Thực trạng và một số yếu tố liên quan rối loạn loạn thần ở bệnh nhân sử dụng các chất dạng amphetamine điều trị nội trú tại viện sức khỏe tâm thần - Pdf 55

1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Trước đây, heroin là loại ma túy bất hợp pháp được sử
dụng phổ biến tại Việt Nam cũng như nhiều quốc gia khác.
Ngày nay, các loại ma túy tổng hợp (đặc biệt là các chất dạng
Amphetamine) được sử dụng rộng rãi và dần thay thế ma túy
cổ điển. Năm 2015, với khoảng 37 triệu người sử dụng, ATS
vượt qua heroin và trở thành ma túy được sử dụng phổ biến thứ
2 trên thế giới [1]. Chúng được gọi bằng nhiều tên khác nhau:
hồng phiến (tablets), viên chúa (blue tablets), hàng đá (crystal ice),... [2].
Người sử dụng ATS liên tục, kéo dài có thể gây ra tình
trạng lệ thuộc và nghiện. Điều đó không những ảnh hưởng tác
hại về mặt cơ thể, mà còn dẫn đến tiêu tốn tiền bạc và ảnh
hưởng đến chính trị, xã hội. Đặc biệt là các rối loạn tâm thần
và hành vi, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe người sử
dụng, ảnh hưởng đến môi trường xung quanh, gia đình, xã hội.
Các

rối

loạn

loạn

thần

do

sử


Ở Việt Nam có nhiều nghiên cứu về các chất dạng
Amphetamine với các rối loạn tâm thần do chất dạng
Amphetamin gây ra. Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu nào về
thực trạng rối loạn tâm thần do sử dụng chất dạng
Amphetamin ở các bệnh nhân điều trị nội trú tại cơ sở y tế.
Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Thực
trạng và một số yếu tố liên quan rối loạn loạn thần ở
bệnh nhân sử dụng các chất dạng Amphetamine điều trị
nội trú tại Viện Sức Khỏe Tâm Thần” với mục tiêu:
1.

Mô tả thực trạng rối loạn loạn thần ở bệnh nhân sử dụng các chất
dạng Amphetamine điều trị nội trú tại Viện sức khỏe Tâm thần Bệnh

2.

viện Bạch Mai từ tháng 12/2017 đến tháng 12/2018.
Nhận xét một số yếu tố liên quan rối loạn loạn thần ở nhóm bệnh nhân
nói trên.


3

CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Đại cương về các chất dạng Amphetamine
1.1.1. Lịch sử chất dạng Amphetamine (ATS)
Amphetamine lần đầu tiên được tổng hợp ở Đức vào năm
1887. Vào những năm 1920, sau khi thu hẹp nguồn Ephedrine,
Amphetamine được sử dụng trên lâm sàng để điều trị hen phế

Amphetamine được hình thành từ alpha-methyl-betaphenyl-ethylamine, là một chất lỏng không màu cấu thành từ
carbon, hydro và nitro. Amphetamine có công thức hóa học gốc
từ Phenylethylamines; tương tự cấu trúc của adrenaline (hình
1). Phenylethylamines có tác dụng chính là kích thích thần kinh
trung ương. Khi bào chế thay thế công thức hóa học với các
chuỗi phân tử ethyl carbon (mũi tên trong hình 1), nhân thơm
và nhánh cuối amino nitơ tạo ra các tác dụng khác nhau trên
lâm sàng.

Adrenaline

Phenylethylamine

Hình 1.1. Công thức hóa học của adrenaline và
phenylethylamine
Sự xâm nhập các chất kích thích vào trong bào tương tế
bào chủ yếu thông qua tái hấp thu chất dẫn truyền thần kinh
monoamine [13]. Amphetamine cũng hoạt động như một chất
nền kích thích giải phóng chất dẫn truyền thần kinh trung
gian. Sự ức chế tái hấp thu monoamine thông qua cạnh tranh
trực tiếp với sự tái hấp thu để cho các chất dẫn truyền và sự
khích thích vận chuyển này hoạt động như một chất đảo ngược
[13]. Amphetamine ức chế giải phóng các monoamine từ các
túi chứa chất dẫn truyền thần kinh trung gian, làm giảm lượng
monoamine dự trữ và tăng nồng độ monoamine trong tế bào
chất.
Một

