nghiên cứu một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và phương pháp phẫu thuật các khối u buồng trứng tại bệnh viện phụ sản trung ương từ tháng 1- 2012 đến tháng 12- 2012 - Pdf 23

ĐẶT VẤN ĐỀ
U buồng trứng là một bệnh lý phụ khoa rất hay gặp và có xu hướng gia
tăng. Tại Mỹ, tỷ lệ ung thư buồng trứng mới mắc hàng năm chiếm 3% tổng số
ung thư nói chung (đứng hàng thứ 7) và tỷ lệ tử vong là 6% hàng năm (đứng
hàng thứ 4) [52]. Ở Canada u buồng trứng đứng thứ 5 sau u vú, u đại tràng, u
cổ tử cung và u thân tử cung [44]. Ở Pháp mỗi năm có khoảng 4.500 trường
hợp mới mắc và 3.500 trường hợp tử vong, tỷ lệ mắc và tỷ lệ chết là
9/100.000 và 5,5/100.000 [49]. Ở nước ta, u buồng trứng là loại khối u hay
gặp trong các khối u cơ quan sinh dục nữ, chỉ đứng thứ 2 sau u cơ trơn tử
cung. Ở phía Bắc, u buồng trứng chiếm tỷ lệ 3,6% các khối u sinh dục [9].
Buồng trứng là một tạng nằm sâu trong chậu hông bé nên u thường khó
phát hiện khi kích thước còn nhỏ vì không có triệu chứng hoặc các triệu
chứng không rõ ràng. Khi khối u to có thể có các triệu chứng như đau tức
vùng hạ vị, ra máu âm đạo bất thường, rối loạn kinh nguyệt, rối loạn tiêu
hoá…Chẩn đoán u buồng trứng thường không khó nếu kết hợp khám lâm
sàng với siêu âm ổ bụng và/hoặc chụp cắt lớp vi tính. Mặc dù vậy, trong
nhiều trường hợp để chẩn đoán lành tính hay ác tính trước mổ lại là một thách
thức lớn đối với các phẫu thuật viên do không có chẩn đoán tế bào và/hoặc
mô bệnh học. Các xét nghiệm như CA12.5, siêu âm ổ bụng, chụp cắt lớp vi
tính chỉ mang tính định hướng ung thư nhưng không chẩn đoán chắc chắn
được là lành hay ác, giữa lao hay ung thư. Tại các bệnh viện tuyến địa
phương, số bệnh nhân đến khám và điều trị u buồng trứng là phổ biến song vì
thiếu kinh nghiệm, thiếu các phương pháp chẩn đoán cận lâm sàng hỗ trợ
(định lượng CA 125, chụp cắt lớp vi tính, cộng hưởng từ, chẩn đoán tế bào
học…) nên gặp rất nhiều khó khăn trong việc lập kế hoạch phẫu thuật hoặc
chuyển viện cho bệnh nhân.
