1
Bộ Giáo dục và đào tạo Bộ y tế
trờng đại học y hà nội
Thái trung kiên
đánh giá kết quả phẫu thuật nội soi
trong điều trị chấn thơng bụng kín
tại bệnh viện hữu nghị việt đức
luận văn thạc sỹ y HC
Hà nội - 2012
2
Bộ Giáo dục và đào tạo Bộ y tế
trờng đại học y hà nội
Thái trung kiên
đánh giá kết quả phẫu thuật nội soi
trong điều trị chấn thơng bụng kín
tại bệnh viện hữu nghị việt đức
Chuyên ngành: Ngoi khoa
Mó s : 62.72.07
luận văn thạc sỹ y HC
Ngời hớng dẫn khoa học:
gS.TS. Hà văn quyết
TS. Trịnh văn tuấn
Hà nội - 2012
LI CM N
3
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám Hiệu, Phòng Đào Tạo Sau Đại Học
và Bộ Môn Ngoại Trường Đại Học Y Hà Nội đã tạo mọi điều kiện thuận lợi
giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn này.
1 Vũ Hải N 26 Nam Hà Nội 05.01.2010 11.01.2010 389
2 Đào Xuân H 48 Nam Nam Định 04.01.2010 14.01.2010 240
3 Bùi Văn T 21 Nam Hà Nội 18.05.2010 25.05.2010 13950
4 Lã Đức D 22 Nam Thanh Hóa 25.06.2010 02.07.2010 1680
5 Nguyễn Thị Đ 56 Nữ Nghệ An 25.08.2010 04.09.2010 2440
6 Ngô Văn Q 37 Nam Hà Nội 01.08.2010 11.08.2010 2706
7 Đào Đăng H 38 Nam Quảng Ninh 22.01.2011 01.02.2011 1902
8 Nguyễn Đức T 32 Nam Hà Nội 08.01.2011 15.01.2011 640
9 Nguyễn Văn Đ 41 Nam Hà Nội 16.01.2011 25.01.2011 1363
10 Lư Văn S 36 Nam Hưng Yên 01.04.2011 09.04.2011 8156
11 Ngô Quang H 43 Nam Hưng Yên 04.02.2011 11.02.2011 3092
12 Phạm Thị V 50 Nữ Nam Định 21.02.2011 02.03.2011 4063
13 Phạm Nhất A 21 Nam Thanh Hóa 25.02.2011 04.03.2011 2034
14 Trần Thế T 21 Nam Thái Bình 25.03.2011 05.04.2011 7329
15 Trần Hoàng X 35 Nam Bắc Ninh 10.04.2011 18.04.2011 9025
16 Nguyễn Văn H 18 Nam Hà Nội 26.04.2011 03.05.2011 10583
17 Phạm Văn D 38 Nam Nam Định 03.05.2011 12.05.2011 11335
18 Phùng Văn Tr 25 Nam Vĩnh Phúc 11.05.2011 17.05.2011 12100
19 Nguyễn Văn A 64 Nam Hà Tĩnh 19.05.2011 24.05.2011 13245
20 Phạm Thị N 32 Nữ Hưng Yên 20.06.2011 27.06.2011 17108
21 Nguyễn Đăng Ch 32 Nam Phú Thọ 29.06.2011 05.07.2011 17854
22 Nguyễn Văn B 75 Nam Hưng Yên 09.07.2011 25.07.2011 19009
23 Nguyễn Thế B 57 Nam Hà Nội 10.07.2011 14.07.2011 19228
24 Phí Ngọc Q 30 Nam Hà Nội 14.07.2011 25.07.2011 50321
25 Trần Văn Th 21 Nam Hà Nội 18.07.2011 26.07.2011 20104
26 Cao Xuân Th 36 Nam Phú Thọ 07.09.2011 12.09.2011 26387
27 Nguyễn Mạnh T 19 Nam Hải Phòng 12.09.2011 19.09.2011 26727
28 Vũ Đức Gi 44 Nam Hưng Yên 14.09.2011 19.09.2011 26935
29 Hoàng Mạnh H 32 Nam Bắc Ninh 18.09.2011 26.09.2011 27411
30 Nguyễn Văn L 33 Nam Hưng Yên 07.10.2011 13.10.2011 29672
có khoảng 400 ca CTBK trong 1 năm, khoảng 60% CTBK nằm trong bệnh
cảnh đa chấn thương [2].