biệt


do

methyl

hóa

Amphetamine, là một nhóm methyl chức năng (-CH3) được gắn
vào phân tử Amphetamine để tạo thành Methamphetamine
(methyl + amphetamine). Khi vào cơ thể, Methamphetamine
phân hủy thành Amphetamine.
Sự

khác

biệt

chính

giữa

Methamphetamine



Amphetamine là ở quá trình điều chế và khả năng kích thích
thần kinh trung ương. Methamphetamine có tác dụng dược lý
mạnh hơn, kéo dài hơn và độc hại hơn so với Amphetamine
phần lớn do nhóm N-methyl (gọi tắt là "meth") trong công thức
hóa học của Methamphetamine làm giảm sự phân cực tế bào,
cho phép dễ tan trong lipid hơn, dễ xuyên qua hàng rào máu

dẫn truyền thần kinh, làm cho chất dẫn truyền thần kinh tồn
tại lâu hơn tại khe synap.


6

Amphetamine Công thức: C9H15N

Methamphetamine

Công thức: C10H15N
Hình 1.2: Công thức hóa học của amphetamine và
methamphetamine
Điều khá đặc biệt là Methamphetamine kích thích mạnh
hệ thống thần kinh trung ương hơn so với Amphetamine, trong
khi kích thích rất kém đối với hệ thần kinh và tim mạch ngoại
vi [14].
Một sự khác biệt nữa là Amphetamine gián tiếp kích thích
hệ thần kinh trung ương bằng cách kích hoạt tạo ra các
catecholamine, đồng thời ức chế tái hấp thu và tăng lưu trữ
catecholamine

tại

phía

trước

Methamphetamine





Levoamphetamine (l-amphetamine) chủ yếu và một phần nhỏ là
Dextroamphetamine (d-amphetamine). L-amphetamine rất yếu,
nó tác động rất ít lên hệ thần kinh trung ương và khả năng gây
nghiện khá yếu. Tuy nhiên Dextroamphetamine lại mạnh hơn
Levoamphetamine gấp nhiều lần và gây nghiện mạnh. Do đó
khi nói về ảnh hưởng của Methamphetamine trên cơ thể, thực
ra là những ảnh hưởng của Dextroamphetamine [15].
Methamphetamine dạng tinh thể trông giống như thủy
tinh thường được gọi là "đá” và sử dụng theo đường hút. Ngày
càng có nhiều bằng chứng Methamphetamine dạng tinh thể
theo đường hút có tác hại tâm lý và tiềm năng gây nghiện cao
hơn các đường dùng khác của Methamphetamine [16], [17].
Ngoài ra, Methamphetamine đôi khi được pha trộn với các
loại ma túy khác và bán với tên gọi "thuốc lắc" [16] (3,4methylenedioxymethamphetamine - MDMA), một loại ma túy
với tính chất gây ảo giác thường được sử dụng tại các câu lạc
bộ giải trí, quán bar, tụ điểm vui chơi công cộng.
1.1.2.3. MDMA (3.4-MethyleneDioxyMethylAmphetamine)


7

MDMA (“ecstasy,” “adam”) là một trong các dẫn chất của
Amphetamine. Các tổ chức tội phạm đã điều chế thay đổi cấu
trúc hóa học của Amphetamine để tránh sự kiểm soát của pháp
luật, lần lượt tạo ra MDMA và một loạt các hợp chất với hiệu
ứng mới là vừa kích thích tâm thần vừa gây ảo giác nhẹ.
Ngoài MDMA, dẫn xuất của amphetamine còn có một số

Biểu hiện lâm sàng
Cảm giác chủ quan:
phấn khích, tràn

Liều ATS
Giả thuyết về cơ chế tác dụng
sử dụng
Hiệu ứng kích thích do kích hoạt α1 và β> 5mg
adrenoceptor trong bó não trước trung gian.


