VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐINH VĂN THI
KIỂM SÁT ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ TỪ
THỰC TIỄN HUYỆN SƠN HÀ, TỈNH QUẢNG NGÃI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI, năm 2019
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐINH VĂN THI
KIỂM SÁT ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ TỪ
THỰC TIỄN HUYỆN SƠN HÀ, TỈNH QUẢNG NGÃI
Chuyên ngành : Luật Hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số
: 8 38 01 04
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS. TRẦN ĐÌNH NHÃ
HÀ NỘI, năm 2019
CHƯƠNG 3. THỰC TIỄN CÔNG TÁC KIỂM SÁT ĐIỀU TRA TRÊN
ĐỊA BÀN HUYỆN SƠN HÀ, TỈNH QUẢNG NGÃI VÀ CÁC GIẢI
PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC ......................................... 59
3.1. Thực tiễn công tác kiểm sát điều tra ở huyện Sơn Hà ............................. 59
3.2. Phương hướng, giải pháp nâng cao chất lượng công tác kiểm sát điều tra.
......................................................................................................................... 69
KẾT LUẬN .................................................................................................... 80
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
TTHS
:
Tố tụng hình sự
KSĐT
:
Kiểm sát điều tra
THQCT
:
Thực hành quyền công tố
CQĐT
:
Điều tra viên
BLHS
:
Bộ luật hình sự
BLTTHS
:
Bộ luật tố tụng hình sự
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 chính thức có hiệu lực kể từ ngày
01/01/2018 đã đánh dấu bước tiến mới của công tác lập pháp, đáp ứng yêu cầu cải
cách tư pháp và hội nhập quốc tế, công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm ở Việt
Nam hiện nay. Bộ luật này đã mở rộng thẩm quyền và đề cao hơn nữa vai trò của
Viện kiểm sát trong giai đoạn điều tra-vốn là giai đoạn đặc biệt quan trọng và mang
tính quyết định đối với giai đoạn truy tố, xét xử sau đó. Nổi bật lên là một số quy
định mới liên quan đến việc đề ra yêu cầu điều tra, mở rộng đối tượng công tác
kiểm sát điều tra và các hành vi tố tụng mà Viện kiểm sát có quyền áp dụng khi Cơ
quan điều tra và các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều
tra không thực hiện yêu cầu điều tra của Viện kiểm sát… Chính việc mở rộng này
2. Tình hình nghiên cứu
Qua nghiên cứu một số công trình khoa học ở trong nước có liên quan đến đề
tài, tập trung hầu hết các công trình phân tích, hướng dẫn về công tác nghiệp vụ
thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án hình sự từ nhiều khía cạnh
khác nhau như:
Luận văn Thạc sỹ của tác giả Kiều Hồng Nhung, Khoa Luật - Trường Đại học
Quốc gia Hà Nội: Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra của
Viện kiểm sát nhân dân (trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Đắk Lắk), năm
2014. Luận văn đã nghiên cứu và đưa ra các khái niệm về kiểm sát việc tuân theo
pháp luật trong hoạt động điều tra, thực tiễn thực thi pháp luật trên địa bàn tỉnh Đắk
Lắk. Tuy nhiên tác giả luận văn chưa chỉ ra được những nét đặc trưng của địa bàn
ảnh hưởng đến công tác kiểm sát hoạt động điều tra và những giải pháp khắc phục
kèm theo.
Luận văn Thạc sỹ của tác giả Đặng Thị Hồng Thủy, Khoa Luật – Trường Đại
học Quốc gia Hà Nội: Kiểm sát hoạt động điều tra – Một số vấn đề lý luận và thực
tiễn (Trên cơ sở nghiên cứu số liệu tại địa bàn tỉnh Nam Định), năm 2014. Luận văn
cũng đã nghiên cứu lý luận về công tác kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt
động điều tra của Viện kiểm sát, phân tích mối quan hệ giữa Viện kiểm sát và Cơ
quan điều tra trong hoạt động này, chỉ ra những mặt hạn chế, khó khăn từ thực tiễn
2
công tác kiểm sát điều tra trên địa bàn tỉnh Nam Định và đề ra giải pháp. Tuy nhiên,
xuất phát từ đặc trưng địa lý là tỉnh đồng bằng nên các giải pháp Luận văn này đưa
ra chưa phù hợp và chưa có nhiều tính mới.