1
Ở Việt Nam, các nghiên cứu về u buồng trứng (UBT), đặc biệt là các
ung thư buồng trứng (UTBT) có khá nhiều và tương đối đầy đủ về triệu chứng
lâm sàng, cận lâm sàng (siêu âm, chẩn đoán mô bệnh học), kết quả điều trị
song hầu như ít có đề tài nghiên cứu nhằm phân biệt các UBT lành với các

1.1.1. Phôi thai học buồng trứng
BT bắt đầu biệt hóa vào cuối tuần thứ tám của quá trình phát triển phôi
nghĩa là muộn hơn sự biệt hóa của tinh hoàn. Bởi vậy, ở phôi tám tuần, nếu
tuyến SD không biểu hiện những đặc tính của nam giới, ta có thể nói rằng
tuyến SD ấy là BT [13]. Trong tuyến SD phôi có giới tính di truyền là nữ,
những dây SD nguyên phát (dây SD tủy) thoái hóa. Sự thoái hóa ấy tiến từ
vùng ngoại vi (vùng vỏ) vào vùng trung tâm (vùng tủy) của tuyến SD. Trong
khi đó, ở vùng vỏ xảy ra một đợt tăng sinh lần hai của các dây tế bào biểu mô
có nguồn gốc trung bì trung gian nằm phía dưới biểu mô khoang cơ thể phủ
mào SD, để chứa những tế bào SD nguyên thủy đã di cư tới đó. Trong các dây
3
này, những tế bào SD nguyên thủy biệt hóa thành những noãn nguyên bào, tế
bào đầu dòng của dòng noãn. Những dây tế bào biểu mô chứa noãn nguyên
bào tạo thành những dây SD thứ phát, còn gọi là dây SD vỏ vì nằm ở vùng
ngoại vi của tuyến SD. Những dây này tách rời khỏi biểu mô khoang cơ thể
phủ mào SD rồi đứt thành từng đoạn. Mỗi đoạn tạo ra một đám tế bào biểu
mô vây quanh noãn nguyên bào. Cũng như ở tinh hoàn, sau khi các dây tế bào
biểu mô tách rời khỏi biểu mô khoang cơ thể phủ mầm tuyến SD, trung mô sẽ
chen vào giữa biểu mô này với các dây SD để tạo ra màng trắng. Khác với ở
tinh hoàn, ở BT biểu mô khoang cơ thể phủ mầm tuyến SD tồn tại suốt đời và
trở thành biểu mô BT. Ở phôi thai và trẻ em, biểu mô này là một biểu mô
vuông đơn [77]. Noãn bào hoạt động gián phân rất tích cực để tăng nhanh số
lượng nhưng đại đa số noãn nguyên bào thoái hóa rồi biến đi trong thời kì
phôi thai. Trong thời kì này, số noãn nguyên bào còn lại lớn lên, biệt hóa
thành noãn bào I, chúng cùng với tế bào nang tạo thành nang trứng nguyên
thủy. Những nang trứng nguyên thủy được tạo ra vào khoảng tháng thứ tư của
thời kỳ trong bụng mẹ với số lượng khoảng 700.000 - 2 triệu, khi đến tuổi dậy
thì số nang này chỉ còn khoảng 400.000 vì các nang trứng nguyên thuỷ và các
noãn bào ở bên trong đã thoái hoá và tiêu biến phần lớn [74, 79].
1.1.2. Mô học

nang trứng có hốc và nang trứng có hốc điển hình.
Một nang trứng thuần thục bao gồm noãn bào, lớp tế bào hạt và lớp tế
bào vỏ. Các tế bào hạt mất cấu trúc lưới xung quanh, chúng tạo nên các cấu
trúc nhỏ giống hoa hồng gọi là thể Call- Exner, có chứa ở trung tâm các sợi
ưa toan mạnh gồm các màng dày. Các tế bào nguồn gốc mô đệm tạo thành lớp
trong (thường hoàng thể hóa điển hình) và một lớp ngoài gồm nhiều hàng tế
bào. Các tế bào vỏ lớp trong là nõi sản xuất các hormon steroid giới tính. Khi
mãn kinh, các nang trứng sẽ thoái triển. BT trở nên teo nhỏ, chắc và không
còn hoạt động [53, 79].
Ở rốn BT có các cụm tế bào giống như tế bào Leydig của tinh hoàn,
được gọi là tế bào rốn BT. Chúng nằm sát các tĩnh mạch lớn và bạch mạch
của rốn BT, có thể tạo thành những chỗ lồi vào lòng mạch. Chúng có liên
quan chặt chẽ tới thần kinh và có thể chứa các thể Reinke, lipid và sắc tố
Lipocron.
Dây BT có ở rốn BT, bao gồm một lưới các khe, ống nhỏ, nang, nhú,
được phủ bới lớp biểu mô có chiều cao khác nhau và được vây quanh bởi một
lớp mô đệm tế bào hình thoi [76, 79].
1.1.3. Sinh lý buồng trứng
BT của một bé gái mới lọt lòng có khoảng 500.000 bọc noãn nguyên thủy
cả ở 2 bên, giảm dần đến tuổi dậy thì còn khoảng 30.000 noãn. Trong hơn 30 năm
hoạt động của BT, chỉ khoảng 300 bọc noãn trưởng thành và phóng noãn.
