Kết quả phẫu thuật cong dương vật bẩm sinh bằng phương pháp yachia tại bệnh viện hữu nghị việt đức - Pdf 56

1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Cong dương vật bẩm sinh (CDVBS) là một dị tật hiếm gặp biểu hiện
bởi sự lệch trục thân dương vật do sự phát triển mất cân xứng của lớp bao
trắng thể hang ở một hoặc cả hai bên. Theo một số nghiên cứu trên thế giới,
cong dương vật bẩm sinh chiếm tỷ lệ khoảng 0,04 - 0,6%, còn ở Việt Nam tỷ
lệ CDVBS chưa được nghiên cứu.
Đối với nam giới trưởng thành, dương vật cong không những gây ảnh
hưởng về mặt chức năng như giao hợp khó, giao hợp đau, không thể giao hợp
mà còn ảnh hưởng đến tâm lý của bệnh nhân như lo lắng, mặc cảm, không tự
tin khi giao hợp, lẩn tránh quan hệ tình dục hoặc sợ bạn tình bỏ do không đáp
ứng sự thỏa mãn về tình dục.
Có nhiều phương pháp phẫu thuật chỉnh cong dương vật, nổi bật là hai
nhóm chính: (1) kéo dài dương vật bằng cách rạch ngang bao trắng ở phía
bụng góc gập và dùng mảnh ghép tự thân, và (2) làm ngắn dương vật ở phía
lưng góc gập, vì kích thước dương vật khi cương trong bệnh lý này thường
dài hơn bình thường nên người ta chọn phương pháp thứ hai. Năm 1965,
Nesbit mô tả kỹ thuật cắt bỏ một hay nhiều mảnh bao trắng hình elip thể hang
bên dài, sau đó khâu lại bằng chỉ tiêu. Năm 1985, Essed - Chröeder đã mô tả
kỹ thuật khâu gấp bao trắng thể hang kèm theo bóc tách bó mạch thần kinh
lưng dương vật. Năm 1990, Yachia mô tả kỹ thuật mở dọc bao trắng thể hang
và khâu ngang trong điều trị bệnh Peyronie, tuy nhiên nó cũng rất hữu ích
trong điều trị cong dương vật bẩm sinh.
Năm 2000, với sự nhất trí của Tổ chức Y tế Thế giới, Ủy ban về bệnh
Peyronie và cong dương vật bẩm sinh đã thống nhất rằng các trường hợp cong
dương vật bẩm sinh ở thanh niên, phương pháp điều trị tốt nhất là khâu gấp


2


CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Giải phẫu dương vật
Dương vật thuộc bộ phận sinh dục ngoài của nam giới, đảm nhiệm hai
chức năng là tiểu tiện và sinh dục. Khi mềm, dương vật dài khoảng 10 cm nằm
trước bìu, dương vật gồm hai phần: phần trước di động và phần sau cố định.
1.1.1. Hình thể ngoài
Dương vật gồm rễ, thân và quy đầu dương vật
Rễ dương vật
Rễ dương vật dính vào cung mu và màng đáy chậu gồm có trụ dương
vật và hành dương vật
Trụ dương vật: đầu sau của hai vật hang, bám vào xương ngay phía
trước ụ ngồi, rồi dính dọc theo ngành dưới xương mu được bao bọc bởi cơ
ngồi hang, hai trụ dương vật hội tụ ở phía trước bờ dưới khớp muồi cong ra
trước xuống dưới liên tiếp với vật hang thân dương vật.
Hành dương vật: đầu sau của vật xốp, nằm trong rãnh giữa hai trụ
dương vật dính vào mặt nông của hoành niệu dục dưới.
Thân dương vật
Thân dương vật có hình trụ dẹt được tạo nên bởi các tạng cương, gồm 2
mạt: mặt mu dương vật và mặt niệu đạo.
Thân dương vật được treo bởi hai dây chằng do mạc dương vật tạo nên
là dây chằng đỡ dương vật và dây chằng treo dương vật.
Quy đầu dương vật
Quy đầu được bao bọc nhiều hay ít trong một nếp nửa niêm mạc, nửa
da gọi là bao quy đầu mà ở mặt dưới dày lên thành một nếp gọi là hãm bao
quy đầu. Quy đầu màu hồng nhạt, ở đỉnh quy đầu có miệng niệu đạo và ở đáy


