VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐẶNG VĂN HÙNG
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO BỀN
VỮNG TỪ THỰC TIỄN HUYỆN THĂNG BÌNH,
TỈNH QUẢNG NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
HÀ NỘI, năm 2019
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐẶNG VĂN HÙNG
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO BỀN
VỮNG TỪ THỰC TIỄN HUYỆN THĂNG BÌNH,
TỈNH QUẢNG NAM
Chuyên ngành : Chính sách công
Mã số
: 8 34 04 02
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS, TS. NGUYỄN THỊ HOÀI LÊ
2.3. Thực trạng thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững từ thực tiễn huyện
Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam ...................................................................................42
2.4. Đánh giá kết quả thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững từ thực tiễn huyện
Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam ...................................................................................55
CHƯƠNG 3. MỤC TIÊU VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP THỰC HIỆN CHÍNH
SÁCH GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG TRÊN TỪ THỰC TIỄN HUYỆN
THĂNG BÌNH, TỈNH QUẢNG NAM ..................................................................60
3.1. Quan điểm chủ yếu trong việc thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững từ
thực tiễn huyện Thăng Bình ......................................................................................60
3.2. Mục tiêu đến năm 2020 ......................................................................................61
3.3. Những thuận lợi, khó khăn .................................................................................62
3.4. Một số giải pháp cơ bản thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững từ thực tiễn
huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam ........................................................................63
3.5. Một số kiến nghị.................................................................................................75
KẾT LUẬN ..............................................................................................................78
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ...............................................................79
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài luận văn
Thực hiện mục tiêu giảm nghèo là chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước ta
nhằm cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của người nghèo, góp phần thu hẹp
khoảng cách chênh lệch về mức sống giữa nông thôn và thành thị, giữa các vùng,
các dân tộc và các nhóm dân cư, đồng thời thực hiện quyết tâm trong việc thực hiện
mục tiêu thiên niên kỷ của Liên hợp quốc mà Việt Nam đã cam kết.
Nước ta là một nước nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ đang được chú
trọng phát triển nhưng chưa mạnh. Đảng và Nhà nước ta luôn xác định việc xóa đói,
giảm nghèo là một trong những quốc sách hàng đầu cần phải tập trung, góp phần
quan trọng vào ổn định và phát triển kinh tế - xã hội, đó là tiền đề để phát triển nền
kinh tế quốc dân. Giảm nghèo bền vững đã và đang trở thành vấn đề vừa mang tính
tác giảm nghèo chưa được thường xuyên, chỉ tập trung vào một số ngành. Đây là
những nguyên nhân làm hạn chế hiệu quả của chính sách giảm nghèo bền vững từ
thực tiễn huyện.
Nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân, từng bước giảm nghèo
bền vững được xem là nhiệm vụ trọng tâm trong chính sách phát triển kinh tế - xã
hội của Huyện Thăng Bình. Xuất phát từ những yêu cầu và tình hình thực tế việc
thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững từ thực tiễn huyện Thăng Bình, tôi nhận
thấy vấn đề nghèo và chính sách giảm nghèo bền vững cần được quan tâm và có
những chính sách phù hợp thì mới có thể thực hiện tốt hơn công tác giảm nghèo bền
vững ở địa phương. Đây là lý do mà tôi chọn đề tài “Thực hiện chính sách giảm
nghèo bền vững từ thực tiễn huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam” để làm luận
văn tốt nghiệp của mình.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
Trong thời gian qua, vấn đề thực hiện chính sách giảm nghèo luôn được quan
tâm, có nhiều công trình nghiên cứu, nhiều luận văn tốt nghiệp đã đề cập đến chính
sách giảm nghèo bền vững ở các địa phương khác nhau trên cả nước như:
- Đề tài “thực trạng đói nghèo và giải pháp xóa đói giảm nghèo ở một số tỉnh
ven biển Miền trung”; đề tài cấp Bộ do PGS.TS Khống Diễn chủ nhiệm. Đề tài đã
phân tích làm rõ thực trạng nghèo đói chung của vùng ven biển Miền Trung, làm rõ
2
sự khác biệt về đói nghèo giữa các nhóm dân tộc kinh và dân tộc thiểu số, giữa
đồng bằng và miền núi ở các tỉnh này, từ kết quả nghiên cứu đề tài đề xuất các kiến
nghị, giải pháp có tính khả thi và phù hợp với thực trạng của vùng nhằm thực hiện
xóa đói giảm nghèo hiệu quả, phát triển bền vững kinh tế - xã hội tại các tỉnh ven
biển Miền Trung.