Sách chuyên khảo do tiến sĩ Lê Hữu Thể chủ biên (năm 2008), “Thực hành
quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra”, Nhà
xuất bản Tư pháp, đã đề cập các quan điểm và lý luận chung về chức năng, nhiệm
vụ của Viện kiểm sát trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự, đối tượng, phạm vi
kiểm sát điều tra trên địa bàn huyện Sơn Hà, tỉnh Quảng Ngãi; trên cơ sở đó, tìm ra
giải pháp khắc phục nhược điểm, phát huy ưu điểm, góp phần nâng cao chất lượng
kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra của ngành Kiểm sát nói
chung và Viện kiểm sát huyện Sơn Hà, tỉnh Quảng Ngãi nói riêng.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu:
Những vấn đề lý luận, pháp luật và thực tiễn hoạt động kiểm sát việc tuân
theo pháp luật trong hoạt động điều tra của VKSND trên cơ sở số liệu thực tiễn ở
huyện Sơn Hà, tỉnh Quảng Ngãi.
4.2. Phạm vi nghiên cứu:
+ Về thời gian, luận văn nghiên cứu thực tiễn về công tác kiểm sát việc tuân
theo pháp luật trong hoạt động điều tra của Viện Kiểm sát huyện Sơn Hà từ đầu
năm 2015 đến tháng 11 năm 2018.
+ Về không gian: Địa bàn khảo sát, phân tích trên phạm vi huyện Sơn Hà, tỉnh
Quảng Ngãi.
5. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở các phương pháp luận biện chứng duy
vật của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của
Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam về phòng, chống
tội phạm ở nước ta. Đồng thời, luận văn còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu
cụ thể, phù hợp với chuyên ngành như: Thống kê hình sự, phân tích, tổng hợp, so
sánh đối chiếu dựa trên những tài liệu tổng kết, số liệu thống kê của Viện kiểm sát
nhân dân tỉnh Quảng Ngãi và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Quảng Ngãi
khi giải quyết những vấn đề thuộc nội dung của luận văn.
4
6. Ý nghĩa của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần bổ sung vào hệ thống lý luận khoa
TTHS được tiến hành nhằm xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn
diện và đầy đủ”; có ý kiến khác lại cho rằng: “Điều tra là một giai đoạn của quá
trình TTHS, trong đó CQĐT áp dụng các biện pháp do Luật TTHS quy định để xác
định tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội”.
Theo Từ điển Bách khoa Công an nhân dân Việt Nam năm 2005 thì điều tra
được hiểu là hoạt động thu thập chứng cứ, tài liệu, tình hình… phản ánh sự thật về
một tổ chức, con người, sự việc, hiện tượng hoặc mục tiêu, địa bàn, lĩnh vực thuộc
phạm vi nhiệm vụ bảo vệ an ninh, trật tự. Điều tra do Cơ quan Công an tiến hành có
thể dưới hai hình thức: Điều tra công khai do CQĐT hoặc một số cơ quan khác
được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra tiến hành công khai theo
quy định của luật TTHS. Điều tra bí mật (điều tra trinh sát) do lực lượng trinh sát
tiến hành, thường diễn ra trước khi khởi tố vụ án hình sự, phải tuân theo trình tự,
thủ tục, thẩm quyền mà các văn bản của ngành Công an quy định. Mỗi hình thức
điều tra có sự khác nhau cơ bản về chủ thể, thời hạn, hình thức cũng như trình tự,
thủ tục, thẩm quyền điều tra [7].
Như vậy, từ những phân tích trên, có thể tiếp cận khái niệm về điều tra vụ án
hình sự như sau: Điều tra vụ án hình sự là hoạt động của CQĐT căn cứ vào các quy
định của pháp luật TTHS, dưới sự kiểm sát của VKS, tiến hành các biện pháp tố
tụng cần thiết nhằm thu thập và củng cố các chứng cứ, làm rõ các tình tiết của vụ
án hình sự.
