Nghiên cứu giá trị của chỉ số ABI trong chẩn đoán bệnh động mạch chi dưới có đối chiếu với siêu âm doppler và MSCT mạch chi - Pdf 55

1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh động mạch chi dưới mạn tính (BĐMCDMT) là tình trạng hẹp một
phần hay tắc hoàn toàn lòng động mạch kéo dài, nguyên nhân chủ yếu do xơ vữa
động mạch, dẫn đến giảm lượng máu tới cho các mô mà động mạch chi phối.
Theo Hankey GJ và CS thì BĐMCDMT gặp ở khoảng 20% dân số trên
50 tuổi [27] , Năm 1999- 2000, khoảng 5 triệu người Mỹ bị bệnh lý này, và
con số ước tính sẽ đạt khoảng 7 triệu vào năm 2020 [58]. Tỷ lệ BĐMCDMT
ở nước Mỹ còn cao hơn cả bệnh lý suy tim, đột quỵ não, và cũng cao hơn cả
bệnh nhồi máu cơ tim.
Trong các phương tiện chẩn đoán BĐMCDMT, thì siêu âm mạch là
phương pháp chẩn đoán không xâm lấn rất có giá trị, với độ đặc hiệu > 96%[40],
tuy nhiên đây là một kỹ thuật cao và khó triển khai ở mọi tuyến. Vì vậy để sàng
lọc và chẩn đoán sớm cần một phương pháp khác với độ nhạy cao, nhưng kỹ
thuật đơn giản hơn. Chỉ số huyết áp tâm thu cổ chân – cánh tay (ABI) đáp ứng
được những tiêu chí trên [44]. Phương pháp này cần được nghiên cứu, đánh giá
để áp dụng trong sàng lọc, chẩn đoán sớm BĐMCDMT, cũng như để tiên lượng
và theo dõi trong điều trị nhóm bệnh lý này.
Tiên lượng của bệnh lý động mạch chi dưới chủ yếu dựa vào các biến
cố tim mạch. Theo TASC 2000[60] thì trên 50% bệnh nhân BĐMCDMT có
kèm theo bệnh động mạch vành, sau thời gian 5 năm từ khi có triệu chứng
đau cách hồi có tới 23% bệnh nhân tử vong do các bệnh mạch máu, và tử
vong do mọi nguyên nhân lên tới 30%. Đặc biệt ở bệnh nhân mức độ nặng
với chỉ số ABI thấp nhất thì tỷ lệ tử vong lên tới 25%/ năm.
Nghiên cứu của Fowkes FG, Murray GD [25] cho thấy nguy cơ các
biến cố tim mạch chính (NMCT, đột quỵ, tử vong do tim mạch) ở bệnh nhân


2



CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. GIẢI PHẪU HỆ ĐỘNG MẠCH CHI DƯỚI [1][54][61]
1.1.1. Động mạch chậu chung, chậu ngoài, chậu trong
Động mạch chậu chung bắt đầu từ chỗ chia đôi của động mạch chủ
bụng, gồm động mạch chậu chung trái và động mạch chậu chung phải. Động
mạch chậu chung chia thành động mạch chậu trong và động mạch chậu ngoài.
Động mạch chậu trong đi xuống chia nhiều nhánh nhỏ và cấp máu cho vùng
tiểu khung. Động mạch chậu ngoài đi xuống, khi đi tới ngang mức dây chằng
bẹn thì đổi tên thành động mạch đùi chung.
1.1.2. Động mạch đùi chung.
Động mạch chậu ngoài sau khi đi qua dây chằng bẹn thì đổi tên thành
động mạch đùi chung. Ở vùng bẹn động mạch đùi chung chia các nhánh là
động mạch mũ chậu nông, động mạch thượng vị nông và động mạch thẹn
ngoài. Hai nhánh tận là động mạch đùi sâu và động mạch đùi nông.
1.1.3. Động mạch đùi sâu
Là nhánh động mạch chính của đùi, cung cấp máu cho hầu hết các cơ ở
đùi bởi các nhánh: động mạch mũ đùi ngoài, động mạch mũ đùi trong và các
động mạch xiên, phân nhánh tạo vòng nối ở vùng khớp háng và khớp gối.
1.1.4. Động mạch đùi nông.
Chạy thẳng xuống ở mặt trước trong của đùi, nằm trong ống đùi
(Hunter) cùng với thần kinh và tĩnh mạch đùi. Khi xuống tới lỗ gân khép thì
đổi tên thành động mạch khoeo.
1.1.5. Động mạch khoeo.
Chạy tiếp theo động mạch đùi nông kể từ vòng gân cơ khép đi xuống
tới bờ dưới cơ khoeo thì chia làm hai ngành tận là động mạch chày trước và
động mạch chày sau. ĐM khoeo cho bảy nhánh bên và có nhiều nối tiếp giữa