- Luận văn thạc sỹ của tác giả Nguyễn Xuân Nghiêm về “Thực hiện chính
sách giảm nghèo bền vững cho người dân tộc Cơtu từ thực tiễn huyện Đông Giang,
có vai trò rất quan trọng trong phát triển KTXH nhất là trong thời kỳ đẩy mạnh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế sâu rộng như hiện nay, cho nên
việc nghiên cứu đề tài GNBV vẫn luôn có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn. Mặt
khác, hiện tại chưa có công trình nào nghiên cứu cụ thể và toàn diện về vấn đề
Thực hiện chính sách GNBV từ thực tiển huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam với
cách tiếp cận đầy đủ dưới góc độ của khoa học Quản lý công.
Tuy nhiên đến thời điểm hiện nay, chưa có đề tài nào nghiên cứu về chính
sách giảm nghèo bền vững từ thực tiễn huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam.
3. Mục đích, nhiệm vụ của đề tài
* Mục đích:
- Luận văn nghiên cứu đánh giá được kết quả và nguyên nhân thực hiện chính
sách giảm nghèo bền vững từ thực tiễn huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam.
- Đề xuất được các giải pháp cơ bản để thực hiện tốt chính sách giảm nghèo
bền vững từ thực tiễn huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam.
* Nhiệm vụ của đề tài:
- Làm rõ một số vấn đề lý luận về nghèo, giảm nghèo bền vững và chính sách
giảm nghèo bền vững.
- Tìm hiểu thực trạng tình hình giảm nghèo, chính sách giảm nghèo bền vững
từ thực tiễn huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam.
- Rút ra những hạn chế, tồn tại, chỉ rõ nguyên nhân trong việc thực hiện chính
sách giảm nghèo bền vững từ thực tiễn huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam.
- Nghiên cứu, đề xuất một số giải pháp giảm nghèo bền vững từ thực tiễn
huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
* Đối tượng nghiên cứu:
4
Việc thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững từ thực tiễn huyện Thăng
Bình, tỉnh Quảng Nam.
6.2. Về mặt thực tiễn:
Dựa trên cơ sở đánh giá đúng thực trạng của đói nghèo từ thực tiển huyện
Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam, luận văn chỉ rõ những ưu điểm và hạn
chế trong
Thực hiện chính sách GNBV tại huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam. Từ đó đề
xuất phương hướng và giải pháp phù hợp, khả thi nhằm nâng cao hiệu quả Thực
hiện chính sách GNBV từ thực tiển huyện trong thời gian tới.
Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo để nghiên cứu, học tập cũng
như giúp người đọc có thể hiểu thêm về những vấn đề lý luận, thực tiễn Thực hiện
chính sách GNBV ở huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam. Đồng thời, luận văn
cũng có thể là nguồn tài liệu giúp nhà quản lý đưa ra những chính sách đúng đắn
và hiệu quả trong quá trình thực hiện chính sách đối với công tác GNBV.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, nội dung chính của luận văn được trình bày
thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về chính sách giảm nghèo bền vững
Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách giảm nghèo từ thực tiễn huyện
Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam.