Theo pháp luật TTHS Việt Nam cũng như thông lệ quốc tế, việc giải quyết
vụ án hình sự được chia thành các giai đoạn, mỗi giai đoạn TTHS có nhiệm vụ giải
quyết những yêu cầu khác nhau và tương ứng với mỗi giai đoạn mà phân định chức
năng cụ thể của mỗi cơ quan có thẩm quyền riêng biệt nhằm thực hiện nhiệm vụ do
6
pháp luật quy định. Pháp luật TTHS Việt Nam chia quá trình giải quyết vụ án hình
sự thành các giai đoạn gồm: Giai đoạn khởi tố vụ án hình sự, giai đoạn điều tra vụ
7
các cơ quan hữu quan có biện pháp phòng ngừa tội phạm.
1.1.2. Đặc điểm của giai đoạn điều tra
Từ những nội dung phân tích khái niệm của giai đoạn điều tra vụ án hình sự
ở trên, có thể đưa ra những đặc điểm cơ bản và đặc trưng của giai đoạn điều tra vụ
án hình sự như sau:
Thứ nhất, giai đoạn điều tra vụ án hình sự là một giai đoạn trong quá trình
giải quyết vụ án hình sự, có thời hạn được xác định từ lúc vụ án được khởi tố bằng
Quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng cho đến khi CQĐT kết thúc điều tra
vụ án, ban hành Bản kết luận điều tra và đề nghị truy tố, chuyển toàn bộ hồ sơ vụ án
cho VKS; hoặc CQĐT ra quyết định đình chỉ vụ án.
Thứ hai, nhiệm vụ của giai đoạn điều tra vụ án hình sự là việc các cơ quan có
thẩm quyền thực hiện các biện pháp điều tra do BLTTHS quy định để chứng minh
tội phạm và người phạm tội, làm rõ các tình tiết khác liên quan đến toàn bộ nội
dung vụ án bao gồm các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị
can, các tình tiết buộc tội, gỡ tội, xác định nguyên nhân và điều kiện phạm tội để
kiến nghị các cơ quan hữu quan trong công tác phòng ngừa tội phạm.
Thứ ba, chủ thể thực hiện các biện pháp điều tra trong giai đoạn điều tra này
bao gồm CQĐT; cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra và
cả VKS trong một số trường hợp luật định. Các tài liệu do chính hoạt động của các
chủ thể nói trên tiến hành thu thập theo đúng trình tự, thủ tục quy định trong
BLTTHS mới được coi là chứng cứ làm cơ sở cho việc truy cứu trách nhiệm hình sự.
Thứ tư, các biện pháp điều tra nhằm phục vụ công tác điều tra được áp dụng
trong giai đoạn điều tra này được quy định cụ thể từ chương XI đến chương XVI
của BLTTHS năm 2015. Các biện pháp đó là: Hỏi cung bị can; lấy lời khai những
người tham gia tố tụng khác; đối chất và nhận dạng; khám nghiệm hiện trường,
khám nghiệm tử thi, xem xét dấu vết trên thân thể, thực nghiệm điều tra; giám định
VKS. Bản chất của hoạt động này là kiểm tra tính có căn cứ và tính hợp pháp các
hoạt động TTHS được thực hiện bởi CQĐT và cơ quan được giao nhiệm vụ tiến
hành một số hoạt động điều tra nhằm đảm bảo các tài liệu, chứng cứ buộc tội đúng
người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và chống oan sai.
Đối tượng của công tác KSĐT chính là hành vi xử sự của các cơ quan tiến
hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, những người tham gia tố tụng và các văn bản
tố tụng có trong hồ sơ vụ án ở giai đoạn điều tra. Khi tiến hành hoạt động kiểm sát,
VKS phải dựa trên các căn cứ pháp lý mà Hiến pháp, Luật tổ chức VKSND,
BLTTHS, các văn bản pháp luật khác và văn bản, quy định do Ngành Kiểm sát ban
hành để theo dõi, xem xét bảo đảm sự tuân theo pháp luật, cũng như đảm bảo tính
có căn cứ và hợp pháp của các hành vi tố tụng mà chủ thể bị kiểm sát thực hiện.