4


- Mạc sâu dương vật bọc quanh thể hang và thể xốp. Các mạch máu và
thần kinh nằm trong mạc này
- Bao trắng bao bọc xung quanh hai thể hang, bao trắng của hai thể
hang gặp nhau ở giữa tạo thành vách dương vật và bao trắng thể xốp.
Trong phẫu thuật điều trị cong dương vật bẩm sinh, cần bóc tách được
da và lớp mạc nông dương vật về gốc dương vật để tạo hình dương vật bằng
cách can thiệp trực tiếp trên bao trắng của thể hang.
1.1.3. Mạch máu và thần kinh
Động mạch
Động mạch dương vật bắt nguồn từ động mạch thẹn trong chia thành
các nhánh nhỏ là động mạch thể hang, động mạch lưng dương vật, động mạch
niệu đạo và động mạch hành. Động mạch thể hang hay động mạch sâu dương
vật chạy giữa trục thể hang, ở đó nó chia thành nhiều nhánh xoắn gọi là động
mạch xoắn và đổ máu vào các xoang hang. Động mạch lưng dương vật chạy ở
lưng và ở dưới lớp mạc sâu dương vật.
Động mạch nông dương vật là những nhánh nhỏ nằm trong các lớp tổ
chức tế bào nhão dưới da có nguồn gốc từ động mạch thẹn ngoài và động
mạch đáy chậu nông
Tĩnh mạch
Dẫn lưu tĩnh mạch gồm dẫn lưu nội hang và ngoại hang
Dẫn lưu nội hang nằm giữa mô cương ngoại vi và bao trắng, gồm một
nhóm các tiểu tĩnh mạch xuất, các tĩnh mạch này chui qua bao trắng đổ vào
các tĩnh mạch ngoài bao trắng. Khi dương vật mềm, máu trong các xoang tĩnh
mạch có thể dễ dàng ra ngoài qua tĩnh mạch xuất nhưng khi dương vật cương
các tĩnh mạch xuất bị đè ép lại giữa bao trắng và xoang hang không cho máu
tĩnh mạch ra ngoài xoang để duy trì trạng thái cương.


6


Với giải phẫu dương vật liên quan đến cong dương vật bẩm sinh, bao
trắng thể hang là thành phần quan trọng nhất. Sự phát trển không cân xứng
của bao trắng từ trong thời kỳ bào thai gây nên cong dương vật bẩm sinh. Các
phẫu thuật điều trị cong dương vật bẩm sinh đều can thiệp trực tiếp trên bao
trắng thể hang. Trong phẫu thuật Yachia, bao trắng thể hang bên dài được xẻ
theo đường dọc sau đó khâu lại thành đường ngang để chỉnh thẳng dương vật.
Bao trắng thể hang cấu tạo gồm hai lớp, lớp dọc phía ngoài và lớp vòng
ở phía trong. Lớp phía ngoài mỏng hơn ở phía bụng dương vật, bao trắng ở vị
trí 05 giờ và 07 giờ gần thể xốp chỉ có một lớp trong (lớp vòng), không có lớp
ngoài (lớp dọc).
Độ dày của bao trắng khác nhau tùy vào vị trí theo chu vi của bao trắng
thể hang, trên diện cắt ngang qua dương vật thì độ dày thay đổi khoảng 0,8
mm ở vị trí 05 giờ và 07 giờ, dày khoảng 2,2 mm ở vị trí 01 giờ và 11 giờ.
Bao trắng thể hang được cấu tạo chủ yếu là những bó collagen dày và
một số sợi đàn hồi. Sợi collagen và sợi đàn hồi nằm xen kẽ nhau làm cho bao
trắng có độ chun giãn và đàn hồi cao. Lúc dương vật mềm bao trắng có độ
dày 2 - 3 mm, nhưng khi dương vật cương cứng bao trắng có độ dày chỉ còn
khoảng 0,5 mm. Trong thể hang có vách không hoàn toàn chia thể hang thành
những xoang hang, vách này là những tổ chức sợi.
Tất cả những động mạch hình sin và các nhánh xoắn trong xoang hang
được bao quanh bởi lớp sợi collagen, các thần kinh trong xoang hang cũng
được định vị trong đường hầm sợi collagen
Những màng sợi trong mô thể hang gắn chắc tất cả các thành phần
trong bao trắng như màng sợi ở động mạch, màng sợi ở thần kinh. Phần lớn
nhu mô thể hang được cấu tạo bằng cơ trơn, chúng xếp thành các bó và các bó