Chương 3: Mục tiêu và một số giải pháp thực hiện chính sách giảm nghèo
bền vững từ thực tiễn huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam
6
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO
BỀN VỮNG
lên một mức sống cao hơn. Theo đó, giảm nghèo là quá trình chuyển từ tình trạng
có ít điều kiện lựa chọn sang tình trạng có nhiều hơn, hướng đến sự đầy đủ hơn các
điều kiện lựa chọn hơn để cải thiện đời sống mọi mặt của mỗi người.
1.1.1.3. Quan niệm về tái nghèo:
Tái nghèo được hiểu là tình trạng một hộ gia đình đã thoát nghèo quay trở
lại hộ nghèo trong một thời gian nhất định. Trong những năm qua, mặc dù Đảng và
Nhà nước đã thực hiện có hiệu quả nhiều chính sách xoá đói, giảm nghèo nhưng
kết quả giảm nghèo chưa thực sự bền vững, số hộ đã thoát nghèo nhưng mức thu
nhập nằm sát chuẩn nghèo còn lớn, tỷ lệ hộ tái nghèo hàng năm còn cao; chênh
lệch giàu và nghèo giữa các vùng, nhóm dân cư vẫn còn khá lớn, đời sống người
nghèo nhìn chung vẫn còn nhiều khó khăn, nhất là ở khu vực miền núi, vùng cao,
vùng sâu, vùng xa,vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Ở Việt Nam, Chính phủ cũng đã chỉ ra nguyên nhân của tình trạng tái nghèo
là một số chương trình, chính sách giảm nghèo chưa đồng bộ, còn mang tính ngắn
hạn, thiếu sự gắn kết chặt chẽ; cơ chế quản lý, chỉ đạo điều hành, phân công phân
cấp còn chưa hợp lý, việc tổ chức thực hiện mục tiêu giảm nghèo ở một số nơi
chưa sâu sát. Ngoài ra, một bộ phận người nghèo còn tâm lý ỷ lại, chưa tích cực,
chủ động vươn lên thoát nghèo, thậm chí thay đổi chuẩn nghèo cũng gây ra hiện
tượng tái nghèo.
1.1.1.4. Tiêu chí xác định chuẩn nghèo:
Chuẩn nghèo là thước đo, là tiêu chí để xác định đối tượng nghèo hay không
nghèo, trên thế giới hiện đang áp dụng các hình thức chuẩn nghèo như sau:
- Chuẩn nghèo dựa vào thu nhập hay chi tiêu, được quy đổi thành tiền xuất
phát từ quan niệm là để thỏa mãn các nhu cầu tối thiểu, mỗi người cần phải có một
khoản thu nhập/chi tiêu ở mức độ tối thiểu để thỏa mãn các nhu cầu đó. Chuẩn
nghèo dựa vào thu nhập/chi tiêu được nhiều quốc gia sử dụng trong đó có Việt
Nam, nhằm làm cơ sở xác định đối tượng thụ hưởng chính sách trợ giúp của nhà
nước.
8
nghèo
là
hộ
có
mức
thu
nhập
từ
nghèo
là
hộ
có
mức
thu
nhập
phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội của đất nước trong từng thời kỳ.
+ Chuẩn nghèo về thu nhập là mức thu nhập mà nếu hộ gia đình có thu nhập
dưới mức đó sẽ được coi là hộ nghèo về thu nhập. Chuẩn nghèo về thu nhập dùng
để xác định quy mô nghèo về thu nhập của quốc gia, xác định đối tượng thụ hưởng
chính sách hỗ trợ (gọi là chuẩn nghèo chính sách).
+ Chuẩn mức sống trung bình về thu nhập: Là mức thu nhập mà ở
đó người dân đã đạt được mức sống trung bình của xã hội, bao gồm nhu cầu về tiêu
dùng lương thực, thực phẩm và tiêu dùng phi lương thực, thực phẩm, phù hợp với
điều kiện kinh tế-xã hội của đất nước trong từng thời kỳ.
+ Các dịch vụ xã hội cơ bản gồm 5 dịch vụ: Tiếp cận về y tế, giáo dục, nhà ở,
nước sạch và vệ sinh, tiếp cận thông tin.