Về phạm vi công tác KSĐT: Phạm vi công tác KSĐT bắt đầu từ khi có
9
Quyết định khởi tố vụ án cho đến khi CQĐT kết thúc điều tra, chuyển hồ sơ vụ án
cho VKS đề nghị truy tố hoặc đình chỉ điều tra vụ án hình sự. Trước đây, có nhiều
quan điểm khác nhau về thời điểm bắt đầu công tác KSĐT, tuy nhiên về chúng tôi
thống nhất với quan điểm KSĐT bắt đầu từ khi khởi tố vụ án, mặc dù ngay từ giai
đoạn ban đầu giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố thì công
tác kiểm sát hoạt động tư pháp của VKS đã bắt đầu được thực hiện hoặc trong
trường hợp bắt quả tang, giữ người, bắt người… thì công tác kiểm sát luôn được
thực hiện, bảo đảm cho hoạt động tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng có căn
cứ và đúng pháp luật.
Từ những phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm công tác KSĐT như sau:
KSĐT là chức năng hiến định của VKSND, theo đó VKS trực tiếp giám sát tất cả
hoạt động tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và các cơ
quan hữu quan khác trong giai đoạn điều tra nhằm đảm bảo cho pháp luật TTHS
được thực hiện một cách đúng đắn.
khai, đối chất, nhận dạng, khám xét, thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; khám nghiệm
hiện trường, khám nghiệm tử thi, xem xét dấu vết trên thân thể, thực nghiệm điều
tra; giám định và định giá tài sản và các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt khác.
Trong hoạt động này VKS có thể trực tiếp hoặc gián tiếp kiểm sát thông qua
hồ sơ vụ án và các tài liệu, chứng cứ CQĐT thu thập chuyển cho VKS. Hầu hết các
quyết định và các hoạt động tố tụng này đều yêu cầu phải thông báo cho VKS và có
mặt của KSV. Ví dụ trong hỏi cung bị can, trước khi hỏi cung bị can, ĐTV phải
thông báo cho KSV về thời gian, địa điểm hỏi cung. Khi xét thấy cần thiết, KSV
tham gia việc hỏi cung bị can (khoản 1 Điều 183 BLTTHS năm 2015) hoặc trong
hoạt động khám xét, Lệnh khám xét của những người có thẩm quyền ra lệnh khám
xét phải được VKS có thẩm quyền phê chuẩn trước khi thi hành (khoản 1 Điều 193
BLTTS năm 2015).
Thứ hai, Kiểm sát hoạt động TTHS của người tham gia tố tụng; yêu cầu, kiến
nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xử lý nghiêm minh người tham gia tố
tụng vi phạm pháp luật. Theo đó, với tất cả hoạt động tố tụng của người tham gia tố
tụng như tham gia lấy lời khai, khám nghiệm hiện trường, giám định, khám xét,
nhận dạng…, và các biện pháp tố tụng khác do pháp luật TTHS quy định đều chịu
sự kiểm sát của VKS, đảm bảo hoạt động tố tụng này phải đúng pháp luật. Đồng
thời, vai trò của VKS trong hoạt động này còn thể hiện ở việc ban hành các văn bản
yêu cầu, kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xử lý nghiêm minh
những người tham gia tố tụng vi phạm pháp luật trong hoạt động TTHS.
Qua công tác KSĐT, khi phát hiện những vi phạm pháp luật trong TTHS hay
nói cụ thể hơn là các hành vi gây cản trở hoạt động TTHS của những người tham
gia tố tụng như các hành vi: Khai báo gian dối hoặc cung cấp tài liệu sai sự thật;
11
làm giả, hủy hoại chứng cứ gây trở ngại cho việc giải quyết vụ việc, vụ án; từ chối
khai báo hoặc từ chối cung cấp tài liệu, đồ vật; hành vi xúc phạm danh dự, nhân
12
cũng như về trình tự, thủ tục theo pháp luật TTHS, VKS thực hiện các quyền trên
nhằm đảm bảo tính đúng đắn trong việc giải quyết vụ án.
