Luận văn thạc sĩ: Quản lý Nhà nước của Ủy ban nhân dân tỉnh về xử lý vi phạm hành chính từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam - Pdf 56

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN ĐÌNH TRỌNG

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH
VỀ XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH TỪ THỰC TIỄN
TỈNH QUẢNG NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, năm 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN ĐÌNH TRỌNG

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH
VỀ XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH TỪ THỰC TIