VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHẠM VĂN TÍCH
PHÒNG NGỪA TÌNH HÌNH CÁC TỘI PHẠM
VỀ MA TÚY TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI, năm 2019
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHẠM VĂN TÍCH
PHÒNG NGỪA TÌNH HÌNH CÁC TỘI PHẠM
VỀ MA TÚY TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Chuyên ngành : Tội phạm học và Phòng ngừa tội phạm
Mã số
: 8 38 01 05
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS. TRẦN VĂN ĐỘ
HÀ NỘI, năm 2019
NGỪA TÌNH HÌNH CÁC TỘI PHẠM VỀ MA TÚY TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG ..................................................................................58
3.1. Dự báo các yếu tố liên quan đến phòng ngừa tình hình các tội phạm về ma
túy trên địa bàn thành phố Đà Nẵng trong thời gian tới ......................................58
3.2. Các giải pháp tăng cường phòng ngừa tình hình các tội phạm về ma túy trên
địa bàn thành phố Đà Nẵng trong thời gian tới ....................................................65
KẾT LUẬN .........................................................................................................79
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ANTT
An ninh trật tự
BCA
Bộ Công an
BLTTHS
Bộ luật tố tụng hình sự
CSKV
Cảnh sát khu vực
CSQLHC
Cảnh sát quản lý hành chính
Cảnh sát quản lý hành chính
TAND
Tòa án nhân dân
TTHS
Tố tụng hình sự
TTXH
Trật tự xã hội
UBND
Ủy ban nhân dân
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thành phố Đà Nẵng là một trong năm thành phố trực thuộc trung ương
của nước ta, có diện tích 1.225,53 km2, trong đó có 6 quận nội thành, 2 huyện
ngoại thành chiếm 1042,48km2, phía Bắc giáp tỉnh Thừa Thiên - Huế, phía
Đông giáp biển, phía Tây và Nam giáp tỉnh Quảng Nam. Thành phố Đà Nẵng
nằm gần trung độ của trục giao thông Bắc – Nam về đường bộ, đường sắt,
đường thuỷ và đường hàng không, là cửa ngõ quan trọng ra biển của hành
lang kinh tế Đông – Tây, với điểm kết thúc là Cảng Tiên Sa. Thành phố Đà
Nẵng có sân bay quốc tế, cảng biển, nhà ga và các trung tâm thương mại
khám phá các tội phạm về ma túy ngày càng cao, hạn chế bỏ lọt tội phạm.
Tuy vậy trên thực tế, tình hình các tội phạm về ma túy trên địa bàn thành phố
Đà Nẵng vẫn diễn biến phức tạp và chưa có chiều hướng giảm, gây bức xúc
tronh xã hội và đặc biệt là loại tội phạm này còn là mầm mống phát sinh các
loại tội phạm khác.
Trước yêu cầu đó đặt ra vấn đề bức thiết là phải nghiên cứu làm rõ các
nguyên nhân, điều kiện của tình hình các tội phạm về ma túy, từ đó đưa ra
những dự báo khoa học và đề ra hệ thống các giải pháp hữu hiệu để phòng
ngừa, ngăn chặn, hạn chế đến mức tối đa tình hình các tội phạm về ma túy
trên địa bàn thành phố Đà Nẵng. Đó là lý do tác giả lựa chọn Đề tài: “Phòng
ngừa tình hình các tội phạm về ma túy trên địa bàn thành phố Đà Nẵng” làm
luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ luật học.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
2.1. Các công trình lý luận tội phạm học
Để có cơ sở lý luận cho việc thực hiện đề tài Luận văn, các công trình
khoa học sau đây đã được nghiên cứu:
- “Tội phạm học Việt Nam – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” Viện
2
Nhà nước và Pháp luật, Nxb CAND, năm 2000;
- Giáo trình “Tội phạm học” GS.TS Võ Khánh Vinh, Nxb CAND, tái
bản năm 2011, 2013;
- Giáo trình “Tội phạm học” trường ĐH Luật Hà Nội, Nxb CAND năm
2004, 2012;
- Giáo trình “Tội phạm học” Học viện Cảnh Sát nhân dân, Nxb CAND
năm 2002, 2013;
- “Những vấn đề lý luận và phương pháp nghiên cứu của tội phạm học ở
Việt Nam hiện nay” GS.TS Võ Khánh Vinh
và giải pháp” Luận án tiến sỹ luật học.