cập đến những bệnh lý của mạch máu không phải là mạch não và mạch vành.
Nó thường được giới hạn những mạch máu cấp máu cho chân, tay, dạ dày và
thận [2], [3], [38]. Có ba loại rối loạn về tuần hoàn ở bệnh lý này, bao gồm:
- Bệnh lý mạch ngoại biên chức năng, không có các tổn thương về cấu
trúc của mạch máu. Thường xuất hiện và mất đi trong thời gian ngắn liên
quan đến sự co thắt của mạch máu, mà hội chứng Raynaud là một ví dụ. Nó
thường khởi phát sau nhiễm lạnh, stress tâm lý, làm việc với máy có độ rung
lớn hoặc hút thuốc lá.
- Bệnh mạch ngoại biên tổ chức, được gây ra bởi sự thay đổi cấu trúc
của mạch máu do quá trình viêm nhiễm và huỷ hoại tổ chức. Bệnh động mạch
ngoại biên là một ví dụ, do mảng xơ vữa hình thành và phát triển làm hẹp dần
lòng động mạch làm cản trở dòng máu bình thường.
- Bệnh lý tắc mạch ngoại biên , thường do cục huyết khối lớn từ tim
bắn đi gây tắc các động mạch. Nếu tắc mạch chi dưới sẽ gây ra bệnh cảnh tắc
mạch cấp tính đòi hỏi phải điều trị ngoại khoa cấp cứu.


6

1.2.2. Khái niệm bệnh động mạch chi dưới mạn tính.
Bệnh động mạch chi dưới mạn tính có nguyên nhân phổ biến nhất là do
mảng xơ vữa phát triển gây hẹp dần lòng mạch hoặc tắc nghẽn hoàn toàn, do
đó làm giảm tưới máu chi khi vận động hoặc khi nghỉ [2], [3], [38], [35].
Cấu tạo lòng mạch bình thường: thành động mạch bình thường gồm 3
lớp đồng tâm: từ trong ra ngoài là lớp nội mạc, lớp áo giữa và ngoài cùng là
lớp áo ngoài. Ranh giới giữa 3 lớp này được tạo bởi các sợi đàn hồi đồng tâm
dạng nhẫn.
Lớp nội mạc bao gồm một lớp tế bào liên kết chặt chẽ với nhau. Chúng
có vai trò như một màng ngăn về mặt huyết động giữa lớp nội mạc và dòng
máu tuần hoàn trong lòng mạch. Các nghiên cứu gần đây cho thấy, lớp tế bào