8

Biểu hiện lâm sàng

Liều ATS
sử dụng

đầy sinh lực, giảm
mệt mỏi, ý tưởng
nhanh nhẹn
Khoái cảm: cao độ,
hưng phấn, say đắm

> 5mg

Thư giãn: mọi căng
thẳng biến mất, tự
tin, gần gũi



> 10mg

Tăng nhịp thở

30mg

Tăng thân nhiệt

30mg

Giả thuyết về cơ chế tác dụng
Kích thích thụ thể Dopamine D1-và D2 có
thể có liên quan. Hiện tượng ý tưởng nhanh
nhẹn tương quan với kích hoạt vỏ não hệ
viền và thể vân.
Amphetamine làm giải phóng hàng loạt
dopamine tại nhân accumbens có tương
quan với trạng thái khoái cảm
Sự kích thích thụ thể serotonin 5-HT1 và 5HT2B có tác dụng giải lo âu
Phát sinh từ sự kích thích quá mức hệ
adrenergic thông qua kích thích quá mức
α1-adrenergic trong vỏ não trước trán,
serotonin 5-HT3 và /hoặc dopamine trong
thể vân
'Ý tưởng nhanh' tương ứng với kích hoạt vỏ
não hệ
viền, thể vân
đáp ứng
Methamphetamine

sử dụng

> 30mg

Giãn đồng tử

Kích hoạt tâm lý

> 55mg

Giảm ngon miệng

> 5mg

Tác động nhận thức
tức thì: giảm nhạy
cảm, giảm đáp ứng
với kích thích

10mg

Tăng tập trung chú
ý, chú ý nhiều việc
một lúc

30mg

Tăng khả
thuyết trình


vân bụng và vùng não trước trán là cơ sở
tương quan với sự chú ý. Thành phần kích
thích sự chú ý có thể được tạo điều kiện
thuận lợi bởi sự kích thích α1 và βadrenoceptor
trong bó não trước trung gian.
Kích thích thụ thể dopamine D1 và α2adrenoceptor trong vỏ não trước trán tạo
điều kiện tốt cho trí nhớ
Kích thích thụ thể dopamine D1 và α2adrenoceptor trong vỏ não trước trán tạo
điều kiện tốt cho trí nhớ.
Kích hoạt hệ dopaminergic trong thể vân,
tại các hạch, điều chỉnh các động cơ hoạt
động

1.2. Thực trạng các rối loạn loạn thần do ATS
Rối loạn loạn thần liên quan đến sử dụng ATS được nghiên cứu nhiều
trong lĩnh vực tâm thần học bởi vì có nhiều biểu hiện giống với bệnh tâm thần


10

phân liệt. Biểu hiện lâm sàng của rối loạn thần do sử dụng ATS với sự xuất hiện
của hoang tưởng. Tuy nhiên, rối loạn loạn thần do ATS có nhiều đặc điểm khác
biệt bao gồm các ảo thị xuất hiện chiếm ưu thế, đồng thời các biểu hiện chung
hay gặp như tăng hoạt động, tăng tình dục, tư duy thiếu mạch lạc, không liên
quan. Bên cạnh đó, loạn thần do ATS không có sự nghèo nàn về cảm xúc và mất
tính logic như trong tâm thần phân liệt [19].
1.2.1 Thực trạng các rối loạn loạn thần do ATS trên thế giới
Rối loạn loạn thần hay gặp người sử dụng ATS mức độ nặng, theo Kaplan
& Sadock (2017) khoảng 30% người sử dụng Metamphetamine, thường biểu
hiện một giai đoạn loạn thần ngắn [20]. Theo Tania (2013) việc lạm dụng kéo