Thứ sáu, kiến nghị, yêu cầu CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành
một số hoạt động điều tra khắc phục vi phạm trong việc điều tra. Trên cơ sở kiểm
sát hồ sơ vụ án và các hoạt động tố tụng khác trong vụ án hình sự VKS tổng hợp
các vi phạm và ban hành văn bản gửi đến CQĐT có thẩm quyền giải quyết vụ án,
nhằm yêu cầu CQĐT khắc phục ngay các vi phạm này để việc giải quyết vụ án
đúng pháp luật.
Đây được xem là biện pháp tác động quan trọng của VKS đến CQĐT nhằm
khắc phục những vi phạm. Theo đó, công tác kiến nghị này có thể được tổng hợp thành
kiến nghị chung (với nhiều nội dung vi phạm ở một hoặc nhiều vụ án) hoặc những kiến
nghị riêng (ở từng hoạt động tố tụng, từng vụ án riêng biệt). Hoạt động này thể hiện rõ
nhất vai trò của VKS trong hệ thống cơ quan tư pháp ở Việt Nam và vị trí chủ đạo
trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự và quá trình giải quyết toàn bộ vụ án
Thứ bảy, yêu cầu Thủ trưởng CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành
một số hoạt động điều tra thay đổi ĐTV, Cán bộ điều tra, xử lý nghiêm minh ĐTV,
Cán bộ điều tra vi phạm pháp luật trong hoạt động tố tụng. Trên cơ sở quy định của
pháp luật TTHS về thay đổi ĐTV, Cán bộ điều tra cùng với thẩm quyền yêu cầu
khắc phục các vi phạm trong TTHS, VKS thực hiện các quyền này và buộc CQĐT
có thẩm quyền giải quyết vụ án phải thực hiện.
Thứ tám, kiến nghị cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng các biện pháp phòng
ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật. Trong hoạt động KSĐT, ngoài việc kiểm sát
đối với CQĐT, những người tiến hành tố tụng, VKS còn thực hiện vai trò cơ quan
có trách nhiệm phòng ngừa tội phạm. Cụ thể khi nhận thấy những thiếu sót trong
công tác chỉ đạo, điều hành của các cơ quan hữu quan khác gây ảnh hưởng đến tình
hình tội phạm, gây mất an ninh trật tự địa phương thì VKS có quyền ban hành văn
động điều tra, VKS chủ động tiến hành) và hình thức bị động (VKS không chủ động
tiến hành, phụ thuộc vào tài liệu điều tra của CQĐT).
Thứ ba, cùng với công tác THQCT trong giai đoạn điều tra thì công tác
KSĐT mang tính quyết định đến việc giải quyết đúng đắn vụ án. Xuất phát từ vai
trò của giai đoạn điều tra vụ án hình sự là thu thập các chứng cứ liên quan đến tội
phạm, người thực hiện tội phạm và những vấn đề khác liên quan đến vụ án, công tác
KSĐT sẽ giúp hoạt động điều tra của CQĐT được thực hiện đúng đắn, kịp thời chấn
chỉnh, khắc phục những vi phạm từ đó làm cơ sở để các giai đoạn truy tố, xét xử sau
đó đảm bảo đúng người, đúng tội đúng quy định của pháp luật TTHS.
Thứ tư, mục đích công tác KSĐT nhằm bảo đảm cho pháp luật TTHS được
chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất. Với vai trò là cơ quan bảo vệ pháp luật,
VKS thực hiện tất cả các quyền hiến định về kiểm sát hoạt động tư pháp nói chung
14
và KSĐT trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự nói riêng để đảm bảo pháp luật
được tuân thủ tuyệt đối, giữ vững lòng tin của người dân.
1.2.4. Ý nghĩa, vai trò của công tác kiểm sát điều tra
Ý nghĩa của công tác KSĐT: Xuất phát từ chức năng, nhiệm vụ đã phân tích
ở phần trên, công tác KSĐT sẽ đảm bảo tính khách quan trong thi hành pháp luật ở
lĩnh vực này trong giai đoạn điều tra. Cụ thể hơn, công tác KSĐT đảm bảo cho các
đạo luật của Quốc hội và các văn bản pháp luật khác của Nhà nước được chấp hành
nghiêm chỉnh, triệt để; không để xảy ra tình trạng tùy tiện trong thực thi pháp luật
và phải đảm bảo tất cả hành vi vi phạm pháp luật đều phải được phát hiện kịp thời,
xử lý nghiêm minh; kiên quyết không để lọt tội phạm [9].
