1. Mở đầu.
1.1. Lí do chọn đề tài.
Hóa học là một bộ môn khoa học thực nghiệm, cho nên việc dạy và học phải
gắn liền với thí nghiệm. Vì vậy thực hành thí nghiệm hóa học giữ vai trò đặc biệt
quan trọng trong quá trình dạy và học.
Có rất nhiều thí nghiệm thực hành và hàng trăm các phản ứng xảy ra với vô vàn
điều đặc sắc thú vị riêng khác nhau. Song ở đây tôi chọn một trong những phần của
các bài thực hành của lớp8, 9 mà tôi cho là tâm đắc và ưng ý nhất như bài sản xuất
rượu etylic, bài sản xuất xi măng…Tôi muốn đóng góp một vài kinh nghiệm nhỏ
được rút ra sau nhiều năm giảng dạy, đồng thời tôi muốn góp phần chia sẽ kinh
nghiệm với các thầy cô bộ môn và các bạn đồng nghiệp. Đây cũng chính là cơ hội
quý báu giúp tôi củng cố và ôn luyện vốn kiến thức đã được học, đồng thời tạo
điều kiện tích lũy kinh nghiệm cho bản thân để áp dụng vào công tác giảng dạy sau
này, và đó là lí do tôi chọn viết về đề tài này.
Để dạt được kết quả như mong đợi đòi hỏi người giáo viên phải nỗ lực rất
lớn, phải phát huy những sáng tạo và đặc biệt phải có tâm với nghề. Như chúng ta
đã biết đặc thù bộ môn và tiết thí nghiệm thực hành đòi hỏi phải có sự thành công,
có phản ứng hóa học xảy ra tương tự như lí thuyết học trên lớp. Để học sinh hứng
thú học tập bộ môn này và khắc sâu kiến thức hơn khi các em được tự tay thực
hiện các thí nghiệm Hóa học.
1.2. Mục đích nghiên cứu.
- Tìm hiểu đặc điểm tâm sinh lí của học sinh học môn Hóa học.
- Phân tích nguyên nhân chưa đạt trong các tiết thực hành thí nghiệm.
- Tập dượt bồi dưỡng nghiên cứu khoa học cho bản thân.
- Đề xuất một số biện pháp giúp giáo viên và học sinh hoàn thành các tiết
thực hành theo chuẩn kiến thức kỹ năng.
1.3. Đối tượng nghiên cứu.
Năm học 2018 - 2019 tôi được phân công giảng dạy lớp 8, 9 trường Tiểu học
và trung học cơ sở Cát Vân nên đối tượng tôi chọn để nghiên cứu là học sinh học
môn Hóa học.
1.4. Phương pháp nghiên cứu.
- Khi tôi chưa áp dụng các phương pháp dạy học thực hành môn Hóa học ở
bậc Trung học cơ sở đối với lớp mình giảng dạy, thì số học sinh yêu thích môn học
có tỷ lệ là rất ít nó. Tôi đã tiến hành điều tra trong năm học 2018 - 2019 như sau:
Kết quả điều tra tháng 10 năm 2018
Không thích
Rất thích học
Thích học
Chán học
Tổng
học
Tỷ lệ
Tỷ lệ
Số
số HS
Số HS
Số HS
Tỷ lệ % Số HS Tỷ lệ %
%
%
HS
68
5
7,4
10
14,7
42
61,7
11
16,2
2.3. Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề.
thực hành.
Việc không thể thiếu trong tiết thực hành đó là khâu vệ sinh, ngăn nắp đồ
dùng của nhóm. Cho nên cuối tiết học sinh phải tự dọn dẹp lau chùi sạch sẽ, rồi
viết bài thu hoạch. Bài thực hành nào cũng đòi hỏi tính chính xác, khoa học, tỉ mỉ
tạo cho các em đức tính cần cù, chăm chỉ, tư duy tự giác, yêu khoa học.
Sau đây tôi xin đưa ra một số phần chi tiết cũng như một vài thí nghiệm
trong các tiết thí nghiệm thực hành đã vận dụng phương pháp nhằm giúp học sinh
hứng thú học và hiểu bài tốt hơn. Muốn thực hiện thành công điều đó, tôi phải tiến
hành theo các bước soạn giảng như sau:
2.3.1. Giải pháp 1: Phân loại thí nghiệm hóa học.
Thông thường thí nghiệm hóa học được phân chia thành hai loại như sau: thí
nghiệm biểu diễn của giáo viên và thí nghiệm của học sinh. Nếu trong thí nghiệm
biểu diễn, giáo viên thực hiện các thao tác, điều khiển các quá trình biến đổi của
chất, học sinh chỉ theo dõi quan sát những quá trình đó, thì ở thí nghiệm của học
sinh, các em theo dõi, quan sát những thay đổi và các quá trình do chính bản thân
mình thực hiện lấy. Đó là sự khác nhau giữa hai loại thí nghiệm.