6
Chức năng BT là sản xuất các tế bào SD và sản xuất các hormon SD.
Quá trình sản xuất các tế bào SD gọi là tạo noãn, tế bào SD đang phát triển
gọi là noãn bào, tế bào thuần thục gọi là trứng. Các hormon SD là estrogen và
progesteron. Estrogen kích thích sự phát triển và thành thục các cơ quan SD
trong và ngoài tạo nên những đặc tính nữ điển hình khi dậy thì. Progesteron
chuẩn bị cơ quan SD trong (chủ yếu là tử cung) để mang thai bằng kích thích
những thay đổi nội mạc. Ngoài ra, nó còn tác dụng kích thích tăng sinh tiểu
thùy tuyến vú để chuẩn bị cho tiết sữa.

Zealand: 11,9; Mỹ: 11,5; Tây Âu: 11,0; Bắc Mỹ: 10,7; Nam Á: 6,5 và tỷ lệ
chết (tính trên 100.000 dân) như sau: Bắc Âu: 8,2; New Zealand: 7,0; Mỹ:
8,0; Tây Âu: 7,0; Nam Á: 4,0 [52]. Theo thống kê trong 8 năm (1995 - 2003)
ở bệnh viện King Chulalongkorn Memorial có 85% các u buồng trứng gặp ở
lứa tuổi từ 20 – 65 và 62% tổng số u gặp ở phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ, chỉ
có khoảng 3% gặp ở trẻ nữ <15 tuổi [47]. Nhìn chung, 85% u buồng trứng
nguyên phát là lành tính. Ở lứa tuổi <45 có 78% các u lành tính trong khi đó
có 55% các ung thư buồng trứng được phẫu thuật cắt bỏ ở tuổi > 45 và có <
10% ung thư buồng trứng được phát hiện ở tuổi > 65. Khả năng biến đổi các u
biểu mô bề mặt buồng trứng thành ác tính hay ác tính giáp biên ở phụ nữ <
40 tuổi khoảng 1/7 (khoảng 14%) còn với phụ nữ > 40 tuổi, tỷ lệ này là 1/2,5
(khoảng 40%) [47, 49, 52]. Tỷ lệ các typ mô bệnh học trong nghiên cứu 440
trường hợp u buồng trứng của các tác giả Damrong Tresukosol, Surang
Triratanachat cho kết quả như sau [47]:
8
Bảng 1.1. Phân bố các typ mô bệnh học u buồng trứng
Typ MBH Số lượng bệnh nhân
U dạng nội mạc 169
365
U biểu mô - mô đệm
Lành tính
Giáp biên
Ác tính
81
23
92
U tế bào mầm
U quái
U tế bào mầm ác
tính

Tổng 402 24 38 333 45 82
Theo nghiên cứu của Marta (2003) u buồng trứng ác tính giáp biên
chiếm khoảng 10 - 15% tổng số u buồng trứng, thời gian sống thêm 10 năm
9
khoảng 83 - 91%. Số bệnh nhân ở giai đoạn III của bệnh có tiên lượng khá tốt
(khoảng 50 - 86% sống thêm trên 5 năm) [67]. Một nghiên cứu kiểm tra về
tần suất các typ u buồng trứng giáp biên của Riman và CS tại Thụy Điển với
3899 trường hợp u buồng trứng các loại cho thấy tỷ lệ u nhầy ác tính giáp
biên là 0,63/100.000 dân, u thanh dịch ác tính giáp biên là 0,44/100.000 dân
[75]. Một thống kê của các tác giả Australia cho biết tỷ lệ ung thư buồng
trứng ở phụ nữ nước này như sau: Trong năm 1999 có 1173 phụ nữ được
chẩn đoán là ung thư buồng trứng, 731 trường hợp tử vong do ung thư buồng
trứng và thời gian sống thêm trung bình là 5,948 năm với các trường hợp
bệnh nhân < 75 tuổi (so với giai đoạn 1992 - 1997, tỷ lệ sống thêm 5 năm
toàn bộ là 42%) [35]. Ung thư buồng trứng đứng hàng thứ 8 trong tổng số các
loại ung thư ở phụ nữ Australia (sau ung thư vú, đại tràng, u hắc tố ác tính,
ung thư không rõ nguồn gốc, ung thư phổi, ung thư hệ tạo máu và ung thư hệ
tiết niệu). Tỷ lệ chết do ung thư buồng trứng đứng hàng thứ 6 sau ung thư vú,
phổi, đại tràng, ung thư không rõ nguồn gốc và ung thư tụy [35].