- Nguyễn Tuyết Mai (2006), “Đấu tranh phòng, chống ma túy ở Việt
Nam” Luận án tiến sỹ luật học.
- Thân Công Thanh (2008), “Phòng ngừa các tội phạm về ma túy trên
địa bàn tỉnh Lào Cai” Luận văn thạc sỹ luật học.
- Đỗ Tiến Dũng (2009), “Phòng ngừa các tội phạm về ma túy trên địa
bàn tỉnh Lai Châu” (2009) Luận văn thạc sỹ luật học.
- Đặng Thị Huệ (2013), “Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép
chất ma túy trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh tình hình, nguyên nhân và
các giải pháp phòng, chống” Luận văn thạc sỹ luật học.
Có thể thấy, thời gian qua đã có khá nhiều công trình nghiên cứu có liên
quan đến tội phạm nói chung và phòng ngừa tình hình các tội phạm ma túy
nói riêng. Tuy nhiên các công trình nghiên cứu trên hoặc chỉ mới nghiên cứu
phòng ngừa tình hình một loại tội phạm nhất định ở một địa phương nào đó.
Cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, hệ thống
chuyên về phòng ngừa tình hình các tội phạm về ma túy trên địa bàn thành
phố Đà Nẵng. Đây cũng chính là hướng tiếp cận nghiên cứu của luận văn này.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu làm rõ lý luận và thực tiễn phòng ngừa tình hình
4
các tội phạm về ma túy trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, từ đó Luận văn
hướng đến mục đích đề xuất các giải pháp tăng cường phòng ngừa tình hình
các tội phạm về ma túy trên địa bàn thành phố Đà Nẵng trong thời gian tới.
- Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, luận văn tập trung giải quyết
những nhiệm vụ cụ thể sau:
sau: Tổng kết thực tiễn, quan sát, thống kê hình sự, điều tra điển hình, nghiên
cứu hồ sơ vụ án, phân tích, so sánh, hệ thống, kế thừa…
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Ý nghĩa về mặt lý luận: Luận văn là công trình khoa học nghiên cứu
phòng ngừa tình hình các tội phạm về ma túy một cách toàn diện, hệ thống và
nhất quán dưới góc độ tội phạm học Việt Nam trên địa bàn thành phố Đà
Nẵng. Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham
khảo trong giảng dạy và học tập tại các trường Luật, các trường Công an, Học
viện khoa học xã hội.
- Ý nghĩa về mặt thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần
nâng cao hiệu quả phòng ngừa tình hình các tội phạm nói chung và phòng ngừa
tình hình các tội phạm về ma túy trên địa bàn thành phố Đà Nẵng nói riêng.
7. Cơ cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phần nội
dung của luận văn được cấu trúc thành 03 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về phòng ngừa tình hình các tội
phạm
Chương 2: Thực trạng phòng ngừa tình hình các tội phạm về ma túy trên
địa bàn thành phố Đà Nẵng
Chương 3: Tăng cường phòng ngừa tình hình các tội phạm về ma túy
trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
6
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÒNG NGỪA TÌNH HÌNH
CÁC TỘI PHẠM VỀ MA TÚY
1.1. Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của phòng ngừa tình hình các tội
phạm về ma túy
Ngày 10/5/1997 một lần nữa Quốc hội sửa đổi, bổ sung BLHS quy định
hẳn một chương (Chương VIIA) gồm 14 điều quy định tương đối đầy đủ các
hành vi phạm tội mà thực tiễn đấu tranh đặt ra.
