần những bệnh nhân không bị triệu chứng này
(P<0,05). Không có sự khác biệt về yếu tố nguy cơ ở những bệnh nhân bị
phù nề toàn thân,
phế quản-phế viêm và xuất huyết tiêu hoá (P>0,05).
3.2.12. Liên quan nhiễm khuẩn huyết bỏng với một số yếu tố cận lâm
sàng
Bảng 3.22: Nồng độ kháng thể ở 12 bệnh nhân trớc khi bị nhiễm
khuẩn huyết (n=12) (mg/dl) so với giá trị sinh lý bình thờng.
Chỉ tiêu Kết quả Giá trị bình thờng
P
IgG
780,1 164,87
1100 <0,01
<0,01
CD4/CD8
0,78 0,20 2,04 0,46 -
Nồng độ IgG ở nhóm NKH do TKMX thấp hơn bình thờng (P<0,01) và
thấp hơn nhóm NKH do tụ cầu vàng (P<0,01). Nồng độ IgM, IgA, số lợng
TCD4,TCD8 thấp, tỷ số CD4/CD8<1 ở nhóm nhiễm khuẩn huyết do trực
khuẩn mủ xanh so với nhóm nhiễm khuẩn huyết do tụ cầu vàng (P<0,01).
3.2.12.2 Biến đổi nồng độ CRP (C reactive protein) trong máu
.
Bảng 3.26: Mối liên quan giữa nồng độ CRP (mg/l) trong máu (lần 1-
CRP1) và nhiễm khuẩn huyết (thời điểm trớc khi bị NKH) (n=54).
Nhóm Số bệnh nhân Nồng độ CRP lần 1
Không bị NKH 34
90,176 6,166
NKH 15
117,2 9,329
P
<0,05 (P=0,0194)
- Trong 54 BN đợc lấy máu định lợng CRP lần 1 (có 5 BN có kết quả
CRP âm tính)và 15 BN tiến triển thành NKH. Nồng độ CRP trong máu ở
những BN bị NKH cao (>100mg/l) hơn hẳn so với nhóm không tiến triển
thành NKH (P<0,05).
(1,210,67).10
7
84
28
b
n=86
(1.320,19).10
8
52
34
c
Tổng 219
67
P(b-a)<0,01
RR(b-a)=2,9
P(c-b)<0,05
RR(c-b)=1,6
- Số lợng vi khuẩn (SLVK)/1cm
2
bề mặt vết bỏng là 10
5
không có trờng
hợp nào NKH. Với SLVK là 10
6
đã có BN bị NKH. Nguy cơ NKH cao gấp
2,9 lần ở những vết bỏng có SLVK là 10
7
so với SLVK là 10
6
67
286
P(b-a)<0,01
RR(b-a)=1,7
P(c-b)<0,05
RR(c-b)=1,5
- Sự kết hợp vi khuẩn trên vết bỏng thờng là: TKMX,TCV,
K.pneumoniae - Nguy cơ NKH ở vết bỏng có 2 loài VK cao gấp 1,7 lần
những vết bỏng có 1 loài VK (P<0,01). Nguy cơ nhiễm khuẩn huyết ở vết
bỏng có 3 loài vi khuẩn cao gấp 1,5 lần những vết bỏng có 2 loài vi khuẩn
(P<0,05).
13
3.2.12.4. Liên quan nhiễm khuẩn huyết với số lợng vi khuẩn/1gam mô
hoại tử.
Bảng 3.33: Mối liên quan giữa số lợng vi khuẩn (SLVK)/1g mô hoại tử
với nhiễm khuẩn huyết (n=60).
Số BN SLVK/1g mô Số BN bị NKH P
n=5
(93).10
5
0
n=9
(13,12,5).10
6
1
9
/lit)
(X SE)
( ì 10
9
/lit)
Không NKH NKH
P
4 (n=119) 3,010,21
81
38
a
4,111,9(n=150)
8,30,72
119
31
b
12(n=33) 14,31,2
26
7
c
Tổng
6,150,24
226 76
P(a-b)<0,05
RR(a-b)=1,5
P(c-b)<0,05
RR(c-b)=1,2
RR(a-c)=1,3
P
Nhóm CBHTS (n=18) 16 2(14,28)
Nhóm chứng (n=34) 23 11(32,35)
Tổng (n = 52) 39 13
<0,05
- Tỷ lệ NKH ở nhóm đợc phẫu thuật cắt bỏ hoại tử sớm, ghép da ngay
thấp hơn so với nhóm chứng (P<0,05).