Trong cấp cứu chấn thương bụng đòi hỏi bác sỹ ngoại khoa trong một
khoảng thời gian ngắn với thăm khám lâm sàng, cận lâm sàng tối thiểu cần sớm
đưa ra một chỉ định điều trị. Việc thăm khám phát hiện các triệu chứng lâm
sàng, cận lâm sàng là rất quan trọng, giúp người thầy thuốc chẩn đoán, tiên
lượng và lựa chọn phương pháp xử lý tổn thương hiệu quả nhất. Khi chưa có
các phương tiện chẩn đoán hỗ trợ, việc chẩn đoán CTBK chỉ dựa vào thăm
khám lâm sàng vì vậy dễ bỏ sót tổn thương hoặc phải mở bụng thăm dò. Chọc
dò ổ bụng, rồi chọc rửa ổ bụng được sử dụng giúp nâng cao độ chính xác chẩn
đoán CTBK. Nhưng tỷ lệ mở bụng thăm dò vẫn từ 20 - 30%, tỷ lệ mở bung khi
có tổn thương tạng là 100% [63],[72]. Với sự phát triển của khoa học kỹ thuật
hiện đại, người ta đã tìm ra các biện pháp mới để chẩn đoán chính xác hơn,
nhanh hơn, nhằm tránh mổ muộn đồng thời giảm thiểu số mổ không cần thiết.
Các thăm dò hiện đại như Xquang, siêu âm, chụp CLVT, chụp CHT giúp bác
sỹ chủ động xác định thương tổn trước mổ, làm giảm tỷ lệ mở bụng thăm dò
còn 10-20%, tỷ lệ điều trị bảo tồn không mổ lên trên 30% [29],[72]. Tuy nhiên
nhưng thăm dò này vẫn chỉ đánh giá gián tiếp tổn thương nên thực tế vẫn còn
8
khá nhiều ca mổ mang tính chất thăm dò kiểm tra hoặc chỉ can thiệp tối thiểu.
Với sự phát triển nhanh chóng của PTNS những trường hợp như vậy người ta
có thể sử dụng PTNS như một biện pháp đánh giá tổn thương có độ chính xác
cao, đồng thời đưa ra phương pháp điều trị thương tổn hữu hiệu, giúp BN tránh
được mở bụng không cần thiết, giảm nguy cơ sau mổ, rút ngắn thơi gian năm
viện…
PTNS là một tiến bộ rất lớn của y học trong thể kỷ XX, là thành tựu của
khoa học kỹ thuật hiện đại. Tuy mới ra đời trong vài thập niên gần đây
nhưng PTNS đã phát triển rất nhanh chóng cả về chiều sâu và chiều rộng.
PTNS được sử dụng trong ổ bụng, trong lồng ngực, cột sống, khớp…
Tại Việt Nam, PTNS cũng đã nhanh được ứng dụng và phát triển. Hiện
1916), William Halsted (1852-1922)… đã thực hiện được nhiều phẫu thuật lớn
trong ổ bụng như: cắt dạ dày, đại tràng, ruột non [68]
Năm 1881 James Marion Sims mạnh dạn tiến hành thăm dò ổ bụng để sửa
chữa tổn thương, lúc này ngoại khoa đã có hỗ trợ của gây mê và vô trùng. Tuy
chỉ hạn hẹp trong một vài ca vết thương bụng, tỷ lệ tử vong còn cao nhưng đây
là một bước tiến quan trọng bởi vì sau đó quan điểm mở bụng dần dần thuyết
phục những người theo quan điểm chờ đợi [33].