tính giống tâm thần phân liệt ít gặp [24].
1.2.2. Thực trạng các rối loạn loạn thần do ATS tại Việt Nam
Theo UNODC (2017) về các thách thức, xu hướng sử dụng
ma túy thế hệ mới, việc sử dụng các chất dạng ATS đang có sự
gia tăng nhanh. Thống kê năm 2014, tính riêng ATS dạng viên
nén với 279.285 đến 2015 là 669.632 viên và dạng ATS khác sử
dụng đến 983kg, kèm theo có sự gia tăng sử dụng các chất
khác như thuốc lắc, Metamphetamin dạng bột,…[25].
Chính vì vậy mà hậu quả do việc lạm dụng ATS gia tăng
nhanh chóng, trong đó gia tăng các rối loạn loạn thần do ATS.
Theo Lê Minh Ngọc (2013), khi nghiên cứu ở 57 đối tượng rối
loạn loạn thần do ATS, đa số được chẩn đoán với rối loạn loạn
thần với hoang tưởng chiếm ưu thế (55,8%) và ảo giác chiếm
ưu thế với 34,6% [26]. Theo Nguyễn Kim Việt (2013) khi nghiên
cứu 141 bệnh nhân rối loạn loạn thần do ATS, hoang tưởng bị
theo dõi và bị truy hại với 57,2% và 49,7% [27]. Theo Trần Thị
Hồng Thu (2016) khi nghiên cứu 117 bệnh nhân có rối loạn
tâm thần do ATS điều trị nội trú tại Viện Sức khỏe Tâm thần có
82,9% được chẩn đoán là rối loạn loạn thần do ATS, còn lại là
trạng thái cai và nhiễm độc cấp do ATS, trong đó 74,35% bệnh
nhân có hoang tưởng chiếm ưu thế, 66,66% có ảo giác chiếm
ưu thế. Trong nhóm có hoang tưởng thì hoang tưởng bị theo dõi
và bị truy hại hay gặp nhất với 47,12% và 39,08%. Trong nhóm
có ảo giác thì ảo thanh chiếm đa số 56,41% [28].
1.2.3 Tình hình sử dụng ATS và điều trị ATS
1.2.3.1 Tình hình sử dụng ATS
Việc sử dụng các loại ma túy thế hệ mới, trong đó có ATS
ngày càng gia tăng và dần thay thế các ma túy truyền thống
(thuốc phiện, heroin) trên thế giới nói chung và Việt nam nói
riêng. Theo cơ quan liên quốc gia về ma túy và tội phạm (2017)

thầy thuốc chuyên khoa tâm thần. Những kinh nghiệm dựa trên
thực hành và ý kiến chuyên gia có thể đưa ra một số hướng dẫn
như sau: Chỉ sử dụng thuốc chống loạn thần trong vài ngày đầu
để điều trị hoang tưởng và ảo giác. Các thuốc đối kháng
dopamine như Chlorpromazine, Haloperidol, và Thioridazine
có hiệu quả trong điều trị các rối loạn tâm thần do ATS [30],
[31]. Quetiapine (Seroquel) là thuốc chống loạn thần được sử


13

dụng rộng rãi nhất với các rối loạn tâm thần do sử dụng ATS
[32].
Các rối loạn loạn thần có thể sử dụng các thuốc an thần
kinh thế mới như Olanzapine, Risperidone… hoặc Haloperidol
liều 5-10mg/ngày, khi có các triệu chứng trầm cảm có thể sử
dụng các thuốc chống trầm cảm (SSRIs, SNRIs…) hoặc triệu
chứng lo âu có thể sử dụng thêm các thuốc giải lo âu [19], theo
Shoptaw J.S. (2009) khi nghiên cứu tổng quan hệ thống về điều
trị loạn thần do Amphetamin, nhận thấy các thuốc an thần thế
hệ mới (Olanzapine) và an thần kinh cổ điển (Haloperidol) đều
có hiệu quả điều trị các loạn thần này, tuy nhiên các bằng
chứng đều rất hạn chế [29].
Bảng tóm tắt thuốc điều trị [34]
Triệu chứng
Thuốc
Lo âu, bồn chồn Hydroxyzine
Diphenhydramine
Mất ngủ
Hydroxyzine or