Ngày 21/12/1999 BLHS mới được Quốc hội thông qua, trong đó chương
XVIII quy định các tội phạm về ma túy gồm 10 điều luật được quy định và bổ
sung một số tội danh mới. Đến ngày 19/6/2009 tại kỳ họp thứ 5, Quốc hội
Khóa XII đã thông qua luật sửa đổi, bổ sung một số điều BLHS năm 1999.
Trong lần sửa đổi này đã “phi hình sự hóa” đối với hành vi sử dụng trái phép
chất ma túy và bỏ hình phạt tử hình đối với một số tội như: Tội tổ chức sử
dụng trái phép chất ma túy.
Ngày 27/11/2015, tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XII đã thông qua
BLHS năm 2015 và đến ngày 20/6/2017, Quốc hội thông qua Luật sửa đổi bổ
sung một số điều BLHS năm 2015, đã bỏ hình phạt tử hình đối với tội tàng
trữ trái phép chất ma túy và tội chiếm đoạt chất ma túy. Tách điều 194 BLHS
năm 1999 thành 4 tội danh độc lập cho phù hợp với thực tiễn đấu tranh
phòng, chống tội phạm về ma túy.
Trong công tác phòng ngừa tội phạm về ma túy lực lượng Công an là
nòng cốt, các ban, ngành khác có trách nhiệm hỗ trợ, phối hợp với lực lượng
công an để công tác phòng ngừa đạt hiệu quả cao hơn. Như vậy, phòng ngừa
tình hình các tội phạm nói chung, tội phạm ma túy nói riêng không chỉ là
nhiệm vụ của một cá nhân hay cơ quan nào mà phải đồng bộ của cả hệ thống
chính trị, của toàn xã hội. Điều này là hoàn toàn phù hợp với các văn kiện
8
Nghị Quyết của Đảng, pháp luật Nhà nước và lợi ích chung của xã hội.
Tình hình các tội phạm nói chung, tình hình các tội phạm về ma túy nói
riêng chính là một phạm trù cơ bản của tội phạm học. Tình hình các tội phạm
về ma túy gồm tất cả các dấu hiệu của tình hình các tội phạm này với tính
phòng ngừa tình hình các tội phạm về ma túy như sau: Phòng ngừa tình hình
các tội phạm về ma túy là hoạt động của các cơ quan, tổ chức, cá nhân bằng
việc sử dụng đồng bộ các biện pháp khác nhau nhằm loại bỏ những nguyên
nhân và điều kiện làm phát sinh tội phạm về ma túy, đồng thời cải tạo, giáo
dục họ thành người có ích cho xã hội góp phần giữ vững an ninh quốc gia,
trật tự an toàn xã hội.
1.1.2. Đặc điểm phòng ngừa tội phạm về ma túy
- Nghiên cứu đặc điểm phòng ngừa tội phạm về ma túy là quá trình
chúng ta đi nghiên cứu những nguyên nhân, điều kiện làm phát sinh tội phạm
về ma túy và biện pháp tác động vào nguyên nhân, điều kiện đó nhằm ngăn
ngừa trước không cho tội phạm xảy ra. Các biện pháp để phòng ngừa tội
phạm về ma túy như đảm bảo đời sống vật chất, tinh thần cho người dân để
con người không thực hiện hành vi phạm tội do thiếu thốn vật chất hay do hạn
chế nhận thức, đó là các biện pháp về kinh tế, văn hóa, xã hội, tâm lý, giáo
dục...thực hiện tốt công tác cai nghiện, xử lý người nghiện và công tác sau sai
nghiện, tạo công ăn việc làm cho họ. Về bản chất các biện pháp này không
mang tính cưỡng chế bắt buộc nên có thể được xây dựng và triển khai bởi
nhiều chủ thể khác nhau, tuy nhiên phải tuân thủ theo các nguyên tắc của
phòng ngừa tội phạm.