+ Các chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt gồm 10 chỉ số: trình độ giáo dục của
người lớn, tình trạng đi học của trẻ em, tiếp cận các dịch vụ y tế, bảo hiểm y tế, chất
lượng nhà ở, diện tích nhà ở bình quân đầu người, nguồn nước sinh hoạt, loại hố xí,
sử dụng dịch vụ viễn thông, tài sản phục vụ tiếp cận thông tin.
+ Ngưỡng thiếu hụt đa chiều: là mức độ thiếu hụt mà nếu hộ gia đình thiếu
nhiều hơn mức độ này thì bị coi là thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản, từ
1/3 tổng điểm thiếu hụt trở lên.
Hộ nghèo là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ chuẩn nghèo chính
sách trở xuống; hoặc có thu nhập bình quân đầu người/tháng cao hơn chuẩn nghèo
chính sách nhưng thấp hơn chuẩn mức sống tối thiểu và thiếu hụt từ 1/3 tổng số
điểm thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên.
(Các chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản gồm 10 chỉ
10
số: tiếp cận các dịch vụ y tế; bảo hiểm y tế (BHYT); trình độ giáo dục của người
lớn; tình trạng đi học của trẻ em; chất lượng nhà ở; diện tích nhà ở bình quân đầu
người; nguồn nước sinh hoạt; hố xí/nhà tiêu hợp vệ sinh; sử dụng dịch vụ viễn
GNBV có thể được hiểu là quá trình thực hiện cải thiện đời sống vật chất,
tinh thần cho người nghèo hướng tới nâng cao năng lực tự thoát nghèo và không
rơi trở lại trạng thái nghèo của người dân.
Về nguyên tắc, giải quyết vấn đề nghèo nói chung cần đảm bảo trên cả 2
phương diện số lượng và chất lượng.
Về số lượng, giảm nghèo sẽ là số tuyệt đối hộ nghèo giảm được trong một
khoảng thời gian nhất định, cần phân biệt giữa số hộ nghèo giảm với số hộ thoát
nghèo, hai khái niệm này chỉ đồng nhất với nhau khi không có các yếu tố khác tác
động đến như di chuyển dân cư, tái nghèo...
Về chất lượng giảm nghèo là khái niệm để chỉ thực chất của kết quả giảm
nghèo, mà vấn đề cần đạt được là đời sống người nghèo được nâng lên sau khi có
tác động hỗ trợ, khoảng cách thu nhập với các nhóm dân cư khác được rút ngắn về
mặt tốc độ, khi gặp rủi ro hay bất trắc sẽ không bị rơi vào tình trạng nghèo đói, hay
nói cách khác, chất lượng giảm nghèo suy cho cùng là phản ánh tính bền vững của
quá trình giảm nghèo.
GNBV ngoài việc bảo đảm hoàn thành các mục tiêu giảm nghèo đã định
trong từng giai đoạn, từng thời kỳ. Cần hướng đến việc khắc phục một cách có
hiệu quả nhất những bất cập, hạn chế trong giảm nghèo để tránh tình trạng tái
nghèo, cải thiện ở mức tốt nhất thu nhập và điều kiện sống của người nghèo. Từng
bước giúp họ có thể tự vươn lên một cách vững vàng thông qua việc họ có các điều
kiện và cơ hội khai thác các nguồn lực xã hội cơ bản để phát triển. Đồng thời,
hướng tới việc nắm bắt các xu hướng tác động đến chất lượng giảm nghèo để có
cách thức bảo đảm tính bền vững cho thành quả giảm nghèo.
Từ nhận thức nêu trên, có thể cụ thể hoá quan niệm GNBV trên các khía
cạnh sau: Thu nhập bình quân đầu người của các hộ nghèo tăng, tỷ lệ hộ nghèo
giảm theo từng năm, từng giai đoạn.