Việc chẩn đoán CTBK chủ yếu dựa vào thăm khám lâm sàng, chọc dò ổ
bụng, CROB. Hay các phương pháp hiện đại như Xquang, siêu âm, chụp
CLVT, chụp CHT… cũng đều gián tiếp đánh giá tổn thương.
10
Ngày nay PTNS là một phẫu thuật ít sang chấn cho phép nhìn rõ và sửa
chữa những tổn thương không quá phức tạp. Vì vậy PTNS được chỉ định thăm
dò trong những trường hợp khó chẩn đoán hoặc để sửa chữa những tổn thương
không quá phức tạp.
1.2. ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ CẬN LÂM SÀNG CỦA CTBK
1.2.1. Đặc điểm lâm sàng[1]
Biểu hiện bằng hai hội chứng
Hội chứng chảy máu trong
Tình trạng toàn thân khác nhau theo mức độ chảy máu, mức độ chấn thương
nặng hay nhẹ, chấn thương bụng đơn thuần hay đa chấn thương.
- Sốc mất máu: Lúc mới bắt đầu có cảm giác hoa mắt, chóng mặt
Khi chảy máu nhiều dẫn đến rối loạn huyết động: Mạch nhanh > 120
l/phút, huyết áp tối đa < 90 mmHg. Nếu đến sớm trong tình trạng huyết động
chưa thay đổi chỉ có biểu hiện da xanh, vã mồ hôi.
- Đau bụng: Sau tai nạn bệnh nhân thường đau bắt đầu ở vị trí tạng bị chảy
máu đau chói, đau dữ dội và sau đó lan ra khắp bụng.
- Nôn hoặc buồn nôn, bí trung, đại tiện (không thường thấy)
- Thành bụng có thể bị sây xát, bầm tím, vết thương
- Co cứng thành bụng: Là dấu hiệu rõ nhất trong chảy máu trong ổ bụng
- Bilirubin, SGOT, SGPT máu tăng khi có tổn thương gan.
- Amylase trong máu và nước tiểu tăng khi có tổn thương tụy.
- Creatinin, urê, hồng cầu trong nước tiểu tăng khi có chấn thương thận.
1.2.2.2. X quang
Chụp Xquang không chuẩn bị
- Hình ảnh vỡ tạng rỗng: Chỉ là hình ảnh gián tiếp, thường gặp là hình
liềm hơi dưới hoành.
12
Tuy nhiên không phải khi nào thủng tạng rỗng đều thấy liềm hơi, theo một
số thống kê có tới 20% không có liềm hơi [9],[11]. Như vậy khi không có liềm
hơi không thể loại trừ vỡ tạng rỗng.
- Hình ảnh vỡ cơ hoành: Hình ảnh mất đường cong liên tục của vòm hoành
kèm theo hình ảnh các tạng trong ổ bụng bị kéo lên lồng ngực. Các hình ảnh kèm
theo thường gặp là tràn dịch, tràn khí màng phổi, gãy xương sườn thấp, đụng giập
phổi, xẹp phổi … đây cũng là các hình ảnh che lấp vỡ cơ hoành.
- Hình ảnh vỡ tạng đặc: Hình ảnh vỡ tạng đặc trên phim Xquang là hình
ảnh gián tiếp do máu tụ quanh tạng, trong tạng vỡ làm tạng to ra đè đẩy các
tạng xung quanh.
Chụp Xquang có cản quang
- Theo đường uống: Trong cấp cứu không sử dụng baryt vì nguy cơ chảy
vào ổ bụng nếu có thủng tạng rỗng. Chỉ định không phải chỉ để tìm dấu hiệu
thoát thuốc mà còn để phân định ống tiêu hoá với hình ảnh tổn thương khác.