8

cơ trơn này cùng với màng sợi collagen có một đầu chui vào cột sợi của bao

da mặt bụng dương vật)

(I: Loại I) (II: Loại II) (III: Loại III) (IV: Loại IV) (V: Loại V)
(Normal: Bình thường)
Hình 1.1. Phân loại cong dương vật theo Devine và Horton
“Nguồn: McCammon K. A. (2004), Glenn’s Urologic Surgery”
Theo phân loại trên, cong dương vật không kèm lỗ tiểu đóng thấp thuộc
loại I, II và loại III. Cong dương vật bẩm sinh thuộc loại IV. Còn loại V: rất
hiếm gặp
1.3. Đặc điểm lâm sàng bệnh nhân cong dương vật bẩm sinh
Tuổi
Cong dương vật bẩm sinh xuất hiện từ lúc mới sinh, nhưng đa số bệnh
nhân đến khám ở tuổi dậy thì trở đi bởi vì lứa tuổi này bệnh nhân dễ nhận biết
về những bất thường về bộ phận sinh dục và những rối loạn về mặt chức năng


10

dẫn đến bệnh nhân phải vào viện khám và điều trị. Tuổi trung bình của bệnh
nhân trong nghiên cứu của Ghanem là 27 tuổi, nghiên cứu của Popken là 23
tuổi. Võ Hoàng Tâm báo cáo 36 trường hợp tại bệnh viện Bình Dân, tuổi
trung bình là 26,6 ± 6,4 tuổi (từ 19 - 40 tuổi). Tại bệnh viện Hữu Nghị Việt
Đức, Nguyễn Văn Thảo báo cáo 38 trường hợp, tuổi trung bình là 22,6 ± 3,6
tuổi (từ 18 - 35 tuổi).
Lý do vào viện
Phần lớn bệnh nhân đã giao hợp trước mổ, bệnh nhân vào viện khám và
điều trị có thể với nhiều lý do khác nhau, lý do chính vẫn là các rối loạn về
chức năng tình dục như giao hợp khó, giao hợp đau và không giao hợp được,
kế đến là lý do ảnh hưởng đến tâm lý và thẩm mỹ.
Kết quả nghiên cứu trên 36 trường hợp của Võ Hoàng Tâm và cộng sự

với tỷ lệ cong cho 3 vị trí là: 32% đoạn 1/3 trong, 60% đoạn 1/3 giữa, 8%
đoạn 1/3 ngoài. Theo nghiên cứu của Võ Hoàng Tâm , cong vị trí 1/3 trong,
1/3 giữa,1/3 ngoài lần lượt là 13,9%; 83,3%; 2,8%. Theo Nguyễn Văn Thảo vị
trí cong 1/3 trong, 1/3 giữa,1/3 ngoài lần lượt là 21,1%; 73,7%; 5,3%
Độ cong dương vật khi cương
Độ cong dương vật khi cương được đo bằng thước đo độ, đo trực tiếp
lúc dương vật cương hoặc bệnh nhân tự chụp ảnh dương vật tại nhà theo
hướng dẫn, từ ảnh này xác định được độ cong dương vật. Có thể gây cương
nhân tạo để đánh giá độ cong trực tiếp trong mổ.
Đo độ cong dương vật bằng cách gây cương dương vật nhân tạo như
sau: Sau khi phẫu tích da dương vật ra khỏi thân tới bờ xương mu, dùng dải
băng cao su đàn hồi hoặc sonde nelaton thắt lại ở gốc dương vật, bơm nước
muối sinh lý vào thể hang qua kim nhỏ làm cho thể hang căng phồng. Lúc đó
đánh giá độ cong dương vật sẽ rõ ràng hơn. Tuy nhiên, ngày nay có thể dùng