Đau cách hồi vừa đến nặng

III

Đau chi khi nghỉ

IV

Loét hoặc hoại tử chi

Độ
0
I
I
I
II
III
III

Rutherford
Loại
0
Không triệu chứng
1
Đau cách hồi nhẹ
2
Đau cách hồi vừa
3
Đau cách hồi nặng

tử thường gây đau nhiều và liên quan đến các biểu hiện của thiếu máu chi
mạn tính như: đau khi nghỉ, xanh tái, mất lông và phì đại đầu ngón.
• Hoại thư: được đặc trưng bởi tím và mất cảm giác đau chi, nó có thể
kèm theo hoại tử tiến triển tăng dần. Hoại thư xảy ra khi cấp máu động mạch
giảm dưới mức tối thiểu đủ để duy trì chuyển hoá. Có thể phân loại hoại thư
thành hoại thư khô và hoại thư ướt.
Hoại thư khô biểu hiện bởi tổ chức khô và chắc xảy ra thường ở vị trí đầu
xa của ngón chân, thường có ranh giới rõ với tổ chức lành. Hoại thư khô thường
xảy ra ở bệnh nhân PAD và là biểu hiện của tắc hoàn toàn động mạch ở ngón
hoặc đầu ngón. Bệnh nhân thường có tiền sử đau cách hồi rõ hoặc đau ở bàn,
ngón chân.
Hoại thư ướt: được đặc trưng bởi vùng tổn thương sưng, ướt và có bọng
nước. Đây thực sự là một cấp cứu và thường xảy ra ở các bệnh nhân đái tháo
đường với biểu hiện giảm cảm giác ở chân. Để điều trị, cần loại bỏ ngay các


9

tổ chức hoại tử, trong trường hợp tổn thương lan rộng toàn bộ bàn chân, cần
đặt ra chỉ định cắt cụt chi.
Đặc điểm về bắt mạch chi dưới [3], [53], [4].
Trong bệnh cảnh bệnh lý động mạch chi dưới, khám xét mạch trên lâm
sàng cũng có vai trò nhất định trong chẩn đoán và tiên lượng tổn thương mạch.
Những vị trí mạch cần thăm khám bao gồm: mạch đùi chung, mạch
khoeo, mạch chày trước, mạch chày sau.
Bảng 1.2. Phân độ nảy của mạch trên thăm khám lâm sàng
Phân độ
Độ 0
Độ 1
Độ 2

gấp 7 lần ở nhóm đã từng hút thuốc lá và 16 lần ở nhóm đang hút thuốc lá
[17]. Tương tự, trong nghiên cứu của mình, tác giả Reykjavik [38] nhận thấy
hút thuốc lá làm tăng nguy cơ của đau cách hồi lên 8-10 lần.
Hirsch AT và cộng sự, trong nghiên cứu về sức khoẻ và dinh dưỡng
quốc gia, cho thấy nguy cơ mắc bệnh PAD ở những người hút thuốc lá tăng 36 lần so với nhóm không hút thuốc lá [31].
Thuốc lá còn làm thúc đẩy sự tiến triển nhanh của mảng xơ vữa, vì thế
hội chứng PAD có thể gặp ở những người rất trẻ hút thuốc lá nhiều, người ta
còn gọi là hội chứng thiểu sản chủ-chậu, gặp ở những người trẻ tuổi từ 30-40
tuổi [36].
1.2.4.3. Đái tháo đường.
Là một yếu tố nguy cơ thường gặp khác của xơ vữa động mạch và dẫn
đến tỷ lệ cao bệnh lý mạch máu. Mặc dù mối liên quan về sinh lý bệnh giữa đái
tháo đường và PDA chưa rõ ràng, tuy nhiên người ta nhận thấy có tỷ lệ tăng
huyết áp và tăng mỡ máu ở các bệnh nhân đái tháo đường. Các bệnh nhân có
hội chứng chuyển hoá (được định nghĩa bởi tình trạng tăng đề kháng insulin,
tăng TG, giảm HDL-C, tăng LDL-C) đặc biệt làm tăng nguy cơ phát triển PAD.
Trong nghiên cứu Cardiovascular, nguy cơ phát triển PAD ở bệnh nhân đái
tháo đường tăng gấp 4 lần [52]. Trong nghiên cứu Hoorn [14], 21% bệnh nhân