- Theo đường bơm ngược dòng: Thường sử dụng nhất là chụp bàng quang
ngược dòng để chẩn đoán vỡ bàng quang.
- Theo đường tĩnh mạch: Sử dụng để đánh giá tổn thương thận, phát hiện
sự thoát thuốc từ tổn thương nhu mô hay từ đường bài xuất. Đánh giá chức
năng, hình thể của phần thận lành còn lại, thấy được tổn thương bệnh lý có
trước chấn thương như sỏi, ứ nước thận, u thận, thận dị dạng. Đây là ưu điểm
vượt trội của phương pháp tuy nhiên nó không đánh giá được đầy đủ sự thay
đổi về hình dáng, đụng giập tụ máu nhu mô, không chụp được ở BN dị ứng i ốt,
nhanh. Khi làm lại siêu âm độ nhạy, độ chính xác cũng tăng lên. Theo nghiên
cứu của Poletti và cs độ nhạy phát hiện dịch ổ bụng tăng từ 92% (lần 1) lên
98% (lần 2), Sato và cs cũng cùng nhận xét [60],[70].
14
Phát hiện tổn thương nhu mô tạng đặc
Ngoài khả năng phát hiện rất tốt dịch ổ bụng, siêu âm còn có khả năng
phát hiện tổn thương ở nhu mô các tạng đặc nhất là gan và lách. Những hình
ảnh có thể thấy được là hình đụng giập nhu mô, đường vỡ, hình tụ máu trong
nhu mô. Độ nhạy phát hiện tổn thương gan, lách nói chung của siêu âm thấp
hơn khả năng phát hiện dịch ổ bụng rất nhiều [15],[22],[60].
Theo Poletti độ nhạy phát hiện tổn thương tạng chỉ 41% nếu làm siêu âm
lần đầu, độ nhạy tăng lên 55% ở siêu âm lần 2 nếu không có dịch ổ bụng. Khi
có dịch ổ bụng khả năng phát hiện tổn thương nhu mô cũng cao hơn, độ nhạy
72% ở lần 1; 84% ở lần 2 [60]. Nếu sử dụng chất tăng cản âm tĩnh mạch thì khả
năng phát hiện tổn thương tăng lên 80% [27]. Tổn thương chảy máu dễ dàng
phát hiện bởi ổ tăng âm trong vòng 5 phút sau tiêm. Các nghiên cứu đều xác
nhận khả năng phát hiện trực tiếp tổn thương gan, lách, thận thấp (độ nhạy
thấp), tuy nhiên độ dự báo dương tính cao [60],[61],[70]. Đối với tạng sau
phúc mạc như tụy thì khả năng phát hiện tổn thương của siêu âm rất hạn chế.
Tụy nằm sâu sau phúc mạc, phía trước có các tạng rỗng che chắn thường giãn
hơi khi có tổn thương nên siêu âm rất khó phát hiện được tổn thương. Thận tuy
là tạng sau phúc mạc nhưng siêu âm có thể tiếp cận từ phía sau bên tránh được
hiện tượng trướng hơi, thăm dò gần tổn thương nên khả năng phát hiện tổn
thương tèt h¬n [8].
1.2.2.4. Chụp cắt lớp vi tính (CLVT)
Phát hiện dịch ổ bụng
Chụp CLVT có thể phát hiện được dịch ổ bụng với số lượng nhỏ. Theo
Rhea và cs chụp CLVT có thể phát hiện được dịch với số lượng khoảng 10 ml,
chính vì vậy đa số các nghiên cứu đều lấy CT như chuẩn vàng để đánh giá khả
năng phát hiện dịch của siêu âm. Chụp CLVT có thể phân biệt được tính chất
16
phúc mạc thể hiện bởi các bóng khí tự do nằm ngoài ống tiêu hoá.