tầng lớp, môi trường sinh sống, nghề nghiệp và trình độ văn


14

hóa. Tuy nhiên điều đáng quan tâm là lứa tuổi sử dụng chất
dạng Amphetamine ngày càng được trẻ hóa. Xuất hiện ngày
càng nhiều đối tượng học phổ thông trung học, điều mà trước
đây các loại ma túy khác thường gặp lứa tuổi đi làm hoặc sinh
viên. Theo Kaplan & Sadock (2017), nhóm tuổi từ 18 – 25 là
nhóm chịu ảnh hưởng nặng nề nhất từ loạn thần do ATS [32].
Điều này cực kì nguy hiểm, vì đây chính là nhóm lứa tuổi khỏe
mạnh, sự lao động học tập đang phát triển mạnh mẽ. Khi lứa
tuổi này chìm đắm trong chất ma túy sẽ ảnh hưởng đến an ninh
chính trị, kinh tế xã hội và sự ổn định phát triển đất nước.
Theo các nghiên cứu, rối loạn loạn thần do ATS có nguy cơ
như nhau về giới. Mặc dù theo thống kê trên thế giới tỉ lệ nam
giới sử dụng cao hơn hẳn so với nữ giới [22]. Tuy nhiên, tổng
hợp nhiều nghiên cứu trên thế giới lại cho thấy không có mối
liên quan giữa các yếu tố nhân khẩu xã hội học (tuổi, giới, nghề
nghiệp, môi trường sinh sống...) với các rối loạn loạn thần do
sử dụng ATS ở nhóm đối tượng sử dụng [33], [34].
1.3.2 Các yếu tố sử dụng ATS
Thời gian sử dụng:
Các nghiên cứu trên thế giới cho thấy tuổi bắt đầu sử
dụng càng sớm, thời gian sử dụng kéo dài có liên quan đến
tăng nguy cơ mắc rối loạn loạn thần ở bệnh nhân sử dụng ATS.
Đồng thời mức độ trầm trọng của các triệu chứng loạn thần
kéo dài có thể có liên quan đến việc tiếp xúc sớm hơn và lâu
hơn với các chất này. Đặc biệt, mỗi người sử dụng có một

1.3.3 Sang chấn tâm lý trong đời sống
Nhóm đối tượng sử dụng Metamphetamin có trải nghiệm cuộc sống tồi tệ
trong quá khứ làm tăng nguy cơ bị loạn thần do Metamphetamin. Các nghiên
cứu của Shirley J.S và cộng sự (2011) đã phát hiện ra rằng lạm dụng tình dục và
các hành vi tình dục không an toàn ở người dùng Metamphetamin có liên quan
đến loạn thần mạn tính do Methamphetamine. Tuy nhiên một số nghiên cứu
khác lại chưa tìm thấy mối liên quan [42]. Theo một nghiên cứu về sang chấn
thời thơ ấu và sự xuất hiện loạn thần thoáng qua ở đối tượng sử dụng
Metamphetamin. Các nhà nghiên cứu nhận thấy rằng, những đối tượng có từ ba
sang chấn thời thở ấu trở lên có nguy cơ cao hơn đáng kể về tỷ lệ mắc loạn thần
khi sử dụng Metamphetamin [35].
1.3.4 Yếu tố di truyền
Yếu tố di truyền và gia đình cũng đóng góp cho loạn thần do
Methamphetamin (MAP). Người sử dụng Metamphetamin có thành viên gia
đình có tiền sử rối loạn tâm thần mẫn cảm với MAP. Người thân của bệnh nhân


16

MAP dai dẳng đã có một nguy cơ mắc bệnh tâm thần phân liệt cao hơn so với
người thân của bệnh nhân MAP thoáng qua.
Một số nghiên cứu đã chứng minh rằng người thân thế hệ 1 mắc các rối
loạn phổ phân liệt thì có nguy cơ gấp năm lần khả năng bị loạn thần khi sử dụng
chất [34]. McKetinet (2013) chứng minh rằng tiền sử gia đình bị tâm thần phân
liệt có liên quan với loạn thần dai dẳng do sử dụng Methamphetamine [43].
Hiện nay, một số phụ thuộc chất cổ điển hoặc các gen liên quan đến tâm
thần liên quan đến MAP đã được báo cáo. Biến thể trong GRIN1 đã được xác
định là rủi ro yếu tố tâm thần phân liệt và phụ thuộc thuốc, hỗ trợ các giả thuyết
về rối loạn chức năng glutamatergic trong các rối loạn này. Biến thể di truyền
của GRIN1 là một ví dụ điển hình cho mối liên quan di truyền với sự phụ thuộc