11

đái tháo đường có ABI < 0,9 và gần 42% có bất thường về ABI, giảm biên độ
mạch ở cổ chân hoặc có tiền sử mổ bắc cầu động mạch ngoại biên.
Lee AJ và cộng sự, trong nghiên cứu về mối liên quan giữa mức độ
glucose máu và tỷ lệ mắc bệnh động mạch ngoại biên đã đưa ra kết quả: với
những bệnh nhân dung nạp glucose bình thường, tỷ lệ mắc PAD là 12,5%;
bệnh nhân có giảm dung nạp glucose, tỷ lệ mắc là 19,9%; nhưng với bệnh
nhân đái tháo đường, tỷ lệ mắc PAD lên đến 22,4% [15].
1.2.4.4. Tăng lipid máu.

đánh giá tỷ lệ PAD ở 613 nam và nữ ở Nam California nhận thấy tỷ lệ PAD là
2,5% ở bệnh nhân 70 tuổi. Trong nghiên cứu PARTNER [31] trên 6979 bệnh nhân đến
khám ban đầu ở Mỹ (với độ tuổi > 70 hoặc từ 50-69 tuổi kèm theo tiền sử hút
thuốc lá hoặc đái tháo đường), người ta nhận thấy tỷ lệ PAD rất cao, tới 29%;
trong đó 13% chỉ có PAD, 16% có PAD kết hợp với bệnh lý tim mạch do xơ
vữa khác.
Trong nghiên cứu NHANES (National Health and Nutrition Examination
Study: Nghiên cứu thăm khám sức khoẻ và dinh dưỡng quốc gia) tiến hành ở
Mỹ năm 2003: với quần thể trên 40 tuổi, tỷ lệ mắc PAD là 4,3%; tỷ lệ này tăng
tới 14,5% ở những người có tuổi trung bình 66 [22].
1.3. CHẨN ĐOÁN BỆNH ĐỘNG MẠCH CHI DƯỚI BẰNG MỘT SỐ
TEST KHÔNG XÂM NHẬP
1.3.1. Chỉ số ABI (The Ankle- Brachial Index).
1.3.1.1 Khái niệm chỉ số huyết áp tâm thu cổ chân-cánh tay
Chỉ số huyết áp tâm thu cổ chân cánh tay (ABI) là tỷ lệ giữa huyết áp
tâm thu đo ở chi dưới (ĐM mu chân hoặc ĐM chày sau) với huyết áp tâm thu
cánh tay.
ABI=HATTĐM mu chân hoặc chày sau/HATTĐM cánh tay


13

Đây là test không xâm nhập được khuyến cáo sử dụng hàng đầu để
chẩn đoán bệnh động mạch chi dưới. Theo nghiên cứu của Lijmer JG và
CS[44] thì độ nhạy và độ đặc hiệu của tét này là 79% và 96% tương ứng. với
chỉ số ABI 1,1 hoặc giá trị trung bình 3 lần đo >1
thì giá trị chẩn đoán âm tính là > 99%[57]. Giá trị của ABI có mối tương quan
với mức độ nặng của bệnh. Theo Baker JD và cs[12] thì với chỉ số ABI< 0,5

ABI < 0,4

Ý nghĩa
ĐM kém đàn hồi (quá cứng)
Tình trạng huyết động bình thường
BĐMCDMT mức độ nhẹ
BĐMCDMT mức độ vừa
BĐMCDMT mức độ nặng

ABI lớn hơn 1,3: ĐM quá cứng (đái tháo đường, suy thận, bệnh
Monckeberg, áp lực ĐM xa không thể đo được).
0,90 ≤ ABI < 1,30: hệ ĐM bình thường hoặc tổn thương ĐM chưa gây
thay đổi huyết động.
0,75 ≤ ABI < 0,90: chứng tỏ có BĐMCDMT. Tuy nhiên tuần hoàn bàng
hệ bù trừ tốt.
0,4 ≤ ABI < 0,75: tình trạng bù trừ ở mức độ trung bình, áp lực xa chỉ
đủ để đảm bảo tưới máu cho nhu cầu chuyển hoá lúc nghỉ.
ABI < 0,4 hoặc huyết áp cổ chân dưới 50mmHg: tổn thương gây ảnh
hưởng huyết động nghiêm trọng, bệnh nặng [51].
Khi nghỉ ngơi, tất cả những cản trở ĐM làm cho sức cản tăng lên. Hiện
tượng đó được bù trừ bằng cách giảm một cách tương ứng sức cản các tiểu
ĐM dưới chỗ hẹp (do dãn mạch) để duy trì lưu lượng tuần hoàn gần mức bình