Theo thống kê của Globocan năm 2000, ở phụ nữ Ai Cập, ung thư
buồng trứng là một trong 4 loại ung thư sinh dục thường gặp nhất, nó đứng
hàng thứ 3 sau ung thư vú và ung thư cổ tử cung [52]. Tỷ lệ mắc ung thư
buồng trứng có sự khác biệt giữa các vùng địa lý. Ở Bắc Âu, Trung Âu và
Nam Mỹ, tỷ lệ ung thư buồng trứng là 15/100.000 dân; còn ở châu Á và châu
Phi chỉ vào khoảng 2/100.000 dân. Người ta thấy rằng, tỷ lệ ung thư buồng
trứng ở phụ nữ da trắng cao hơn da đen (14,2/100.000 dân so với 9,3/100.000
dân). Theo ước tính, xác xuất có u buồng trứng trong suốt cuộc đời người phụ
nữ là 1/70 [52]. Người ta thấy rằng, ung thư buồng trứng ở những nước phát
triển nhiều hơn có ý nghĩa so với các nước đang phát triển, trừ Nhật Bản [dẫn
theo 52]. Tỷ lệ ung thư buồng trứng tại Pháp năm 1982 là 10,6/100.000 dân ở

phố Hồ Chí Minh, thứ 8 ở Hải Phòng, Huế, và đứng thứ 6 ở Cần Thơ [9].
Đa số các điều tra dịch tễ học về UTBT cố gắng xác định nguy cơ mắc
bệnh kết hợp với tiền sử gia đình. Tuy nhiên, UTBT vẫn chưa được nghiên
cứu rộng như UT vú nhưng người ta cũng nhận thấy rằng nguy cơ UTBT sẽ
tăng lên từ 1,94 đến 2,55 lần nếu cả mẹ và chị em gái bị UTBT [1, 17, 30].
Một khía cạnh khác về mối liên quan giữa UTBT với các biện pháp
tránh thai, chu kỳ kinh nguyệt, vai trò của hormon và chế độ ăn kiêng vẫn
đang được tiếp tục nghiên cứu.
Hiện nay, với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật áp dụng phân tích di
truyền người ta nhận thấy các UMĐSD có liên quan đến một số đột biến
nhiễm sắc thể (NST), như: trisomy và tetrasomy 12, trisomy 14, monosomy
22, trisomy 8, thay đổi cấu trúc NST số 16 với sự mất đoạn nhánh ngắn NST
ở vị trí 6q…[55, 59, 63].
1.3. TỶ LỆ CÁC U BUỒNG TRỨNG
Theo phân loại mô bệnh học, các u buồng trứng có thể được chia thành
8 nhóm chính sau: U biểu mô, u đệm sinh dục, u tế bào mỡ (dạng mỡ), u tế
bào mầm, u hỗn hợp đệm sinh dục và tế bào mầm, u mô mềm buồng trứng, u
không xếp loại và các u thứ phát [68, 71, 73]. Người ta nhận thấy rằng có sự
phân bố không đều giữa các nhóm u này. Trong nhiều nghiên cứu, người ta
nhận thấy các u biểu mô chiếm khoảng 80 - 90%, còn lại là các u của tế bào
mầm và mô đệm sinh dục [9, 24, 31, 34, 46, 51]. Có tới 80% các trường hợp
UTBT khi được chẩn đoán đã có sự lan tràn mô u ngoài buồng trứng. Nếu
đỉnh cao của các u lành tính nằm trong khoảng tuổi 20 - 40 thì đỉnh cao của
các u ác tính là 40 - 70 tuổi [53, 58].