Theo Rizzovà cs độ nhạy dấu hiệu này thấp (28%) [66], Bulas và cs thấy
độ nhạy cao hơn (67%) [24]. Hình hơi thấy rõ trên cửa sổ hơi (làm mờ các cấu
trúc tỷ trọng lớn hơn khí) ở những vị trí bình thường không có hơi giữa gan và
cơ hoành, dọc dây chằng liềm, phía trước thận sau phúc mạc …Trên thực tế
nhiều khi khó phân biệt khi các bóng hơi nhỏ, lẫn với hơi trong lòng ruột.
Những hình ảnh trực tiếp như mất liên tục thành ống tiêu hóa hay gián tiếp như
thoát thuốc, thoát khí không phải dễ bắt gặp, dễ bỏ sót, dễ nhầm lẫn vì vậy phát
hiện thương tổn ống tiêu hoá trên phim chụp CLVT vẫn còn nhiều tranh cãi.
Mirvis SE dựa vào các dấu hiệu này chẩn đoán được trước mổ cho 15/17 (88%)
BN vỡ ruột non [53]. Scaglion và cs tiến hành chụp CLVT có cản quang cho
rằng có thể phát hiện được tổn thương mạc treo biểu hiện bằng hình ảnh thoát
thuốc, nhưng vẫn phải căn cứ vào theo dõi lâm sàng.
Hiện nay còn có phương pháp chụp CHT, cho hình ảnh rõ nét, trên nhiều
bình diện, tuy nhiên ít sử dụng trong CTBK vì đắt tiền, chụp lâu, giá trị chẩn
đoán không hơn hẳn chụp CLVT…thường chỉ chụp hệ thống đường mật, ống
tụy khi nghi ngờ có tổn thương [16],[62].
Như vậy, sau khi thăm khám lâm sàng có tính định hướng có 2 biện pháp
xác định dịch ổ bụng có sang chấn là chọc dò ổ bụng không còn được sử dụng
nữa và CROB chỉ còn sử dụng ở BN nặng không thể làm được các thăm dò
khác. Các biện pháp thăm dò hình ảnh không sang chấn như siêu âm, chụp
CLVT, chụp CHT … ngoài khả năng xác định tốt sự có mặt của dịch ổ bụng,
phần nào tính chất dịch ổ bụng (đồng nhất không) còn đánh giá tốt tổn thương
nhu mô tạng đặc. Tuy nhiên các biện pháp này vì chỉ đánh giá gián tiếp nên
không đánh giá được hoặc đánh giá không chính xác những tổn thương nhỏ,
nông nhưng vẫn gây chảy máu nếu ở tạng đặc, mạc treo, gây viêm phúc mạc
nếu ở tạng rỗng. Thầy thuốc vẫn đứng trước 2 lựa chọn tiếp tục theo dõi BN
17
với nỗi lo để tổn thương xử lý muộn hoặc mở bụng thăm dò. Kết quả thực tế là
Ngày nay phương pháp này hâu như không được sử dụng nữa.
1.2.2.7. Chọc rửa ổ bụng (CROB)
Cũng cùng mục đích xác định sự có mặt, tính chất của dịch ổ bụng sau
chấn thương, CROB ra đời như một bước phát triển mới của chọc dò ổ bụng
nhằm khắc phục các nhược điểm của nó.
Năm 1965, Root và cs lần đầu mô tả phương pháp CROB để chẩn đoán.
Nguyên lý của phương pháp này là luồn một catheter vào ổ bụng qua một lỗ
mở nhỏ, bơm một lượng dịch nhất định vào ổ bụng sau đó hút dịch ra để đánh
giá kết quả.
Hút trực tiếp qua catheter, nếu hút được máu hay dịch thì kết quả được coi
là dương tính và có chỉ định mở bụng.