12

nhiều loại thuốc pha lẫn nước muối sinh lý để gây cương nhân tạo như
papaverin, edex hoặc caverject,…

Hình 1.2. Đo độ cong của dương vật khi cương qua ảnh chụp
“Nguồn: Yachia D. (2007), Text atlas of penile surgery”
Đo độ cong của dương vật qua ảnh chụp dương vật khi cương: kẻ một
đường thẳng dọc theo trục của dương vật bình thường từ gốc dương vật, một
đường thẳng khác dọc theo trục lệch hướng lúc dương vật cương từ miệng
niệu đạo, hai đường thẳng này gặp nhau ở điểm cong nhất. Sau khi kẻ xong,
đo góc giữa hai đường thẳng này để xác định độ cong hoặc có thể đo trực tiếp
khi dương vật cương cứng bằng thước đo độ. Tác giả Popken phẫu thuật 50
trường hợp, độ cong dương vật trung bình là 40 độ, lớn nhất là 95 độ, nhỏ

Có nhiều nghiên cứu trên thế giới đã báo cáo về điều trị phẫu thuật cong
dương vật bẩm sinh, nhưng chưa có chỉ định phẫu thuật thống nhất chung cho
các trường hợp bởi vì còn phụ thuộc vào các rối loạn do dương vật cong gây ra
với từng bệnh nhân. Dưới đây là các chỉ định phẫu thuật đã được ghi.
- Dương vật cong ≥ 30 độ.
- Dương vật cong có rối loạn chức năng tình dục: giao hợp khó, không
giao hợp được hoặc làm bạn tình đau khi giao hợp.
- Cong dương vật gây ảnh hưởng tâm lý.
- Cong dương vật gây ảnh hưởng thẩm mỹ.
1.5.2. Các phẫu thuật điều trị cong dương vật bẩm sinh


14

Cong dương vật bẩm sinh được điều trị phẫu thuật bằng nhiều kỹ thuật
khác nhau, có thể chia thành các nhóm phẫu thuật: Làm ngắn bên dài, làm dài
bên ngắn, tách rời thể hang và thể xốp.
1.5.2.1. Phẫu thuật làm ngắn bên dài
Phẫu thuật làm ngắn bên dài điều trị cong dương vật gồm ba nhóm
phẫu thuật cơ bản: Phẫu thuật Nesbit (cắt bỏ bao trắng thể hang hình elip sau
đó khâu lại), phẫu thuật Nesbit cải biên (phẫu thuật Yachia: rạch dọc trên bao
trắng thể hang, sau đó khâu lại thành đường ngang), phẫu thuật khâu gấp bao
trắng (chỉ có những mũi khâu đơn thuần ngoài bao trắng).
- Phẫu thuật Nesbit
Năm 1965, phẫu thuật cắt và khâu bao trắng được tác Nesbit lần đầu
tiên áp dụng để điều trị cong dương vật bẩm sinh. Phẫu thuật này cắt bỏ một
hay nhiều mảnh bao trắng hình elip của thể hang bên dài ở một hay nhiều vị
trí sau đó khâu lại bao trắng với các mũi rời, khâu bằng chỉ tiêu
Phẫu thuật Nesbit đạt được những thành công về khả năng chỉnh thẳng
dương vật cũng như sự hài lòng của bệnh nhân và có ưu điểm là dùng chỉ tiêu