12
Trong một số nghiên cứu về dịch tễ học, người ta nhận thấy các UTBT 2
bên thường gồm có các loại sau: Ung thư thanh dịch: 65%; di căn ung thư:
>50%; ung th dạng nội mạc tử cung: 40%; ung thư tế bào sáng: 40% và ung thư
chế nhầy: 20%. Riêng ở trẻ em, có tới 60% là các u tế bào mầm (tỷ lệ ác tính cao
hơn so với người trưởng thành); 10 - 12% là các u đệm sinh dục và 15 - 20% là

60% các trường hợp u buồng trứng là u tế bào mầm và 1/3 số u này là ác tính.
Ở người lớn, 95% là các u lành tính.
1.4. MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP CHẨN ĐOÁN U BUỒNG TRỨNG
1.4.1. Chẩn đoán lâm sàng
1.4.1.1. Một số u buồng trứng lành tính
Các nang buồng trứng lành tính thường gặp:
+ U nang hoàng thể: Chỉ gặp trong thời kỳ thai nghén, do có thai (nhiều
thai), u chế tiết nhiều estrogen, progesteron.
+ U nang bì: Thường gặp ở người trẻ, kích thước nhỏ, cuống dài, trong
chứa mô da, các thành phần phụ thuộc da, răng, xương…
+ Nang thanh dịch: Thường gặp ở người trẻ, u có cuống dài, vỏ mỏng,
thường có một túi trơn, ít dính, có dịch trong hay vàng chanh.
+ Nang nhầy: U thường to, có khi rất to (hàng kg), hay dính các tạng
xung quanh, có nhiều ngăn, dịch nhầy, đặc màu vàng nạt hay nâu.
+ Nang lạc nội mạc: Kích thước thay đổi từ rất nhỏ đến lớn, thường đau
theo chu kỳ, không phát triển theo thời gian.
Những u này có đặc điểm lâm sàng sau:
14
+ Khi u còn nhỏ, phần lớn phát hiện tình cờ khi BN đến khám vì các rối
loạn phụ khoa, như: rối loạn kinh nguyệt, vô kinh, đau bụng hạ vị. Khám
bụng hay thăm trực tràng-âm đạo thấy có khối biệt lập với tử cung, căng hay
chắc, di động hay dính, đau hoặc không đau [2].
+ Xoắn u: đau hạ vị nhiều, buồn nôn và nôn, có thể có sốc do đau (nhợt
nhạt, vã mồ hôi lạnh, mạch nhanh).
+ Phản ứng hCG âm tính.
+ Siêu âm thấy ranh giới u rõ.
+ Soi ổ bụng thấy khối u nhỏ, nghi ngờ với thai ngoài tử cung.
+ Chảy máu và vỡ u thường xuất hiện sau xoắn: đau hạ vị, sốc, có thể
có thiếu máu cấp, phản ứng thành bụng, đau khi thăm khám qua âm đạo.
1.4.1.2. Các u buồng trứng ác tính

số đặc điểm:
- Xác định là u cơ năng hay u thực thể:
Nang cơ năng thì có vỏ mỏng, dịch trong nang thuần nhất.
Nang thực thể thì có vỏ dầy, dịch trong nang không thuần nhất
và có âm vang trong nang [7, 78].
- U buồng trứng một bên hoặc hai bên.
- Một u hoặc nhiều u.
- Bờ của u: Bờ u dày hay mỏng, nhẵn hoặc nham nhở.
- Tính chất âm vang của u: giảm âm, tăng âm, âm hỗn hợp.
- Có dịch ổ bụng hay không, nhiều dịch hay ít.
- Có tổn thương các tạng trong ổ bụng hay không.
Dựa vào các đặc điểm trên có thể sơ bộ chẩn đoán lành hay ác [42].
Có nhiều báo cáo về giá trị của siêu âm trong chẩn đoán u buồng trứng.