Nếu không hút được thì truyền vào ổ bụng 1000 ml huyết thanh mặn đẳng
trương, thay đổi tư thế BN nhằm cho dịch chảy đều trong bụng sau đó hút dịch
ra đánh giá kết quả bằng các xét nghiệm định lượng. Từ năm 1972, Perry J là
tác giả sớm lượng hóa các thành phần trong dịch chọc rửa thu được để đưa ra
tiêu chuẩn cụ thể. Qua 304 BN tác giả đã đưa ra tiêu chuẩn dương tính là trên
100 000 hồng cầu / mm
3
hoặc/và trên 500 bạch cầu / mm
3
, amylaza > 100 đơn
vị Somogy / 100 ml dịch rửa [33],[58].
CROB còn có tai biến nguy hiểm là chọc vào các tạng trong ổ bụng: ruột,
mạc treo, bàng quang, mạch máu đặc biệt khi trong ổ bụng có dính.
Năm 1982, Powell tổng kết 31 báo cáo thực hiện cho 10358 BN cho thấy độ
chính xác của CROB là 97,3%, tỷ lệ dương tính giả là 1,4%, tỷ lệ âm tính giả là
1,3%, tỷ lệ tai biến dưới 1% [10]. Theo Fisher R, nhờ có CROB thời gian theo dõi
19
trước mổ được rút ngắn, giảm đi tỷ lệ mổ thăm dò, mổ muộn vì thế đã giảm tỷ lệ
tử vong do không phát hiện được tổn thương từ 17% xuống 0,5% [12].
máu tụ thường nhỏ. Nếu mạch máu tổn thương lớn, nguồn chảy máu lớn sẽ
hình thành khối máu tụ lớn lan rộng do tổ chức dưới thanh mạc lỏng lẻo không
đủ ngăn cản chảy máu. Khi căng giãn quá dẫn đến hiện tượng thẩm thấu huyết
tương và thành phần hữu hình của máu vào ổ bụng thậm chí chảy máu khi
thanh mạc bị nứt vỡ. Nếu ở tạng đặc, đó là hình thái tụ máu dưới bao. Nếu ở
tạng rỗng là hình thái tụ máu mạc treo, tụ máu thanh mạc ruột. Nếu ở sau phúc
mạc là tụ máu sau phúc mạc[6].
1.3.2. Rách thanh mạc, bao tạng
Thanh mạc, bao tạng bị rách đơn thuần chủ yếu do bị giằng xé theo cơ chế
gián tiếp. Đường rách có thể nhỏ nhưng có thể lớn, một phần hoặc hết chu vi
(ống tiêu hóa). Do đường rách nông không tổn thương mạch lớn nên tổn
thương có thể tự cầm máu được. Dù sao tổn thương cũng ít nhiều gây chảy máu
để lại trong ổ bụng một lượng dịch nhất định.
1.3.3. Tụ máu, đụng giập nhu mô
Tổn thương xảy ra ở tạng đặc do một vùng cấu trúc tạng (mô liên kết,
mạch máu, ống tuyến …) bị phá vỡ, chảy máu, thường theo cơ chế tác động
trực tiếp. Vùng tổn thương có thể to hoặc nhỏ, ở sâu hoặc ở nông, thông với
đường vỡ, đường bài tiết hoặc không. Vùng đụng giập nhỏ hoặc sâu trong nhu
mô, nên nhìn ngoài bề mặt không phát hiện được. Nếu vùng này lớn hoặc gần
bề mặt sẽ thấy màu sắc thay đổi thường là có màu tím của máu tụ, sờ bằng tay
sẽ thấy mật độ mềm hơn so với vùng lành xung quanh. Vùng chảy máu lớn có
thể làm cho tạng to ra, căng hơn, thậm chí nứt vỡ. Nếu đường bài tiết tổn
21
thương thông với vùng đụng giập, chảy máu sẽ biểu hiện bằng đái máu (vỡ
thận), chảy máu đường mật (vỡ gan)…[6]
1.3.4. Vỡ nông tạng đặc
Tổn thương là những đường vỡ (mất liên tục cả bao tạng và nhu mô) nhỏ,
ngắn, nông (dưới 1cm). Đường vỡ thường đơn thuần hoặc kèm đụng giập nhu
mô. Do vỡ nông ở ngoại vi nơi các mạch máu rất nhỏ, ít thành phần quan trọng
(mạch lớn, ống dẫn) nên dễ tự cầm máu. Các mạch nhỏ tự co thắt, rồi bị bít lại
tới hiện tượng phù nề, sung huyết. Quai ruột giãn to hơn bình thường thành dày,
phù mọng, màu tím (sung huyết) hoặc nhợt (thiếu máu, phù).