- Phòng ngừa tội phạm mang tính cưỡng chế nhà nước nhằm kịp thời
phát hiện, xử lý sau khi tội phạm đã xảy ra nhằm tiếp tục phòng ngừa tội
phạm. Các biện pháp này được thực hiện từ giai đoạn phát hiện, điều tra của
cơ quan công an, đến giai đoạn truy tố, xét xử của VKS và Tòa án.
10
1.1.3. Ý nghĩa của việc nghiên cứu phòng ngừa tình hình các tội phạm
về ma túy
- Ý nghĩa về lý luận của phòng ngừa tình hình các tội phạm về ma túy:
an, Tòa Án, Viện kiểm sát.
1.2. Các nguyên tắc phòng ngừa tình hình các tội phạm về ma túy
1.2.1. Nguyên tắc Đảng lãnh đạo
Điều 4 Hiến pháp 2013 khẳng định: “Đảng Cộng sản Việt Nam là lực
lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội” trong đó tất nhiên bao gồm sự lãnh đạo
hoạt động phòng ngừa tội phạm. Nội dung của nguyên tắc Đảng lãnh đạo thể
hiện ở chỗ mọi hoạt động phòng ngừa tình hình các tội phạm cũng như hoạt
động của các chủ thể tiến hành các hoạt động phòng ngừa tội phạm đều đặt
dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Mỗi giai đoạn phát triển của đất nước, Đảng ta đều kịp thời có các chỉ
thị, nghị quyết quan trọng để lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh
quốc gia và trật tự an toàn xã hội: Nghị quyết về nhiệm vụ quốc phòng bảo vệ
an ninh quốc gia chống "diễn biến hoà bình", Chiến lược bảo vệ an ninh quốc
gia, Chiến lược bảo vệ Tổ quốc, Nghị quyết về nâng cao hiệu quả, ....
Việc thực hiện các nghị quyết của Đảng về bảo vệ an ninh quốc gia và
giữ gìn trật tự an toàn xã hội đã tạo được sự chuyển biến rõ nét trong nhận
thức của cán bộ, đảng viên, các cấp, các ngành, các tầng lớp nhân dân về
nhiều vấn đề lớn quan hệ đến sự lãnh đạo của Đảng, về chế độ xã hội chủ
nghĩa ở Việt Nam, về sự nghiệp đổi mới, củng cố lòng tin vào sự lãnh đạo của
Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa; đồng thời cũng nhận thức rõ hơn về khó
khăn và thách thức mà Đảng ta, nhân dân ta phải khắc phục trong quá trình
hội nhập kinh tế quốc tế; về âm mưu, hoạt động phá hoại cách mạng của các
thế lực thù địch, hoạt động của các loại tội phạm. Từ đó nâng cao ý thức cảnh
giác cách mạng và trách nhiệm của cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân
đối với nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, phòng chống tội phạm, bài trừ tệ
nạn xã hội.
12
dân, hướng dẫn, huấn luyện cho các tổ chức nhân dân tự quản các biện pháp
cần thiết trong việc phát hiện, xử lý các hành vi có dấu hiệu vi phạm pháp luật
về phòng, chống ma túy v.v…
1.2.4. Nguyên tắc nhân đạo
Nguyên tắc nhân đạo trong hoạt động phòng ngừa tội phạm về ma túy
được hiểu là các biện pháp phòng ngừa tội phạm này không nhằm làm tổn
thương con người mà phải hướng con người tới cuộc sống tốt đẹp hơn. Con
người được đề cập ở đây có thể là bị can, bị cáo, người phạm tội, người
nghiện ma túy, những người khác chịu sự tác động từ các biện pháp phòng
ngừa tội phạm.
Khi triển khai, áp dụng các biện pháp phòng ngừa tội phạm về ma túy,
chủ thể phòng ngừa tội phạm vì mục đích phòng ngừa tội phạm có thể sẽ áp
dụng các biện pháp vô tình gây tổn thương đến bị can, bị cáo, người phạm tội,
người nghiện ma túy và những người là nạn nhân gián tiếp của tội phạm.