Điều kiện sống của người nghèo được cải thiện rõ rệt, trước hết là các điều
kiện sống cơ bản về y tế, giáo dục, văn hoá, nước sinh hoạt, nhà ở, và người nghèo
cũng được tiếp cận ngày càng thuận lợi hơn các dịch vụ xã hội cơ bản.
công tác có ý nghĩa xã hội sâu sắc này. Kết quả tích cực của công cuộc XĐGN đã
góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, thực hiện công bằng xã hội, an sinh xã hội
13
cho người dân vùng đặc biệt khó khăn. Do vậy, quan điểm nhất quán là cần phải
huy động vai trò của cả hệ thống chính trị và xã hội trong thực hiện chính sách này.
GNBV là yêu cầu cấp thiết để phát triển bền vững. Bước sang thời kỳ thực
hiện công cuộc đổi mới, xoá bỏ cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp để chuyển
sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Việc giải phóng sức sản xuất, phát triển kinh tế làm cho thu nhập, đời sống của đại
đa số nhân dân từng bước được cải thiện. Tuy nhiên, do điểm xuất phát của nền
kinh tế thấp, lại chịu hậu quả lớn của chiến tranh và thiên tai, dịch bệnh, kèm theo
tác động mạnh mẽ của cơ chế thị trường, nên sự phân hoá thu nhập, đời sống giữa
các vùng ngày càng tăng nhanh. Trong quá trình đổi mới, hội nhập và phát triển,
bộ phận dân nghèo kể cả những gia đình có công với cách mạng, chịu nhiều thiệt
thòi. Vì vậy, thu hẹp khoảng cách chênh lệch giàu, nghèo và trợ giúp người nghèo
đã trở thành nhu cầu bức thiết, và là một trong những biểu hiện bản chất xã hội chủ
nghĩa.
*
Thực hiện chính sách giảm nghèo phải hướng đến GNBV:
GNBV được hiểu là kết quả những nỗ lực của Nhà nước cộng đồng và
người dân về giảm nghèo có khả năng chịu được những rủi ro thông thường. Nghị
quyết Đại hội đại biểu Toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã khẳng định:
Tập trung triển khai có hiệu quả các chương trình giảm nghèo ở vùng sâu,
vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn. Đa dạng hoá các nguồn lực và phương thức xoá
cho giảm nghèo chưa đáp ứng yêu cầu, lại bị phân tán, dàn trải, thiếu giải pháp cụ
thể gắn kết việc thực hiện chính sách giảm nghèo với chính sách an sinh xã hội,
việc phối hợp chỉ đạo thực hiện giữa các bộ, ngành, địa phương chưa chặt chẽ,
hiệu quả. Với những quan điểm đồng bộ như vậy, sẽ đảm bảo tính khả thi trong
việc thực hiện mục tiêu GNBV của của Đảng và Nhà nước trong giai đoạn 2011 2020.
Trên thực tế, mặc dù đã được sự quan tâm của Đảng và Chính phủ nhưng
công tác giảm nghèo, đặc biệt là XĐGN cho đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu,
vùng xa vẫn còn nhiều hạn chế, chưa bền vững. Để GNBV cần đảm bảo những yếu
tố sau:
-Thứ nhất là “năng lực", bao gồm năng lực của người dân, năng lực cộng
đồng và năng lực của chính quyền. Trong thực tế, có những quốc gia, địa phương
15
có được kết quả giảm nghèo ấn tượng (giảm nghèo nhanh) nhưng do chỉ dựa vào
nguồn trợ giúp nên khi nguồn trợ giúp không còn thì người dân trở lại với nghèo
đói. Ngược lại, khi năng lực của người dân, năng lực cộng đồng năng lực chính
quyền tốt thì người dân có thể chủ động vươn lên thoát nghèo bằng chính nỗ lực
của họ cùng với năng lực hỗ trợ của chính quyền, đồng thời trong một cộng đồng
tốt thì hiệu quả của những đối phó rủi ro cũng cao hơn. Điều này sẽ tạo điều kiện
cho việc GNBV.