thanh 54%, ngôn ngữ vô tổ chức và các triệu chứng âm tính
giống tâm thần phân liệt ít gặp [24].
Theo Zarrabi H. và cộng sự (2016) khi thực hiện nghiên
cứu trên 152 đối tượng loạn thần do sử dụng Metamphetamine
thu được kết quả các triệu chứng tâm thần thường gặp nhất là
bạo lực (75,6%), bạo lực bạn tình (61,2%), hoang tưởng bị truy
hại (85,5%), hoang tưởng liên hệ (38,5%), hoang tưởng tự cao
(32,9%), hoang tưởng ghen tuông (30,2%), ảo giác thính giác
(51,3%), ảo giác thị giác (18,4%), ý tưởng tự sát (14,5%), toan
tự sát (10,5%). Đồng thời, hoang tưởng bị truy hại và ảo giác
thính giác là thường xuyên nhất triệu chứng loạn thần mạn tính
[44].
Hong G. và cộng sự (2018) khi nghiên cứu loạn thần do
Metamphetamin ở 1.430 đối tượng sử Metamphetamin ở
Thượng Hải cho thấy có 37,1% nhóm đối tượng này được chẩn
đoán là rối loạn loạn thần do sử dụng Metamphetamin, trong
đó các biểu hiện hay gặp như hoang tưởng chiếm 92,8%, ảo
giác chiếm 83,4%, nói không liên quan 42,5% [23].
1.4.1.2. Các yếu tố liên quan đến rối loạn loạn thần do sử dụng
ATS
Chang X. và cộng sự (2018) thực hiện nghiên cứu tổng
quan

về

yếu

tố

nguy

nguy



loạn

thần

do

Metamphetamin. Có liên quan đến các sự kiện bất lợi trong
cuộc

sống



làm

trầm

trọng

thêm

loạn

thần

do


do

metamphetamin nhận thấy tuổi giới, nghề nghiệp không có liên
đến tình trạng loạn thần do sử dụng Metamphetamin, mà tần
suất sử dụng càng tăng, tuổi sử dụng càng sớm có liên quan
đến nguy cơ loạn thần do Metamphetamin ở đối tượng sử dụng
[46].
1.4.2. Tại Việt Nam
Tại Việt Nam có nhiều nghiên cứu về rối loạn loạn thần do
sử dụng chất dạng Amphetamine.
Lê Minh Ngọc (2013) khi nghiên cứu ở 57 đối tượng rối
loạn loạn thần do ATS cho thấy đa số được chẩn đoán với rối
loạn loạn thần với hoang tưởng chiếm ưu thế (55,8%) và ảo
giác chiếm ưu thế với 34,6% [26].
Nguyễn Kim Việt và cộng sự (2013) khi đánh giá ở 141 đối
tượng cho thấy đa số các đối tượng rối loạn loạn thần do ATS
có biểu hiện hoang tưởng bị theo dõi và bị truy hại với 57,2%
và 49,7% [27].
Trần Thị Hồng Thu (2016) khi nghiên cứu trên 117 đối
tượng có rối loạn tâm thần do ATS điều trị nội trú tại Viện Sức
khỏe Tâm thần thì có 82,9% được chẩn đoán là rối loạn loạn
thần do ATS, còn lại là trạng thái cai và nhiễm độc cấp do ATS,
trong đó có 74,35% đối tượng có hoang tưởng chiếm ưu thế,
66,66% có ảo giác chiếm ưu thế. Trong nhóm có hoang tưởng
thì hoang tưởng bị theo dõi và bị truy hại hay gặp nhất với
47,12% và 39,08%. Trong nhóm có ảo giác thì ảo thanh chiếm
đa số 56,41% [28].