chỉ tiêu chậm hoặc không tiêu.
Khâu kín và vùi hai mép các đường khâu sau đó gây cương nhân tạo lại
để kiểm tra độ cong của dương vật.
Cầm máu và đóng vết mổ.
Mặc dù phẫu thuật này ít xâm lấn hơn phẫu thuật Nesbit, chỉ rạch dọc
trên bao trắng thể hang thay vì cắt bỏ một hay nhiều mảnh bao trắng nhưng
nếu lưỡi dao rạch sâu quá sẽ gây tổn thương mô cương phía dưới, phẫu thuật
cũng đòi hỏi phải có thời gian và phẫu thuật viên có kinh nghiệm.
- Phẫu thuật khâu gấp bao trắng
Hai tác giả Essed và Schröeder đã phổ biến phẫu thuật khâu gấp bao
trắng lần đầu tiên áp dụng điều trị cong dương vật do bệnh Peyronie, sau đó


16

các tác giả khác như Nooter (1994), Van Der Horst (2004) áp dụng phẫu thuật
này để điều trị hai bệnh lý cong dương vật bẩm sinh và mắc phải.
Mặc dù phẫu thuật Essed và Schröeder khâu gấp bao trắng của thể hang
bên dài, không cắt hay rạch trên bao trắng thể hang bên dài nhưng đối với
những trường hợp dương vật cong xuống phẫu thuật đòi hỏi phải bóc tách bó
mạch thần kinh vùng lưng dương vật.
Trong nhóm khâu gấp, cũng có nhiều cải tiến dựa vào mũi chỉ khâu như
tác giả Hsieh khâu gấp cải biên mũi chỉ kiểu chữ “U”, có bóc tách bó mạch
thần kinh vùng lưng điều trị cong dương vật bẩm sinh, tác giả dùng chỉ tiêu
chậm vicryl 2.0, gặp biến chứng sớm như tuột nút chỉ khâu và cảm giác tê bì
ở quy đầu.
Năm 1998, hai tác giả Baskin và Lue đã đưa ra phương pháp phẫu thuật
có nhiều thuận lợi hơn các phương pháp khâu gấp khác. Phương pháp được
tác giả mô tả có ưu điểm là dễ thực hiện, chỉ thực hiện các mũi khâu gấp bao
trắng thể hang, không bóc tách bó mạch thần kinh vùng lưng dương vật và

Có một số báo cáo theo dõi kết quả xa của phẫu thuật dùng mảnh ghép,
cho thấy phẫu thuật hạn chế được tình trạng ngắn dương vật nhưng cũng có
một số biến chứng biến chứng như: tụ máu, hoại tử mảnh ghép, teo mảnh
ghép, phình tại nơi mảnh ghép thành nang, nang tuyến bã nhờn do nang lông
của mảnh ghép bì, rối loạn cương,…
1.5.2.3. Phẫu thuật tách rời các thể hang thể xốp
Tách rời thể hang mặt bụng dương vật và xoay thể hang ra ngoài. Tác
giả Dessanti dùng phẫu thuật này để điều trị cong dương vật bẩm sinh có hoặc
không kèm với miệng niệu đạo đóng thấp nhưng hiện nay rất ít được áp dụng
1.6. Kết quả điều trị phẫu thuật cong dương vật bẩm sinh bằng phương
pháp Yachia trên Thế giới và Việt Nam
Do bệnh lý cong dương vật bẩm sinh có tỷ lệ gặp ít và cũng có nhiều
kỹ thuật để điều trị bệnh lý này nên các nghiên cứu về kết quả phẫu thuật theo