- Thứ hai là cơ hội phát triển. Nếu thiếu cơ hội để phát triển thì không sử
dụng được năng lực để giảm nghèo. Cơ hội phát triển luôn là vô tận và ngày càng
phong phú, tuy nhiên người nghèo không dễ để có thể tiếp cận và khai thác các cơ
hội bởi những bất lợi so với những nhóm giàu hay khá giả hơn. Trên thực tế, nhiều
cơ hội còn xa với người nghèo do thiếu các kênh để người nghèo tiếp cận. Do đó,
cần tăng tính mở của các cơ hội cho người nghèo thông qua độ mở các kênh tiếp
cận.
- Thứ ba là an toàn. Nếu như cùng với sự nỗ lực để giảm nghèo là những
135), Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo
theo Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP của Chính phủ, Chương trình mục tiêu quốc gia
về GNBV...
Trong những năm qua, kết quả XĐGN trong cả nước đã góp phần tăng
trưởng kinh tế bền vững và thực hiện công bằng xã hội, được cộng đồng quốc tế
đánh giá cao.
1.1.2.3.Vai trò của GNBV đối với sự phát triển kinh tế - xã hội:
Giảm nghèo và GNBV là một trong những nội dung của quá trình phát triển
bền vững. Bởi vậy, GNBV thực sự cần thiết và có ảnh hưởng nhiều mặt đối với
sự phát triển KTXH. Có thể khái quát sự cần thiết của GNBV trong quá trình phát
triển trên các phương diện như: đóng góp của GNBV với tăng trưởng kinh tế và
tiến bộ công bằng xã hội; với ổn định chính trị, phát triển xã hội, là điều kiện cho
phát triển kinh tế.
Ở nước ta, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm đến công tác giảm nghèo và
xác định là mục tiêu xuyên suốt trong quá trình phát triển KTXH, là một trong
những nhiệm vụ quan trọng góp phần phát triển đất nước theo định hướng xã hội
chủ nghĩa. Giảm nghèo vừa là nhiệm vụ cơ bản lâu dài, vừa là nhiệm vụ trọng tâm
trước mắt, bởi vì sự nghiệp cách mạng và công cuộc đổi mới luôn luôn đặt ra
17
nhiệm vụ: Mỗi bước phát triển KTXH là một bước cải thiện đời sống của nhân
dân; chính vì thế đây không chỉ là việc thực hiện đạo lý “Thương người như thể
thương thân” mà còn là nhiệm vụ để bảo đảm ổn định xã hội, củng cố khối đại
đoàn kết toàn dân tộc.
GNBV là điều kiện đảm bảo ổn định chính trị, an ninh quốc phòng. Thực
tiễn phát triển của các quốc gia đều chứng tỏ rằng, nhờ kinh tế tăng trưởng cao mà
có sức mạnh vật chất để hình thành và triển khai các chương trình hỗ trợ vật chất,
tài chính và đầu tư cho các đối tượng xã hội khác nhau, đặc biệt có những hỗ trợ
người khuyết tật, phụ nữ và trẻ em; xã nghèo và thôn nghèo; cương quyết xóa bỏ
tình trạng trông chờ, ỷ lại chính sách cũng như bệnh thành tích trong công tác giảm
nghèo.
3.2. Mục tiêu đến năm 2020
3.2.1. Mục tiêu tổng quát
Đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững, tiếp tục chuyển
dịch cơ cấu kinh tế theo hướng phát triển công nghiệp, thương mại và dịch vụ, huy
động nhiều nguồn lực để tạo cơ hội và điều kiện cho hộ nghèo, hộ cận nghèo tự lực
vươn lên phát triển kinh tế, tăng thu nhập, thụ hưởng các chính sách xã hội nhằm
cải thiện và từng bước nâng cao điều kiện sống, tăng cường đầu tư để xây dựng kết
cấu hạ tầng, tạo điều kiện cho phát triển kinh tế - xã hội, giảm nghèo nhanh và bền
vững. Không còn xã nghèo theo tiêu chí quy định. Tiếp tục hỗ trợ đầu tư kết cấu hạ
tầng thiết yếu phục vụ sản xuất và dân sinh ở các xã nghèo, thôn nghèo đặc biệt khó
khăn theo bộ tiêu chí xây dựng nông thôn mới.