Tùy theo mục đích của việc sử dụng trong quá trình học tập mà thí nghiệm
học sinh được chia thành ba dạng khác nhau:
Thí nghiệm học sinh để nghiên cứu bài mới còn gọi là thí nghiệm học tập
đồng loạt.
Thí nghiệm thực hành là củng cố những kiến thức mà học sinh đã lĩnh hội
trong các giờ học trước đó, rèn luyện kĩ năng và kĩ thuật tiến hành thí nghiệm.
Thí nghiệm ngoại khóa là những thí nghiệm ở ngoài nhà trường, quan sát ở
nhà, tự kiếm vật liệu, dụng cụ hóa chất cần thiết phù hợp với đề tài giáo viên yêu
cầu. Thí nghiệm này có tác dụng tăng cường hứng thú học tập, nâng cao vai trò
giáo dục, gắn liền với kiến thức đời sống thực tế.
2.3.2. Giải pháp 2: Phương pháp tiến hành thí nghiệm hóa học
Thí nghiệm biểu diễn: khi tiến hành cần phải chú ý các nội dung:
3
các chất nên có sự phối hợp giũa hoạt động trí óc và hoạt động chân tay trong quá
trình nhận thức của học sinh. Điều này giúp học sinh phát triển một cách tốt nhất
về năng lực trí tuệ của mình.
Thực hiện bằng hai cách: toàn lớp cùng làm một thí nghiệm hoặc từng nhóm
làm những thí nghiệm khác nhau. Điều đó phụ thuộc vào tình trạng cơ sở vật chất
của mỗi trường.
- Chẳng hạn để nghiên cứu tính khử của hiđro, có thể tổ chức cho học sinh
tiến hành thí nghiệm khử đồng (II) oxit nhờ khí hiđro bằng hai phương pháp sau:
- Phương pháp minh họa. Giáo viên cho học sinh biết rằng hiđro không
những chỉ hóa hợp với oxi tự do mà còn có thể chiếm oxi có trong một số hợp chất,
ví dụ oxit. Nếu cho hiđro đi qua bề mặt đồng II oxit nung nóng thì đồng II oxit
màu đen trở thành đồng đơn chất màu đỏ. Học sinh thành lập phương trình hóa
học, sau đó giáo viên cho học sinh tiến hành thí nghiệm mà giáo viên vừa mô tả và
hướng dẫn phương pháp tiến hành. Sau khi làm thí nghiệm học sinh thấy những
điều giáo viên trình bày được khẳng định về mặt thực nghiệm.
4
- Phương pháp nghiên cứu. Sau khi học sinh nhắc lại tính chất hóa học của
hiđro, giáo viên đặt vấn đề: hiđro có thể chiếm oxi của các oxit không? tiến hành
thí nghiệm để giải quyết vấn đề đó. Thí nghiệm: Hiđro khử oxit kim loại. Luồn đầu
ống dẩn khí hiđro nguyên chất vào gần đáy ống nghiệm. Ở đáy ống nghiệm này đã
để một ít bột đồng II oxit bằng nửa hạt ngô. Thí nghiệm được lắp như hình vẽ. Hơ
nóng nhẹ dọc phía dưới thành ống nghiệm nằm ngang. Sau đó cho ngọn lửa tập
trung đốt nóng phần ống nghiệm có chứa đồng II oxit. Trong khi tiến hành thí
nghiệm giáo viên hướng dẫn học sinh quan sát hiện tượng xảy ra trong dụng cụ,
đặc biệt là quan sát màu sắc của đồng II oxit nung nóng và các giọt nước động trên
thành ống nghiệm. Sau thí nghiệm bằng đàm thoại cho học sinh thấy là đồng II oxit
màu đen biến thành đồng màu đỏ và trên thành ống nghiệm xuất hiện những giọt
nước. Học sinh viết phương trình phản ứng và rút ra kết luận rằng hiđro hóa hợp
Giải thích
quan sát được hiện tượng
Viết
PTHH
1
2
3
5
(Nếu bài thực hành trên lớp hết thời gian thì phát cho mỗi học sinh 1 phiếu
tường trình thí nghiệm về nhà làm và nộp lại cho giáo viên vào tiết sau)
Sau cùng giáo viên hướng dẫn học sinh rửa sạch các dụng cụ thí nghiệm, sắp
xếp ngăn nắp các hóa chất và dụng cụ vào nơi đã được quy định.
- Thí nghiệm ngoại khóa hóa học. Bao gồm các thí nghiệm ngoài lớp học
thực hiện ở trường dưới hình thức các tổ chức ngoại khóa hóa học và thí nghiệm
thực hành quan sát ở nhà, các hiện tượng xảy ra trong tự nhiên.