18

phương pháp Yachia trong và ngoài nước cũng hạn chế, kết quả cũng khác
nhau tùy nghiên cứu và số lượng bệnh nhân trong các nghiên cứu không
nhiều. Tuy nhiên, có một số báo cáo cho thấy thành công của phẫu thuật
Yachia trong điều trị bệnh lý cong dương vật bẩm sinh là từ 80% đến 100%.
Dưới đây là một số kết quả đã được ghi nhận:
- Trên thế giới
Năm 1999, Popken nghiên cứu trên 50 bệnh nhân được phẫu thuật, tỷ lệ
thành công của phẫu thuật là 96% (48/50 bệnh nhân), 4% độ cong còn lại >
15 độ. Gặp biến chứng như tụ máu dương vật là 4%, với mỗi độ cong 10 độ
thì ngắn dương vật so với trước mổ là từ 1 - 2 mm, không có trường hợp nào
rối loạn cương dương vật.
Daitch (1999) báo cáo 5 bệnh nhân cong dương vật bẩm sinh được
phẫu thuật bằng phương pháp này từ 6/1994 đến 6/1997. Sau mổ dương vật

phương pháp Yachia từ 01/01/2012 đến 31/12/2012. Thành công của phẫu
thuật là 91,7% và tất cả bệnh nhân đều hài lòng. Ghi nhận tình trạng cộm nốt
chỉ dưới da dương vật là 16,6%
Năm 2015, Nguyễn Văn Thảo báo cáo 38 trường hợp cong dương vật
bẩm sinh được phẫu thuật bằng phương pháp Yachia từ 01/01/2010 đến
30/04/2015 tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức thành công của phẫu thuật là
94,7%, cộm nốt chỉ dưới da dương vật là 34,2%, ngắn dương vật so với trước
mổ trung bình 1,2 ± 0,3 cm. Biến chứng: chỉ gặp phù nề da quy đầu (21,5%),
không gặp các biến chứng như nhiễm trùng vết mổ, tụ máu dưới da dương
vật, cong tái phát, rối loạn cương dương
Đánh giá kết quả của phẫu thuật: Theo các y văn đã được báo cáo về kết
quả phẫu thuật điều trị cong dương vật bẩm sinh, độ cong dương vật khi cương
sau mổ được các tác giả áp dụng để đánh giá thành công của phẫu thuật
+ Phẫu thuật thành công nếu dương vật được chỉnh thẳng hoặc độ cong
khi cương ≤ 15 độ.
+ Phẫu thuật thất bại nếu độ cong dương vật khi cương > 15 độ.


20

CHƯƠNG 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Những bệnh nhân được chẩn đoán cong dương vật bẩm sinh và được
phẫu thuật bằng phương pháp Yachia tạ trung tâm Nam học - Bệnh viện hữu
nghị Việt Đức
2.1.1. Tiêu chuẩn lựa chọn
Tất cả bệnh nhân cong dương vật bẩm sinh có độ cong dương vật khi
cương ≥ 30 độ kèm theo ít nhất một trong các rối loạn như:
- Giao hợp khó, không giao hợp được, bệnh nhân hoặc/và bạn tình đau

2.4.1. Một số đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu.
Tuổi bệnh nhân được chia thành các nhóm <20, 20-30, >30
Nghề nghiệp: Nông dân, công nhân, nhân viên văn phòng, sinh viên,
khác….
Địa dư: Nông thôn và thành thị
2.4.2. Một số đặc điểm lâm sàng của đối tượng nghiên cứu
Lý do vào viện
- Ảnh hưởng chức năng quan hệ tình dục( không quan hệ được, quan hệ
khó, quan hệ đau)
- Ảnh hưởng thẩm mỹ
- Ảnh hưởng tâm lý
Tình trạng quan hệ tình dục trước phẫu thuật: có/ không
Hướng cong dương vật: lên trên, xuống dưới, sang phải, sang trái.
Vị trí cong: 1/3 xa, 1/3 giữa, 1/3 gần
Mối liên quan vị trí cong ảnh hưởng đến chức năng quan hệ tình dục
Mối liên quan độ cong ảnh hưởng chức năng quan hệ tình dục