3.3.2 Nuôi dỡng sớm qua đờng tiêu hoá
Bảng 3.40: Mối liên quan giữa nhiễm khuẩn huyết và nuôi dỡng sớm
qua đờng tiêu hoá.
Số lợng bệnh nhân (n=69)
Nhóm
Không NKH NKH(%)
P
Nuôi dỡng sớm (n=35) 30
5(14,28)
Nhóm chứng (n=34) 23
11(32,35)
Tổng (n=69) 53 16
<0,05
- Tỷ lệ NKH ở nhóm đợc nuôi dỡng sớm qua đờng tiêu hoá thấp hơn ở
nhóm chứng. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với P<0,05.
3.3.3. Truyền khối bạch cầu giàu bạch cầu đa nhân trung tính.
11(32,35)
Tổng (n=67) 51 16
<0,05
- Tỷ lệ bệnh nhân bị nhiễm khuẩn huyết ở nhóm đợc lọc máu thấp hơn
nhóm chứng. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với (P<0,05).
Chơng 4
Bn luận
4.1 Một số yếu tố nguy cơ nhiễm khuẩn huyết bỏng.
4.1.1 Nhiễm khuẩn huyết bỏng liên quan tới xử trí bỏng kỳ đầu
.
Xử trí bỏng kỳ đầu bao gồm xử trí ngay sau khi bị bỏng và xử trí ở y tế
tuyến trớc. Công tác này nếu làm đúng, kịp thời, nhất là những bệnh nhân
bỏng nặng sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các bớc hồi sức tiếp theo ở trung
tâm. Xử trí kỳ đầu đúng sẽ làm giảm mức độ bỏng, giảm độ sâu bỏng, hạn
chế và phòng sốc bỏng, tạo điều kiện cho điều trị ở thời kỳ sau của bệnh
bỏng dễ dàng hơn. Sơ cứu sai hoặc không sơ cứu, tuyến trớc điều trị toàn
thân không đúng, sử dụng thuốc tại chỗ sai, góp phần làm cho ngời bệnh
nặng hơn, dễ bị sốc nặng, điều trị gặp nhiều khó khăn, là những stress
mạnh, cơ thể ngời bệnh suy yếu dễ nhiễm khuẩn huyết sớm.
Theo Nguyễn Nh Lâm và CS, Gang R.K và CSxử trí kỳ đầu không
đúng, không hiệu quả, là một trong những nguy cơ NKH và các biến chứng
16
nặng khác. Mặt khác, bản thân các chất mà ngời nhà bôi lên vết bỏng
nh: nớc mắm, nhựa chuối làm ô nhiễm vết bỏng, ứ đọng dịch mủ, vết
bỏng chuyển độ sâu hơn. Trong nghiên cứu của chúng tôi, có 60 bệnh nhân
4.1.3. Nguy cơ nhiễm khuẩn huyết từ vết bỏng.
4.1.3.1. Diện tích bỏng chung rộng
.
Lê Thế Trung (2002) nghiên cứu tại Việt nam thấy: Khi diện tích
bỏng trên 20% DTCT ở trẻ em thì tình trạng suy giảm miễn dịch đã xuất
hiện rõ rệt [60]. Trong khi ở các nớc phát triển, trẻ em có diện tích bỏng
dới 35% DTCT rất hiếm khi bị NKH. Căn nguyên gây NKH có liên quan
tới diện tích bỏng. Theo Gang R.K, Bang R.L, NKH do TKMX xảy ra ở
những BN có diện tích bỏng chung trung bình là 60% DTCT (từ 25-90%).