Siêu âm có độ nhậy rất cao từ 82-96%, độ đặc hiệu của siêu âm có khác nhau
16
tùy báo cáo như của Đỗ Danh Toàn là 90% [29]. Báo cáo của Nguyễn Thị
Ngọc Phượng là 88% [21], Lý Thị Bạch Như nghiên cứu 340 BN u BT thì độ
đặc hiệu là 95% [18].
Hình 1.2. Ung thư biểu mô tuyến
nhú chế nhầy, hình ảnh âm hỗn hợp
có nhú trong nang.
Hình 1.3. U nang thanh dịch BT
lành, giảm âm đồng đều.
- Hình ảnh siêu âm u buồng trứng lành tính
+ Nang hoàng thể: Là sự phát triển bất thường của hoàng thể giai đoạn
cuối chu kỳ, thường kèm theo xuất huyết và thoái triển tự nhiên sau 2-3 tuần.
Nếu nang <30mm gọi là hoàng thể nang hóa, nếu >30mm gọi là u nang hoàng
thể. Trên siêu âm thấy u nằm nằm giữa BT nhưng nếu nang lớn giống như
nằm 1 bên BT. Hoàng thể nang hóa thường có 1 nang trong khi nang hoàng
tuyến có nhiều nang, cả hai bên và đôi khi có kích thước lớn. Nang hình cầu

UT BM BT.
- Trong hội chứng Demons-Meigs: có thể thấy hình ảnh tràn dịch màng phổi.
1.4.2.3. Chụp cắt lớp vi tính
Máy chụp cắt lớp vi tính được phát minh ra vào năm 1972 và từ đó đến
nay có rất nhiều ứng dụng trong lĩnh vực chẩn đoán hình ảnh y học.
Chụp cắt lớp vi tính góp phần chẩn đoán xác định khối u BT và cũng có
giá trị định hướng tính chất ác tính của khối u BT.
Có thể đánh giá những tổn thương của các tạng khác trong ổ bụng trên
phim CT ổ bụng. Với khối u ác tính, CT giúp xác định tính chất xâm lấn, tình
trạng hạch, dịch ổ bụng [70].
Okamura nghiên cứu giá trị của chụp cắt lớp vi tính trong chẩn đoán
khối u BT cho 184 BN thấy kết quả chụp cắt lớp vi tính phát hiện được 85,5%
trường hợp có u [70]. Kim HS nghiên cứu 101 BN ung thư buồng trứng giai
đoạn sớm, chụp cắt lớp chẩn đoán đúng so với phẫu thuật 50% (51/101) các
BN không có xâm lấn phúc mạc ngoài khung chậu; 71/101 BN không có di
căn hạch chậu [62]. Tại Việt Nam, chụp cắt lớp ổ bụng để chẩn đoán các khối
u BT được áp dụng rộng rãi tại các bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh và bệnh viện
trung ương, các bệnh viện phụ sản còn ít áp dụng. Tuy nhiên chưa có báo cáo
về giá trị của chụp cắt lớp vi tính trong chẩn đoán u BT.
19
Hình 1.5. Ung thư biểu mô tuyến nhú
chế nhầy, hình ảnh hỗn hợp, có nhú
trong nang, có dịch ổ bụng.
Hình 1.6. U nang nhầy lành tính,
đồng tỷ trọng, ranh giới rõ.
1.4.2.4. Xét nghiệm CA 125
Kháng nguyên CA 125 là một glucoprotein có trọng lượng phân tử
khoảng 200kDa, được tiết ra khi phát triển thai nhi. Trị số bình thường trong
huyết thanh là < 35 U/ml, tăng khi có thai [14].
Thay đổi bệnh lý:

Bảng 1.3. Mối liên quan giữa nồng độ CA 125, CA 72-4 với giai đoạn
UTBT
Giai
đoạn
CA 72-4 CA 125
n %
Trung bình
(U/ml)
n %
Trung bình
(U/ml)
1 7/15 47 79,7 7/15 47 94
2 8/14 57 95,5 9/14 64 284
3 33/53 62 69,8 36/53 66 1058
4 6/9 67 216,8 8/9 89 1934
1.4.2.5. Tế bào học
21
Phương pháp này là dùng kim nhỏ chọc xuyên qua thành bụng để hút
dịch ổ bụng hoặc tế bào tại u làm xét nghiệm tìm tế bào ác tính.