15

thường. Do đó sự giảm huyết áp ĐM xa phản ánh chính xác mức độ suy ĐM
do các tổn thương ĐM [28].
Để dự phòng các tai biến về tim mạch nói chung cũng như các tai biến
về mạch vành, mạch não, mạch chi dưới nói riêng đặt ra vấn đề phát hiện sớm

đập theo nhịp tim. Thành động mạch đều, nhẵn, bao gồm ba lớp đi từ phía trong
lòng động mạch ra:
- Đường trong cùng mịn, mảnh, đậm âm, tương ứng với phản hồi của
sóng siêu âm lên bề mặt nội mạc mạch máu.
- Đường ở giữa giảm âm, tương ứng với bề dày lớp nội- trung mạc.
- Đường ngoài cùng khá dày, đậm âm hơn lớp trong, tương ứng với
lớp ngoại mạc.
Trên siêu âm Doppler xung:
Phổ Doppler động mạch chi dưối khi nghỉ có dạng tăng sức cản ngoại
vi với hình ảnh ba pha đặc trưng:
- Một đỉnh tâm thu nét và hẹp, bao gồm thành phần tâm thu dốc lên
và thành phần cuối tâm thu dốc xuống nhanh.
- Một phổ âm đầu tâm trương, phản ánh sức cản ngoại vi lớn.
- Một sóng dương phản hồi, không hằng định, với một vài dao động
phía sau, phản ánh sức đàn hồi tốt của động mạch (ở người trẻ).
Khi thực hiện nghiệm pháp gắng sức, phổ Doppler động mạch chi
dưới thay đổi một cách đối xứng:
- Vận tốc đỉnh tâm thu tăng.
- Thời gian đạt vận tốc tâm thu tối đa giảm với thành phần dốc lên
dốc đứng hơn nữa.
- Xuất hiện phổ tâm trương dương.
1.3.2.2. Hình ảnh siêu âm Doppler động mạch chi dưới bị tổn thương.
 Đối với tổn thương hẹp
Trên siêu âm Doppler xung khi nghỉ:
- Sự tăng tốc và phân tán của phổ Doppler tại vị trị trí hẹp: tăng vận
tốc tâm thu tối đa là dấu hiệu đầu tiên của hẹp động mạch.
- Tín hiệu âm thanh tại vị trí hẹp có dạng tiếng rít sắc nhọn.