NKH do tụ cầu vàng xảy ra ở những BN có diện tích bỏng chung trung
bình là 45% DTCT (từ 1-93%). Theo các tác giả này, diện tích bỏng trên
40% DTCT hay bị NKH do TKMX, trong khi các loài vi khuẩn khác
thờng gây NKH ở diện tích bỏng nhỏ hơn [
102]. Diện tích bỏng càng
rộng, diện tích da bị hủy hoại càng nhiều, chức năng bảo vệ của da không
còn. Bỏng rộng gây đau đớn quá mức cho ngời bệnh. Bỏng rộng làm mất
nhiều dịch, điện giải, protein, các thành phần của máu bị mất qua vết
thơng tất cả những yếu tố đó làm cho hệ miễn dịch của cơ thể bị tổn
thơng gây suy giảm hoặc xoá bỏ miễn dịch. Nghiên cứu của chúng tôi cho
thấy, diện tích bỏng càng rộng, nguy cơ nhiễm khuẩn huyết càng lớn
(P<0,05)
4.1.3.2. Diện tích bỏng sâu lớn
.
Phần lớn các BN bị nhiễm khuẩn huyết bỏng đều có bỏng sâu. Theo
nghiên cứu của Lê Thế Trung (1976): 100% bệnh nhân NKH do TKMX
đều bị bỏng sâu, có 33/41 BN (80,5%) bị bỏng sâu trên 20% diện tích cơ
thể (DTCT), chỉ có 12,2% số trờng hợp là bỏng sâu dới 10% DTCT.
Trong nghiên cứu của chúng tôi, có 11BN (14,86%) bị NKH không có
bỏng sâu. Không có sự khác biệt khi so sánh tỷ lệ NKH ở nhóm bỏng nông
và nhóm có diện tích độ sâu tử 1-9% DTCT (P>0,05). Khi so sánh tỷ lệ
giả về NKH đều cho rằng bạch cầu máu ngoại vi bệnh nhân NKH bỏng
thờng thấp. Số lợng bạch cầu máu ngoại vi giảm thấp vừa là yếu tố nguy
cơ NKH, vừa là hậu quả của NKH. Trong nghiên cứu của chúng tôi, nguy
cơ NKH ở nhóm có số lợng bạch cầu thấp ( 4.10
9
/l) gấp 1,5 lần so với
nhóm có số lợng bạch cầu bình thờng (P<0,05) và gấp 1,3 lần ở nhóm có
SLBC tăng ( 12.10
9
/l). Nguy cơ NKH ở nhóm có số lợng bạch cầu cao (
12.10
9
/l) gấp 1,2 lần nhóm có số lợng bạch cầu bình thờng (P<0,05).
19
4.1.5. Liên quan nhiễm khuẩn huyết bỏng với nồng độ các kháng thể:
IgG, IgA, IgM , số lợng các tế bào TCD4, TCD8 và tỷ lệ CD4/CD8.
Hệ miễn dịch bao gồm các kháng thể, các bổ thể, các tế bào viêm
(bạch cầu đa nhân trung tính, đại thực bào, lymphô bào ) đều bị ảnh
hởng trớc chấn thơng bỏng nặng, do stress, do đau, do rối loạn cân
bằng thể dịch, do rối loạn và tăng tính thấm thành vi mạch, thiếu ôxy mô tế
bào Những chất ức chế miễn dịch mạnh nh prostaglandin E2 (PGE2),
lipid protein complex (LPC) là những yếu tố tác động có hại tới hệ miễn
dịch ở những bệnh nhân bỏng nặng. Các chất cytokine nh tumor necrosis
factor (TNF), interleukine-1 (IL-1) và một số chất khác nh các gốc ôxy
độc (toxic oxygen radical) cũng làm suy giảm sức chống đỡ miễn dịch,
tạo điều kiện cho các biến chứng nhiễm khuẩn phát triển.
Theo Lê Thế Trung, ngay sau bỏng, nồng độ các globulin miễn dịch
giảm mạnh. Ngay ngày thứ hai sau bỏng, tất cả các immuno-globulin (Ig)
đều bị giảm thấp và phụ thuộc vào mức độ nặng của bệnh bỏng . Mức IgG
tổn thơng càng sớm càng tốt. Cắt hoại tử là cách thức loại bỏ hoại tử
mang tính chủ động, tích cực và phổ biến trong các phơng pháp loại bỏ
hoại tử hiện nay.