Thí nghiệm ngoài lớp học thực hiện ở trường bao gồm:
- Các thí nghiệm hóa học vui, giúp học sinh hứng thú áp dụng áp dụng kiến
thức đã học vào thực tiễn sinh động, các cuộc thi hóa học vui, sinh hoạt chuyên đề
hóa học. Học sinh học thí nghiệm hóa học nắm được nhiều thí nghiệm lí thú và bổ
ích, như thí nghiệm “trứng chui vào lọ” minh họa phản ứng mạnh mẽ giữa natri
hidroxit và khí cacbonic, thí nghiệm “mực bí mật” dung dịch axit sufuric loãng, thí
nghiệm “sự cháy không cần diêm” của tờ giấy tẩm dung dịch phot pho trắng trong
cacbon sufua…
- Các thí nghiệm đòi hỏi thời gian nhất định mà trong giờ học các em học
sinh không có điều kiện thực hiện, như làm giấm ăn, nấu xà phòng từ xút và dầu
thực vật, chế tạo các chất thơm…
- Rèn luyện ý thức cẩn thận trong thực hành hoá học và tính kiên trì trong
giải các bài tập hoá học.
3. Thái độ.
- Cẩn thận, chính xác.
4. Định hướng phát triển năng lực.
- Năng lực ngôn ngữ, thuật ngữ hóa học, hợp tác nhóm.
II. Chuẩn bị của giáo viên và học sinh:
1. Chuẩn bị của GV: Máy chiếu, máy tính, dụng cụ hóa chất cần thiết.
2. Chuẩn bị của HS: Ôn tập lại các kiến thức bài nhôm sắt,.
III. Tổ chức các hoạt động học tập:
1. Ổn định tổ chức: ( 1p)
2. Kiểm tra bài cũ: (không)
3. Tiến trình bài dạy: ( 41p)
Hoạt động 1: Tiến hành thí nghiệm (33P)
1. Mục tiêu.
1.1. Kiến thức.
- Học sinh được khắc sâu kiến thức hoá học cảu nhôm và sắt.
1.2. Kỹ năng.
- Tiếp tục rèn kỹ năng thực hành hoá học, khả năng làm thực hành hoá học.
- Rèn luyện ý thức cẩn thận trong thực hành hoá học.
1.3. Thái độ:
- Cẩn thận, chính xác.
2. Phương pháp.
- Vấn đáp, thực hành, quan sát, hoạt động nhóm.
3. Hình thức tổ chức.
- Hoạt động nhóm, hợp tác trong nhóm của học sinh để phân tích thí nghiệm.
4. Phương tiện dạy học:
GV: Máy chiếu, máy tính, dụng cụ hóa chất cần thiết.
HS: Ôn tập lại các kiến thức bài nhôm sắt.
Hoạt động của giáo viên – học sinh
Bước 2: Thực hiện nhiệm vụ.
- HS: Nhận dụng cụ, hóa chất theo
hướng dẫn của giáo viên.
- GV: Hướng dẫn lấy tỷ lệ bột sắt và
bột lưu huỳnh theo khối lượng 7/4.
Bước 3: Thảo luận, trao đổi, báo cáo.
- GV: Yêu cầu HS quan sát hiện tượng,
thảo luận để báo cáo kết quả.
- HS: Đại diện nhóm báo cáo kết quả.
Bước 4: Phương án kiểm tra, đánh giá.
- GV: Nhận xét kết quả và điều chỉnh.
- HS: Ghi lại hiện tượng.
Thí nghiệm 3: Nhận biết kim loại
nhôm và sắt.
Bước 1: Giao nhiệm vụ.
- GV: Yêu cầu HS nêu mục tiêu các
bước tiến hành của thí nghiệm 1.
- HS: Nêu mục tiêu.
Bước 2: Thực hiện nhiệm vụ.
- HS: Nhận dụng cụ, hóa chất theo
hướng dẫn của giáo viên.
- GV: Hướng dẫn: Cho một ít bột nhôm
và sắt vào 2 ống nghiệm, cho tiếp
khoảng 2 đến 3ml dung dịch NaOH
vào từng ống nghiệm, dùng đũa thủy
tinh khuấy nhẹ, đặt 2 ống nghiệm lên
giá ống nghiệm để quan sát hiện tượng.
Bước 3: Thảo luận, trao đổi, báo cáo.
- GV: Yêu cầu HS quan sát hiện tượng,
thảo luận để báo cáo kết quả.
Bước 4: Phương án kiểm tra, đánh giá.
- GV: Nhận xét kết quả và điều chỉnh.
- HS: Ghi lại hiện tượng.