Trong đó:
n: Cỡ mẫu tối thiểu.


20

α: Mức ý nghĩa thống kê.
Z2(1-α/2): Hệ số tin cậy.
Khi α bằng 0,05 (độ tin cậy 95%) thì Z2(1-α/2) bằng 1,962.
p: xác suất tỉ lệ rối loạn loạn thần là 0,942.
∆: Độ sai lệch mong muốn 0,08.
Thay vào công thức ta được:
n=

0,942(1



0,942)
0,082
Cỡ mẫu nghiên cứu: tối thiểu n = 33 bệnh nhân.
1,962

Nghiên cứu của chúng tôi thu thập được mẫu 47 bệnh
nhân phù hợp.
2.2.3. Công cụ nghiên cứu
Mẫu bệnh án nghiên cứu.
Bệnh án gốc.

Chẩn đoán lúc vào viện:


Các triệu chứng hoang tưởng

 Các triệu chứng ảo giác

Tần suất biểu hiện các triệu chứng loạn thần: không có, đôi lúc hay thường xuyên.
Thời điểm phát hiện các triệu chứng loạn thần: vào viện, tuần 1, tuần 2…
Thời điểm hết triệu chứng loạn thần.
2.5. Các tiêu chuẩn trong nghiên cứu
2.5.1. Tiêu chuẩn chẩn đoán rối loạn loạn thần
Khởi phát của các triệu chứng loạn thần xảy ra trong khi sử dụng hoặc
trong vòng 2 tuần có sử dụng chất.
Các triệu chứng phải tồn tại hơn 48 giờ.
Các triệu chứng này kéo dài không quá 6 tháng.
Với F16.50 Rối loạn loạn thần giống tâm thần phân liệt.
F16.51 Rối loạn loạn thần với hoang tưởng chiếm ưu thế.
F16.52 Rối loạn loạn thần với ảo giác chiếm ưu thế.
F16.53 Rối loạn loạn thần chủ yếu đa dạng.
F16.54 Rối loạn loạn thần với trầm cảm chiếm ưu thế.
F16.55 Rối loạn loạn thần với hưng cảm chiếm ưu thế.
F16.56 Rối loạn loạn thần hỗn hợp.


22

2.6. Xử lý số liệu
Số liệu thu thập được phân tích, xử lý theo phương pháp
thống kê toán học và sử dụng chương trình SPSS 16.0


n
44
3
0
2
11
8
11
6
9

%
93,6
6,4
0
4,3
23,4
17,0
23,4
12,8
19,1
31,83 ± 8,59
19
51

Nhận xét:
Tuổi trung bình của nhóm đối tượng là 31,83 ± 8,59. Trong đó tuổi trẻ



Nơi ở
Thành thị
Nông thôn

n
2
2
3
38
1
1
2
6
32

%
4,3
4,3
6,4
80,9
2,1
2,1
4,3
12,8
68,1

7

14,9


Thu nhập
X ± SD (triệu đồng)
Min (triệu đồng)
Max (triệu đồng)
Nhận xét:

Thu nhập của BN
8,1 ± 8,27
0
50,0

Thu nhập của gia đình
9,1 ± 10,56
2,0
50,0

Thu nhập của bệnh nhân dao động lớn trong nhóm nghiên
cứu từ 0 đồng đến 50 triệu đồng, trung bình 8,1 ± 8,27 triệu
đồng. Thu nhập của gia đình cũng dao động từ 2,0 đến 50,0
triệu đồng, trung bình 9,1 ± 10,56 triệu đồng.
Bảng 3.4. Đặc điểm về hoàn cảnh kinh tế và vai trò thu
nhập của bệnh nhân
Đặc điểm
Hoàn cảnh kinh tế
Vai trò của bệnh nhân

Trung bình
Giàu
Người thu nhập chính
Không phải là người thu

Nhận xét:

Tuổi
28,49 ± 9,16
17
48

Tuổi trung bình bắt đầu sử dụng khá trẻ là 28,49 ± 9,16.
Thấp nhất là 17 tuổi, lớn nhất là 48 tuổi.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status