Vai trò của công tác KSĐT : Để đảm bảo các hoạt động tố tụng, văn bản tố
tụng trong giai đoạn điều tra có căn cứ và hợp pháp, pháp luật TTHS yêu cầu
CQĐT, cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra phải gửi, báo cáo
bằng văn bản cho VKS. Cùng với đó, VKS trực tiếp tham gia vào các hoạt động tố
quyền lực của mình truy cứu TNHS đối với người thực hiện hành vi phạm tội.
Từ những nội dung trên có thể hiểu quyền công tố là: Một loại quyền lực Nhà
nước, được Nhà nước giao cho VKS thực hiện việc truy cứu TNHS và buộc tội
người đã có hành vi bị coi là tội phạm, được thực hiện trong suốt quá trình giải
quyết vụ án.
Thực hành quyền công tố: Trong khoa học hình sự, việc xác định rõ khái
niệm THQCT có ý nghĩa lý luận và thực tiễn rất lớn. Điều này có ý nghĩa quan
trọng trong giai đoạn hiện nay khi chúng ta tích cực triển khai thực hiện các Nghị
quyết của Đảng về cải cách bộ máy nhà nước, cải cách tư pháp. Ở nước ta, thuật
ngữ THQCT đã được các nhà làm luật ghi nhận và đề cập trong nhiều văn bản pháp
luật, đồng thời khái niệm này đã đồng hành trong suốt lịch sử TTHS Việt Nam từ
trước đến nay. Thế nhưng trong các văn bản pháp luật hình sự, TTHS của nước ta,
các nhà làm luật chưa ghi nhận một khái niệm THQCT.
Theo quy định của Hiến pháp năm 2013 và Luật tổ chức VKSND năm 2014,
trong lĩnh vực tư pháp hình sự, VKS có hai chức năng quan trọng là THQCT và
kiểm sát hoạt động tư pháp, cụ thể hơn trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự VKS
thực hiện đồng thời hai chức năng là THQCT và KSĐT. Đây là hai chức năng độc
lập, nhưng có mối quan hệ mật thiết với nhau. Trong thực tiễn hoạt động thực hiện
hai chức năng này, VKS các cấp luôn quán triệt đường lối của công tác kiểm sát là
đấu tranh chống tội phạm gắn liền với đấu tranh chống vi phạm pháp luật trong hoạt
động tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm
tội đều phải được phát hiện và xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật;
không để lọt tội phạm đồng thời cũng không được làm oan người vô tội, từ đó cho
thấy việc thực hiện đồng thời hai hoạt động THQCT và kiểm sát hoạt động tư pháp
16
trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự là mang tính khách quan [26]. Giữa hai
hoạt động này luôn có mối quan hệ với nhau thể hiện ở các phương diện sau:
17
Quá trình giải quyết vụ án hình sự là một quá trình tố tụng bao gồm nhiều giai
đoạn kế tiếp nhau, từ giai đoạn khởi tố vụ án cho đến khi thi hành án. Mỗi giai đoạn
tố tụng gắn liền với trách nhiệm tố tụng khác nhau của những cơ quan tiến hành tố
tụng khác nhau. CQĐT và VKS về bản chất là hai cơ quan độc lập trong phạm vi
chức năng và nhiệm vụ của mình, về cả trong giai đoạn điều tra. Nhưng với yêu cầu
đặt ra là một mặt phải đấu tranh với tội phạm nhưng mặt khác phải đảm bảo tính
khách quan, toàn diện và đúng pháp luật trong việc thực hiện các hoạt động tố tụng
trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự đã làm phát sinh mối quan hệ TTHS đặc biệt
giữa CQĐT và VKS.
Như vậy, có thể nói mối quan hệ giữa CQĐT và VKS trong hoạt động điều tra
vụ án hình sự là mối quan hệ TTHS được phát sinh trong giai đoạn điều tra vụ án
hình sự.