Hoạt động 2: Công việc cuối buổi thực hành (8p)
1. Mục tiêu.
1.1. Kiến thức:
- Học sinh được khắc sâu kiến thức hoá học cảu nhôm và sắt.
1.2. Kỹ năng:
- Biết viết bản tường trình sau buổi thực hành.
1.3. Thái độ:
- Cẩn thận, chính xác.
2. Phương pháp:
- Giải thích, quan sát.
3. Hình thức tổ chức:
- Hoạt động cá nhân
4. Phương tiện dạy học:
- GV: Phiếu tường trình cho từng học sinh.
- HS: tự viết báo cáo thực hành theo mẫu của giáo viên.
Hoạt động của giáo viên và học sinh
Nội dung chính
II. Viết bản tường trình thí nghiệm
Học sinh viết theo mẫu:
Mẫu bản tường trình:
Trường TH&THCS Cát Vân
Họ và tên:………………….. Lớp:………
Nhóm:………………………
BÀI THỰC HÀNH:
Tính chất hóa học của Nhôm và Sắt
(Dụng cụ và hóa chất của 1 nhóm trong tiết thực hành)
- Học sinh làm thí nghiệm của Nhôm tác dụng với Oxi:
Lấy một ít bột Nhôm rất mịn vào 1 tờ bìa. Khum tờ bìa chứa bột Nhôm, rắc
nhẹ bột Nhôm lên ngọn lửa đèn cồn.
(Thí nghiệm Nhôm tác dụng với Oxi)
10
- Thí nghiệm Sắt tác dụng với Lưu huỳnh:
Lấy 1 thìa nhỏ hỗn hợp bột Sắt và bột Lưu huỳnh theo tỷ lệ 4/7 về khối
lượng vào ống nghiệm. Đun ống nghiệm trên ngọn lửa đèn cồn.
(Thí nghiệm Sắt tác dụng với lưu huỳnh)
- Thí nghiệm nhận biết kim loại Nhôm, Sắt được đựng trong 2 lọ không dán
nhãn.
+ Lấy một ít kim loại Nhôm và Sắt cho vào 2 ống nghiệm được đánh dấu 1
và 2.
+ Nhỏ 4 đến 5 giọt dd NaOH vào từng ống nghiệm 1 và 2.
(Thí nghiệm nhận biết Nhôm và Sắt đựng trong 2 lọ không dán nhãn)
11
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với
bản thân, đồng nghiệp và nhà trường.
- Giáo viên tổ chức tiết thực hành thí nghiệm theo đúng định kì và thương
xuyên nghiên cứu chuyên đề của bộ môn.
- Học sinh ham thích học tiết thực hành thí nghiệm và tham gia thực hành
đầy đủ, đạt hiệu quả cao.
3.1. Kết luận.
- Giống như những môn học tự nhiên khác, hóa học cũng tính toán, cũng học
thuộc bài, làm bài tập. Nhưng đặc thù bộ môn là phải có thí nghiệm, nên tôi đã vận
dụng những kiến thức chắt lọc trong trường sư phạm, cũng như kinh nghiệm trong
thực tế, mà tôi đã trình bày ở trên.
- Kết quả cho thấy học sinh đam mê giờ học hóa, cũng như trong chờ đến
tiết thực hành. Tôi nhận thấy với phương pháp này tôi cũng hoàn thành tốt một tiết
dạy 45 phút.Tôi tạm hài lòng với bài giảng trên, vì kết quả cho thấy đa số học sinh
hiểu và vận dụng bài để thực hành.
- Với phương pháp này giáo viên đã chắt lọc được kiến thức trong bài giảng
tiết thí nghiệm thực hành.
- Học sinh ham thích học tiết thực hành, trong chờ đến tiết thực hành và
hoàn thành thí nghiệm thực hành nhanh chóng và thành công.
3.2. Kiến nghị.
Để học sinh học tốt các tiết thực hành nhà trường cần bổ sung thêm các hóa
chât đã hết, các dụng cụ đã hư hỏng, bổ sung thêm đồ bảo hộ cho học sinh như
găng tay cao su, khẩu trang…Cần có phòng thực hành riêng để các em không phải
kê lại bàn ghế và cũng không ảnh hưởng đến tiết học sau tiết thực hành.
XÁC NHẬN CỦA
THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
Như Xuân, ngày 11 tháng 4 năm 2019
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung
của người khác.
Lê Thị Phương
12
2.3. Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề.
2
2.3.1. Giải pháp 1: Phân loại thí nghiệm hóa học.
3
2.3.2. Giải pháp 2: Phương pháp tiến hành thí nghiệm hóa học
3
2.3.3. Giải pháp 3: Phương pháp tiến hành hóa học thực hành.
6
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm
12
3. Kết luận, kiến nghị.
12
Tài liệu tham khảo
13
Phụ lục