Chính vì vậy, ngoài việc tuân thủ pháp luật, tiêu chí rất quan trọng để các chủ
thể quyết định áp dụng một biện pháp phòng ngừa tội phạm là cân nhắc xem
biện pháp đó có nguy cơ gây tổn thương đến đối tượng nào trong xã hội hay
không.
Thực hiện nghiêm túc nguyên tắc nhân đạo trong hoạt động phòng ngừa
tội phạm có ý nghĩa bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của những người có liên
quan, bảo đảm tính nhân đạo xã hội chủ nghĩa của nhà nước ta trong hoạt
động phòng ngừa tội phạm và nhằm hướng đến mục đích chung nhất là nâng
cao hiệu quả hoạt động phòng ngừa tội phạm, bảo vệ tối đa quyền, lợi ích hợp
pháp của con người.
1.2.5. Nguyên tắc khoa học
Cùng với sự phát triển của xã hội, tội phạm hoạt động ngày càng tinh vi
và hiện đại, đặc biệt trong các lĩnh vực như bảo hiểm, tài chính, ngân hàng, cờ
14
15
từng cơ quan, từ đó có những biện pháp uốn nắn, khắc phục những sai sót,
khuyết điểm đó.
- Hội đồng nhân dân các cấp: Đây là chủ thể quan trong trong phòng
ngừa tội phạm về ma túy. Trong phạm vi thẩm quyền của mình Hội đồng
nhân dân các cấp sẽ ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về những vấn
đề phòng ngừa tội phạm nói chung và tình hình các tội phạm ma túy nói
riêng, kiểm tra thực hiện chúng, xem tình hình phòng ngừa tội phạm nói
chung, tội phạm ma túy nói riêng có đạt hiệu quả hay không.
- Các cơ quan bảo vệ pháp luật địa phương là chủ thể nòng cốt trong
việc phòng ngừa tội phạm về ma túy
+ Cơ quan công an: Công an các địa phương theo chức năng, nhiệm vụ
của mình, quá trình đấu tranh với tội phạm ma túy sẽ nghiên cứu tình hình các
tội phạm ma túy nói chung, các khuynh hướng của tình hình các tội phạm về
ma túy và tham mưu cho chính quyền các cấp giải quyết những vấn đề không
thuộc phạm vi xử lý của mình. Cơ quan công an là một trong những cơ quan
tham gia chính vào việc phối hợp và xây dựng kế hoạch tổng thể trong phòng
ngừa tình hình các tội phạm ma túy mà cụ thể ở đây là lực lượng CSĐTTP về
ma túy ở các cấp.
Lực lượng CAND các cấp cần nghiên cứu tình trạng tội phạm ma túy
xảy ra trên địa phương mình quản lý để xác định chính xác những nguyên
nhân, điều kiện làm phát sinh tội phạm nói chung, tội phạm về ma túy nói
riêng để có biện pháp phòng ngừa thích hợp theo đúng chức năng, nhiệm vụ
mà Nhà nước giao phó.
Lực lượng Công an tiến hành phòng ngừa theo hai hướng đó là phòng
ngừa xã hội và phòng ngừa nghiệp vụ.
+ Viện kiểm sát nhân dân các cấp: VKSND thực hiện chức năng công tố,
kiểm sát việc thực hiện theo đúng pháp luật quy định trong hoạt động điều tra,
Vai trò của UBMTTQVN là tuyên truyền, vận động nhân dân, thành
17
viên của tổ chức mình tham gia phòng ngừa, phát hiện tội phạm nói chung, tội
phạm ma túy nói riêng. Kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền
trong việc xử lý tội phạm ma túy và các hành vi vi phạm pháp luật về ma túy.
Thực hiện quyền giám sát và phản biện xã hội những hành vi phạm tội về ma
túy, những cá nhân, tổ chức vi phạm pháp luật về ma túy.