3.2.2. Mục tiêu cụ thể
- Tiếp tục duy trì mức giảm tỷ lệ hộ nghèo bình quân toàn huyện, mỗi năm từ
2,5% - 3%, các xã nghèo giảm tỷ lệ hộ nghèo bình quân mỗi năm 4%; giảm tỷ lệ hộ
cận nghèo mỗi năm 3% (theo chuẩn nghèo giai đoạn 2016-2020).
- Đảm bảo thực hiện tốt các chính sách an sinh và phúc lợi xã hội đến với
người dân.
- Tất cả hộ nghèo có nhu cầu và đủ điều kiện vay vốn đều được vay vốn; hỗ
trợ lãi suất cho hộ cận nghèo, hộ thoát nghèo vay vốn để phát triển sản xuất, xuất
khẩu lao động; 100% người nghèo trong độ tuổi lao động có nhu cầu được đào tạo,
tập huấn và định hướng nghề nghiệp.
61
- 100% hộ nghèo có lao động nhưng không có việc làm được ưu tiên dạy
nghề, giới thiệu việc làm; tiếp tục đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất
- Huyện Thăng Bình vẫn còn nhiều khó khăn về kinh tế, sản xuất chủ yếu
vẫn là nông nghiệp, toàn huyện có 09 xã đặc biệt khó khăn, trong đó có 08 xã bãi
ngang ven biển và 01 xã miền núi, số lượng hộ nghèo, hộ cận nghèo, gia đình khó
khăn ở các xã này nhiều nên tỷ lệ hộ nghèo, hộ cận nghèo toàn huyện còn cao so
với một số huyện nên rất khó trong công tác giảm nghèo.
- Trình độ dân trí nói chung còn thấp, ý thức tự lực vươn lên trong cuộc sống
của một bộ phận người nghèo chưa cao, vẫn còn tồn tại một bộ phận người dân và
chính quyền địa phương không muốn thoát nghèo để tiếp tục được hưởng các cơ
chế, chính sách của nhà nước.
- Số lượng hộ nghèo do các nguyên nhân già cả neo đơn, mắc tệ nạn xã hội,
bệnh tật hiểm nghèo, đông người ăn theo, thiếu lao động chiếm tỷ lệ cao, những đối
tượng này khó có thể thoát nghèo. Các đối tượng này chủ yếu dựa vào chính sách
bảo trợ xã hội của nhà nước, khó thực hiện các chính sách giảm nghèo bền vững.
- Do điều kiện còn khó khăn, nguồn thu ngân sách của huyện còn rất thấp
nên nguồn lực tài chính để bố trí thực hiện chương trình, chính sách giảm nghèo
chưa đáp ứng yêu cầu.
3.4. Một số giải pháp cơ bản thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững
từ thực tiễn huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam
Xác định công tác giảm nghèo bền vững là nhiệm vụ hàng đầu, từng bước
cải thiện và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân. Trong những năm
qua cấp ủy, chính quyền, các tổ chức hội, đoàn thể huyện Thăng Bình đã có nhiều
nổ lực và tập trung nguồn lực thực hiện tốt các chính sách giảm nghèo.
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn việc thực hiện chính sách giảm
nghèo bền vững từ thực tiễn huyện Thăng Bình trong những năm qua, tìm hiểu
những kết quả đạt được, những hạn chế và nguyên nhân hạn chế, những quan điểm,
mục tiêu, định hướng về giảm nghèo bền vững. Luận văn đề xuất một số giải pháp
cơ bản nhằm thực hiện tốt hơn chính sách giảm bền vững từ thực tiễn huyện trong
thời gian tới.