17


Siêu âm Doppler giúp phân tích kỹ đặc điểm mảng xơ vữa hơn siêu âm
2D: mảng xơ vữa giảm âm (mảng xơ mỡ hay huyết khối), mảng xơ vữa có
những vùng mất liên tục (loét trong mảng xơ vữa).
 Đối với tổn thương tắc.
Trên siêu âm 2D, tổn thương tắc nghẽn lòng động mạch biểu hiện bằng
hình ảnh âm gây lấp lòng mạch:
- Huyết khối mới gây tắc động mạch thường có hình ảnh nhạt âm.
- Huyết khối cũ gây tắc mạn tính thường có hình ảnh đậm âm và vôi hoá.
Việc đánh giá khá khó khăn nếu tổn thương thuyên tắc là nhạt âm, đối
với trường hợp này chỉ có thể kết luận sau khi đã thăm dò toàn bộ động mạch
đang nghiên cứu.
Sự vôi hoá động mạch có thể làm việc đánh giá khó khăn hơn.
Trên siêu âm Doppler màu, tổn thương tắc thể hiện bằng:
- Hình ảnh sẫm, tối, mất tín hiệu màu trong lòng động mạch bị tắc.
- Sự lan truyền sóng động mạch và sự phản hồi tại vị trí tắc gây ra hình
ảnh siêu âm xen kẽ hai màu đỏ và xanh. Sự đảo ngược phổ màu nói trên
ngay sát vị trí tắc cần được thăm dò kỹ vì có thể là sự thay đổi dòng chảy
liên quan đến hướng của một nhánh tuần hoàn bàng hệ.
Hình ảnh siêu âm Doppler xung:
Dấu hiệu trực tiếp: Tín hiệu "âm tính" tức là không còn tín hiệu
Doppler trong lòng động mạch tại vị trí tắc.
Dấu hiệu gián tiếp:
- Ở phía trên vị trí động mạch bị tắc: cũng giống như tín hiệu ghi được
trong hẹp động mạch – chỉ số sức cản ngoại vi và chỉ số mạch đập đều tăng.
- Ở phía sau vị trí động mạch bị tắc: không có tín hiệu Doppler trong lòng
động mạch nếu như tuần hoàn bàng hệ chưa phát triển tại thời điểm thăm dò.
1.3.9.3. Giá trị và hạn chế của siêu âm Doppler mạch.



20

Mục tiêu điều trị bao gồm:
1. Phòng ngừa sự tiến triển xơ vữa trong hệ thống động mạch
2. Phòng ngừa các biến cố tim mạch
3. Phòng ngừa biến cố cắt cụt chi
4. Cải thiện triệu chứng cơ năng và chất lượng cuộc sống.
1.4.1. Điều trị nội khoa.
1.4.1.1. Làm giảm nguy cơ mắc các biến cố tim mạch.
Bao gồm nhiều biện pháp, trong đó có thay đổi lối sống và dùng các
thuốc để làm giảm sự phát triển và bất ổn của mảng xơ vữa phòng tránh các
biến cố tim mạch [3], [30], [42]. Cụ thể gồm các biện pháp:
 Tránh béo phì, dùng các thuốc làm giảm mỡ máu.
 Điều trị tăng huyết áp.
 Điều trị tốt đái tháo đường.
 Bỏ hút thuốc lá.
 Dùng các thuốc chống ngưng tập tiểu cầu (aspirin, clopidogrel)
1.4.1.2. Điều trị cơn đau cách hồi.
Tập thể dục đều đặn là một phương pháp hiệu quả trong cải thiện chất
lượng cuộc sống và phục hồi chức năng chi dưới cho bệnh nhân bị bệnh động
mạch chi dưới, do làm kích thích phát triển tuần hoàn bàng hệ [3], [30].
Các thuốc được sử dụng làm giảm triệu chứng đau cách hồi ngày nay được
nghiên cứu và sử dụng nhiều trên lâm sàng, đã đem lại chất lượng cuộc sống tốt
hơn cho bệnh nhân [3], [30], [43]. Các thuốc hay được sử dụng bao gồm:


Cilostazol (Pletaal): là một thuốc có hiệu quả giãn mạch và có tác
dụng ức chế sự bám dính của tiểu cầu thông qua ức chế enzym
phosphodiesterase type 3 làm tăng AMP vòng [46].