Trong nghiên cứu này, mặc dù số lợng BN nghiên cứu của chúng tôi
còn ít nhng bớc đầu cho thấy hiệu quả lâm sàng ở nhóm nghiên cứu
đợc cải thiện rõ rệt nh: Giảm tình trạng NK, nhiễm độc, giảm phù nề
toàn thân, giảm NK tại chỗ. Thời gian liền vết thơng sau bỏng nhanh hơn
5 ngày so với nhóm chứng. Tỷ lệ tử vong giảm (5,55%) so với nhóm chứng
(26,47%). Tỷ lệ BN bị NKH ở nhóm đợc cắt bỏ hoại tử sớm (trong 72 giờ
sau bỏng) ghép da ngay thấp (14,28%) so với nhóm chứng (32,35%)
(P<0,05).
4.2.2. Nuôi dỡng sớm bệnh nhân bỏng nặng qua đờng tiêu ho
á.
Trớc đây, do lo ngại tình trạng chớng bụng, nôn, trào ngợc và ruột
non không có khả năng hấp thu các chất dinh dỡng mà những BN bỏng
nặng không đợc nuôi dỡng qua đờng tiêu hoá trong thời kỳ sốc bỏng
(72 giờ đầu sau bỏng). Vì vậy , nuôi dỡng sớm qua đờng ruột thờng bị
trì hoãn và BN đợc nuôi dỡng chủ yếu qua đờng tĩnh mạch. Nuôi dỡng
qua đờng tĩnh mạch gây ra các biến chứng liên quan đến việc đặt và duy
21
trì catheter tĩnh mạch trung tâm, các rối loạn về chuyển hoá, tăng đờng
máu, thẩm lậu VK và nội độc tố từ ruột vào máu và các biến chứng khác.
Hiện nay, nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng nuôi dỡng đờng
ruột ngay sau bỏng (thời kỳ sốc bỏng) có thể thực hiện đợc với hiệu quả
tốt, an toàn. Nuôi dỡng đờng ruột càng sớm thì khả năng dung nạp càng
cao và ít biến chứng hơn khi mà cha có biểu hiện chớng bụng ngay sau
bỏng.
Theo Dijkstra H.M; Mason A.D; có khoảng 80% VK xâm nhập vào
máu từ vết bỏng, còn lại khoảng 20% không xác định đợc chính xác, trong
đợc truyền khối bạch cầu (32,14%) (P<0,05),
4.2.4. Lọc máu liên tục tĩnh mạch-tĩnh mạch.
Tham gia vào cơ chế bệnh sinh của bệnh bỏng có vai trò của các
cytokin. Chính hội chứng đáp ứng viêm hệ thống (SIRS) cùng với NK tại
chỗ và toàn thân nặng, kết hợp với nội độc tố của vi khuẩn kích thích cơ
thể sản xuất và giải phóng các chất trung gian viêm, các cytokin, các sản
phẩm chuyển hoá gây rối loạn chức năng tạng. Tiếp đó, bản thân rối loạn
chức năng tạng lại tác động gây hoạt hoá và giải phóng các mediator viêm,
các cytokin. Đây là một vòng xoắn bệnh lý, nếu không điều trị tốt, can
thiệp kịp thời sẽ nhanh chóng đa bệnh nhân tới tình trạng suy đa tạng và
tử vong.
Độc tố trong huyết thanh bệnh nhân phụ thuộc vào mức độ bỏng. Sự
xâm nhập của độc tố đã kích thích con đờng hoạt hoá bổ thể, tăng tạo
cytokin, tăng tạo các men phân huỷ protein, kích thích đáp ứng chuyển
hoá, sốc nhiễm độc-NK có thể xảy ra khi sản xuất quá nhiều các cytokin.
Trong nghiên cứu này, một u điểm nổi bật dễ nhận thấy trên lâm sàng
là sau lọc máu, tình trạng nhiễm khuẩn, nhiễm độc bỏng của bệnh nhân
giảm hẳn (bệnh nhân tỉnh táo hơn, sốt giảm, tình trạng chớng bụng đợc
cải thiện, khả năng bài tiết nớc tiểu tốt hơn, tăng số lợng nớc tiểu theo
giờ) so với nhóm không đợc lọc máu. Nhóm bệnh nhân đợc lọc máu
có tỷ lệ nhiễm khuẩn huyết thấp hơn so với nhóm không đợc lọc máu
(P<0,05).