1.3.8. Tổn thương mạch máu
Trong CTBK nói chung, 5-10% có tổn thương mạch, trong đó 90-95% do
vết thương. Tỷ lệ tử vong khi có tổn thương mạch máu tới 75%. Tổn thương mạch
máu nói chung, mạch máu tạng nói riêng rất phong phú, diễn biến rất phức tạp, có
thể gặp các hình thái tổn thương như: Đứt vỡ mạch máu, phình mạch, giả phình
mạch, thông động tĩnh mạch, huyết khối…
1.3.9. Phân độ tổn thương các tạng
Dựa vào các hình thái tổn thương các tạng, người ta phân chia mức độ tổn
thương các tạng. Có nhiều cách phân độ tổn thương, nhưng phân độ theo
AAST (American Association for the Surgery of Trauma) có hệ thống đầy đủ
phân độ tổn thương của các tạng chủ yếu dựa vào tổn thương giải phẫu với mục
đích phục vụ cho thái độ xử trí nên được sử dụng rộng rãi nhất.
Một số phân độ tổn thương của các tạng thường bị tổn thương trong CTBK
như gan, lách, tạng rỗng … theo phân độ AAST năm 1994
23
Phân độ chấn thương gan theo AAST
Phân độ Mô tả tổn thương
I
Tụ máu dưới bao gan <10% diện tích bề mặt
Rách nhu mô đường vỡ sâu < 1cm
II
Tụ máu dưới bao gan 10–50% diện tích bề mặt, tụ máu trong nhu
mô <10cm
Rách nhu mô sâu 1-3cm, dài < 10 cm
III
Tụ máu dưới bao > 50% diện tích bề mặt, Tụ máu trong nhu mô
> 10cm hay lan rộng.
Rách nhu mô đường vỡ sâu > 3cm
Phân độ Mô tả tổn thương
I
Đụng giập gây đái máu; chẩn đoán hình ảnh bình thường;
Tụ máu dưới bao không lan rộng, không tổn thương nhu mô
II
Tụ máu quanh thận không lan rộng
Rách nhu mô vỏ thận sâu <1cm, không có thoát nước tiểu
III
Rách nhu mô vỏ thận sâu >1cm, không có tổn thương đường bài
xuất và không có thoát nước tiểu
IV
Rách nhu mô lan vào tuỷ thận và đường bài xuất
Tổn thương mạch chính của thận có chảy máu; huyết khối động
mạch thuỳ thận.
V
Thận vỡ nhiều mảnh
Đứt cuống thận gây mất mạch toàn bộ thận.
Phân độ chấn thương tụy theo AAST
Phân độ Mô tả tổn thương
Độ I
Đụng giập nhỏ, tụ máu nhỏ, rách bao tuỵ không tổn thương
ống tuỵ chính
ĐộII Vỡ nhu mô tuỵ, không tổn thương ống tuỵ chính
Độ III Tổn thương ống tuỵ chính vùng thân và đuôi tuỵ
Độ IV Tổn thương ống tuỵ chính vùng đầu tuỵ
Độ V
Tổn thương ống tuỵ chính kèm tổn thương tá tràng hoặc /và
tổn thương ống mật chủ
Phân độ tổn thương ruột non, đại tràng theo AAST
Phân độ
lạnh từ ngoài vào cho những hình ảnh rõ hơn, đẹp hơn, tránh bỏng tạng do đèn