Các ban, ngành, đoàn thể, tổ chức xã hội tùy theo chức năng, nhiệm vụ
của mình mà mỗi cơ quan, đơn vị có những hình thức, nội dung, biện pháp
tham gia vào hoạt động phòng ngừa tình hình các tội phạm một cách phù hợp
nhất
Các cá nhân cần phải thực hiện tốt các quyền, nghĩa vụ của công dân
theo đúng Hiến pháp và pháp luật Nhà nước quy định, thực hiện tốt các quy
định của địa phương, nội quy, quy định của đơn vị, cơ quan công tác. Mỗi cá
nhân cần hưởng ứng và tham gia nhiệt tình các phong trào đấu tranh phòng
chống tội phạm về ma túy do chính quyền địa phương, cơ quan, đơn vị mình
tổ chức.
1.4. Nội dung phòng ngừa tình hình các tội phạm về ma túy
1.4.1. Tiến hành các hoạt động phòng ngừa tình hình các tội phạm về
ma túy
Tiến hành các hoạt động phòng ngừa tội phạm (phòng ngừa xã hội) là
khắc phục các nguyên nhân và điều kiện phạm tội. Có rất nhiều nguyên nhân
và điều kiện phạm tội về ma túy như: tác động của nền kinh tế thị trường, tư
tưởng lạc hậu, nhận thức hạn chế, pháp luật còn nhiều lỗ hổng hoặc chưa có
tính răn đe,… Khi nhìn một cách tổng quan, có thể thấy được việc khắc phục
nguyên nhân và điều kiện phạm tội về ma túy có thể thực hiện hai phương
diện sau:
của pháp luật, tạo lòng tin trong nhân dân; biện pháp quản lý các đối tượng
hình sự, đối tượng có tiền án, tiền sự, những đối tượng có nguy cơ sẽ thực
hiện hành vi phạm tội nhằm làm vô hiệu hóa hoặc loại bỏ nguyên nhân, điều
19
kiện của tình hình các tội phạm nói chung.
1.5. Mối liên hệ giữa nghiên cứu phòng ngừa tội phạm về ma túy với
nghiên cứu tình hình và nguyên nhân, điều kiện của tình hình các tội
phạm về ma túy
Phòng ngừa tội phạm là hoạt động của tất cả các cơ quan bảo vệ pháp
luật, các cơ quan Nhà nước và tổ chức xã hội và của mọi công dân trong xã
hội áp dụng tổng hợp và đồng bộ các biện pháp khác nhau hướng vào thủ tiêu
những nguyên nhân và điều kiện phạm tội, cũng như loại bỏ các yếu tố tiêu
cực ảnh hưởng đến quá trình hình thành phẩm chất cá nhân tiêu cực, đồng
thời từng bước hạn chế, đẩy lùi và tiến tới loại bỏ tội phạm ra khỏi đời sống
xã hội.
Các nhân tố xã hội mang tính quy luật khách quan đóng vai trò căn bản,
gốc rễ phát sinh hoặc những hoàn cảnh, điều kiện thuận lợi cho phát triển
những hiện tượng, quá trình tiêu cực xã hội nói trên được gọi là nguyên nhân
và điều kiện của tình hình các tội phạm. Các nhân tố xã hội này gắn liền móc
xích với nhau chịu sự tác động, ảnh hưởng, chi phối lẫn nhau theo những quy
luật nhất định. Chính nhu cầu nhận thức chân lý khách quan diễn ra gắn liền
với những biến động, thay đổi mang tính quy luật đó đã làm phát sinh, phát
triển tội phạm học - như một hệ thống trí thức về tình hình các tội phạm, về
nguyên nhân điều kiện của tình hình các tội phạm, cũng như những giải pháp
phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý có hiệu quả các nhân tố tiêu cực. Như vậy,
việc nghiên cứu phòng ngừa tình hình các tội phạm với nghiên cứu tình hình
các tội phạm và nguyên nhân, điều kiện của tình hình các tội phạm có mối