22

Chiều dài dương vật khi cương (tính theo cm): đo theo cách đo của
Awwad
2.4.2. Một số chỉ tiêu đánh giá kết quả phẫu thuật cong dương vật bẩm
sinh bằng phương pháp Yachia
2.4.2.1. Trong mổ
- Số lượng vết xẻ bao trắng 1 bên thể hang
- Mối liên quan giữa độ cong và vết xẻ
- Kết hợp phẫu thuật khác trong cùng một thì mổ( nếu có)
- Loại chỉ khâu bao trắng thể hang: Chỉ tiêu/ không tiêu
- Thời gian phẫu thuật (tính theo phút): từ lúc rạch da đến mũi chỉ đóng

- Sờ cộm nốt chỉ dưới da dương vật.
- Đau dương vật khi quan hệ tình dục do cộm nốt chỉ.
- Nốt phình mép vết khâu bao trắng
- So sánh độ cong, chiều dài dương vật trước và sau mổ
- So sánh ảnh hưởng của loại chỉ khâu với nốt cộm chỉ dưới da
- So sánh chức năng quan hệ tình dục của bệnh nhân trước và sau mổ
- Đánh giá tình trạng rối loạn cương theo bảng điểm IIEF rút gọn.
- Đánh giá mức độ hài lòng thẩm mỹ sau phẫu thuật
+ Rất hài lòng: dương vật thẳng hoặc ≤ 15 độ, không phàn nàn về tình
trạng dương vật hiện tại (ngắn dương vật, cộm nốt chỉ dưới da DV, nốt phình
mép vết khâu bao trắng).
+ Hài lòng: dương vật thẳng hoặc ≤ 15 độ, phàn nàn về tình trạng
dương vật hiện tại (ngắn dương vật, cộm nốt chỉ dưới da DV, nốt phình mép
vết khâu bao trắng).
+ Không hài lòng: độ cong dương vật > 15 độ, phàn nàn về tình trạng
dương vật hiện tại (ngắn dương vật, cộm nốt chỉ dưới da DV, nốt phình mép
vết khâu bao trắng).


24

- Đánh giá kết quả phẫu thuật
+ Phẫu thuật thành công nếu dương vật được chỉnh thẳng hoặc độ cong
khi cương ≤ 15 độ.
+ Phẫu thuật thất bại nếu độ cong dương vật khi cương > 15 độ.
2.5. Các bước tiến hành phẫu thuật
2.5.1. Chuẩn bị bệnh nhân
Bệnh nhân được giải thích về quy trình kỹ thuật và các biến chứng có
thể xảy ra trong và sau phẫu thuật, bệnh nhân đồng ý và ký giấy chấp nhận
phẫu thuật.

+ Gây cương nhân tạo lần 2 để kiểm tra độ cong.
+ Khâu cân nông và da bằng chỉ vicryl 4.0.
+ Đặt sonde tiểu và băng ép dương vật, dùng gạc lớn phủ bên ngoài cố
định dựng ngược dương vật về phía rốn.
- Điều trị sau phẫu thuật:
+ Hậu phẫu tiếp tục dùng kháng sinh đường tĩnh mạch, uống thuốc
giảm đau, chống phù nề và an thần (seduxen để giảm cương sau mổ)
+ Thay băng hàng ngày, sonde tiểu thường rút ngày thứ 2 sau mổ, chỉ
vết mổ tự tiêu nên không phải cắt.
+ Bệnh nhân ra viện được kê đơn thuốc và khuyến cáo không giao hợp
trong 6 tuần đầu sau phẫu thuật.
2.6. Thu thập và xử lý số liệu
2.6.1. Thu thập số liệu
- Thu thập số liệu gồm 2 giai đoạn hồi cứu và tiến cứu theo mẫu bệnh
án thống nhất.
+ Hồi cứu: từ 01/01/2016 đến 31/8/2018.
+ Tiến cứu: từ 31/8/2018 đến 30/06/2019.
Các bước tiến hành:



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status