1.3.2. Nội dung mối quan hệ giữa Cơ quan điều tra, Cơ quan được giao tiến
hành một số hoạt động điều tra và Viện Kiểm sát
Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, giai đoạn điều tra thể hiện rõ nhất mối
quan hệ giữa CQĐT và VKS. Theo đó, CQĐT và VKS vừa tiến hành các hoạt động
tố tụng độc lập, vừa có mối quan hệ trong từng chế định tố tụng. CQĐT có chức
năng, nhiệm vụ phát hiện tội phạm, khởi tố, điều tra vụ án hình sự, còn VKS có chức
năng, nhiệm vụ THQCT và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra
vụ án hình sự, bảo đảm hoạt động điều tra vụ án hình sự đúng người, đúng tội và
đúng pháp luật. Do vậy, CQĐT và VKS có phối hợp xuyên suốt toàn bộ quá trình tố
tụng từ khi phát hiện tội phạm đến khi kết thúc điều tra vụ án hình sự. Để hiểu rõ hơn
nội dung mối quan hệ này, chúng tôi đề cập đến một số khía cạnh như sau:
Thứ nhất, mối quan hệ này được xem là một nguyên tắc hoạt động phối hợp
trong TTHS. Nguyên tắc này thể hiện bản chất của Nhà nước ta, đảm bảo cho công
tác đấu tranh phòng, chống tội phạm đạt được hiệu quả cao trên thực tế. Theo đó,
đó, CQĐT và VKS cùng có sự phối hợp chặt chẽ, bình đẳng về quyền, nghĩa vụ và
trách nhiệm; chất lượng, hiệu quả công tác phối hợp phụ thuộc chủ yếu vào sự tích
cực phối hợp của cả hai chủ thể này.
Thứ tư, Về mức độ, phối hợp cũng cần có cơ chế để bảo đảm sự phối hợp chặt
chẽ và hiệu quả, khắc phục tình trạng phối hợp mang tính hình thức, không hiệu
quả. Trong TTHS, mức độ của sự phối hợp tùy thuộc vào tính chất của hoạt động
TTHS ; đối với những hoạt động quan trọng và cần thiết phải có sự phối hợp chặt
chẽ giữa CQĐT và VKS như: Khám nghiệm hiện trường, tử thi, áp dụng, thay đổi
biện pháp ngăn chặn... đòi hỏi phải có sự phối hợp nghiêm ngặt về thời gian và cách
thức phối hợp.
Quá trình thực hiện mối quan hệ tố tụng này đòi hỏi mỗi chủ thể phải sử dụng
đúng mức và linh hoạt hai yếu tố phối hợp và chế ước, nhất là đối với VKS. Trong
19
quá trình tiến hành tố tụng, nếu VKS thực hiện sự phối hợp không đúng với bản
chất của nó hoặc chỉ phối hợp mà không có chế ước sẽ dẫn đến hiện tượng nể nang,
hữu khuynh, né tránh hoặc phụ thuộc vào CQĐT hoặc không kiên quyết đấu tranh
bảo vệ chân lý, bảo vệ lẽ phải vì thiếu bản lĩnh nghề nghiệp [19]. Hậu quả dẫn đến
những thiếu sót, vi phạm, của CQĐT, ĐTV không được VKS phát hiện, yêu cầu
khắc phục, bổ sung dẫn đến phải trả hồ sơ điều tra bổ sung, vụ án bị đình chỉ hoặc
bị Tòa án tuyên không phạm tội.
Trong những năm gần đây, quan điểm lập pháp về “sự có mặt” hay nói cách
khác là sự cần thiết của việc trực tiếp tham gia của VKS trong các hoạt động tố tụng
càng thể hiện rõ hơn, thể hiện qua những quy định trong BLTTHS năm 2015. Điều
này càng khẳng định rõ vai trò duy nhất của VKS trong hệ thống các cơ quan nhà
nước về kiểm sát hoạt động tư pháp nói chung và KSĐT nói riêng. Chính từ yêu cầu
của quy định pháp luật, đòi hỏi mối quan hệ công tác giữa CQĐT và VKS hay cụ
thể hơn là cách thức phối hợp phải ngày càng chặt chẽ, chuyên sâu, đảm bảo cao