Tuy phương pháp rất dễ thực hiện nhưng độ chính xác chưa cao và có
nhiều tai biến khi chọc cũng như có thể gây di căn tế bào ung thư ra thành bụng
qua chỗ chọc, nhiễm trùng ổ bụng nên ít được áp dụng. Với các trường hợp ung
thư giai đoạn muộn có tràn dịch ổ bụng nhiều, chèn ép gây khó thở cho bệnh
nhân có thể chọc hút dịch giảm áp lực ổ bụng đồng thời làm xét nghiệm tế bào.
Tỷ lệ dương tính khi xét nghiệm dịch ổ bụng có thể lên tới 60%.
1.4.2.6. Soi ổ bụng
Soi ổ bụng giúp đánh giá được tổn thương, giai đoạn bệnh, đồng thời
sinh thiết bệnh phẩm làm xét nghiệm mô bệnh học (MBH). Tuy nhiên, có thể
gây vỡ u hoặc làm lan tràn UT ra ổ bụng và thành bụng. Vì vậy, chỉ nên tiến
hành sinh thiết khi có nghi ngờ và với những u còn nhỏ, và tiến hành ở những

bản lần đầu tiên năm 1973 đã được sử dụng rộng rãi trong thời gian khá dài
[44]. Sau 20 năm, nhờ những tiến bộ về miễn dịch học, sinh học, phôi thai
học và di truyền học, Tổ chức y tế thế giới cho xuất bản lần thứ 2 cuốn phân
loại mô học các u buồng trứng có sửa chữa và bổ sung thêm (1993). Sau này,
nhờ những tiến bộ về sinh học phân tử và đặc biệt về gen học, hoá mô miễn
dịch, người ta nhận thấy có nhiều typ mô học mới với những đặc trưng về
hình thái, đặc điểm sinh học và gen học hoàn toàn riêng biệt. Do vậy,
TCYTTG đã cho xuất bản một phân loại mô học các u buồng trứng mới
(2003), có thêm nhiều typ mới, biến thể mới và đầy đủ hơn cùng các biến đổi
gen của mỗi typ và code của nhóm bệnh [45]. Về cơ bản, nhóm u biểu mô -
mô đệm vẫn được chia giống như các phân loại trước đó nhưng có bổ sung
23
các thứ typ: tuyến nhú, ung thư biểu mô xơ - tuyến (u xơ tuyến ác tính), u xơ
tuyến, u xơ tuyến nang, u nang nhầy với nốt vách nang, u nang nhầy giả u
nhầy phúc mạc, typ ruột, typ cổ trong tử cung, sacôm tuyến, sacôm mô đệm
dạng nội mạc tử cung (độ thấp), sacôm buồng trứng không biệt hoá [45].
Nhóm u tế bào Sertoli - Leydig thành 6 nhóm (các phân loại trước không chia
riêng nhóm này) riêng biệt. Đặc biệt, trong phân loại này có chia thành 15 thứ
typ của typ u hỗn hợp (nhóm này cũng không có ở các phân loại trước); các u
tế bào mầm cũng được chia cụ thể hơn thành các u tế bào mầm nguyên thuỷ,
u quái 2 pha và 3 pha (chi tiết đến các nhóm rất nhỏ của các bướu giáp buồng
trứng) mà các phân loại trước đó đều không mô tả. Chi tiết bảng phân loại
xin xem ở phần phụ lục.
Hình1.7.Vi thể u quái không thành
thục [45]
Hình 1.8. Vi thể UT biểu mô dạng nội
mạc [45]
1.6. PHÂN LOẠI U BUỒNG TRỨNG THEO NGUỒN GỐC TẾ BÀO
Trong phân loại mô học các u buồng trứng, có thể chia theo nguồn gốc
tế bào thành các nhóm lớn sau:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status