tốt, lòng mạch có kích thước phù hợp.
1.4.4. Khuyến cáo sử dụng kháng kết tập tiểu cầu ở bệnh nhân PAD
Liệu pháp kháng kết tập tiểu cầu được khuyến cáo để phòng ngừa các
biến cố tim mạch. Theo khuyến cáo ACCF/AHA và ESC cập nhật năm
2011[7][23] thì kháng kết tập tiểu cầu được khuyến cáo (chỉ định nhóm I và
mức bằng chứng A) để giảm các biến cố NMCT, đột quỵ kiểu nhồi máu, tử
vong do các nguyên nhân mạch máu) ở bệnh nhân bị bệnh động mạch chi
dưới có triệu chứng gồm có:
- Đau cách hồi.
- Thiếu máu chi dưới trầm trọng.
- Trước khi tái thông mạch máu.
- Trước khi cắt cụt chi
Một phân tích gộp 287 thử nghiêm lâm sàng với 135000 bệnh nhân cho
thấy kháng kết tập tiểu cầu làm giảm được 23% các biến cố tim mạch so với
giả dược[11].
Aspirin: Theo ACCF/AHA 2011[7] thì asprin được chỉ định trong bệnh
động mạch chi dưới để giảm biến cố tim mạch (chỉ định nhóm IA). Nhưng
theo Morris A, Jung R và CS thì lợi ích đem lại từ aspirin đơn trị liệu Khác
biệt không có ý nghĩa thống kê so với giả dược[50].
Clopidogrel: Khuyến kháo ACCF/AHA 2011[7] cũng khuyến cáo sử
dụng clopidogrel 75 mg trong điều trị bệnh động mạch chi dưới để phòng
ngừa các biến cố tim mạch (chỉ định nhóm I, mức bằng chứng A).
So sánh clopidogrel với aspirin: Nghiên cứu CAPRIE (một nghiên cứu
mù đôi đa trung tâm, ngẫu nhiên, có đối chứng) so sánh clopidogrel với
aspirin thì clopidogrel làm giảm nguy cơ tương đối các biến cố tim mạch
chính so với aspirin là 24% [8]. Clopidogrel được dung nạp tốt, không làm


23


24

Bằng chứng lâm sàng về hiệu quả của ticagrelor được chứng minh qua
thử nghiệm lâm sàng pha III, ngẫu nhiên, mù đôi (thử nghiệm PLATO), trong đó
ticagrelor được so sánh với clopidogrel trong hội chứng động mạch vành cấp. Cả
hai thuốc đều được sử dụng kết hợp với Aspirin và các điều trị chuẩn khác.
Trên tiêu chí chính: Các biến cố tử vong do tim mạch, NMCT, đột quỵ
gặp ở 9,8% ở nhóm dùng ticagrelor và 11,9% ở nhóm dùng clopidogrel sau
thời gian điều trị 12 tháng (HR=0,84; p=0,0003).
Các hiệu quả khác của ticagrelor trong thử nghiêm PLATO bao gồm:
+ Ticagrelor làm giảm một cách có ý nghĩa thống kê các biến cố tử
vong do mọi nguyên nhân, NMCT, đột quỵ so với clopidogrel (10,2% so với
12,3% tương ứng, p< 0,001).
+ Ticagrelor giảm có ý nghĩa thống kê tử vong do các nguyên nhân
mạch máu, NMCT, đột quỵ, thiếu máu nặng chi dưới tái phát, thiếu máu chi
dưới tái phát, thiếu máu não thoảng qua, các biến cố tắc mạch khác so với
clopidogrel (5,8% so với 6,9% tương ứng với p= 0,005).
1.4.5.5. Tính an toàn và tác dụng phụ của ticagrelor
Biến cố chảy máu:
Ticagrelor làm giảm các biến cố chảy máu nặng gây tử vong (trừ xuất
huyết não) so với clopidogrel (0,1% so với 0,3% tương ứng, với p= 0,03).
Tỷ lệ huyết khối stent thấp hơn có ý nghĩa ở nhóm dùng ticagrelor so
với clopidogrel (1,3% so với 1,9% tương ứng, với p=0,009).
Xuất huyết não gặp nhiều hơn ở nhóm dùng ticagrelor so với
clopidogrel, xong sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê (0,2% so với 0,1%,
với p=0,1).
Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa ticagrelor và
clopidogrel về các biến cố chảy máu lớn theo tiêu chuẩn TIMI (7,9% so với
7,7% tương ứng, với p=0,57), chảy máu đe dọa tính mạng hoặc chảy máu gây




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status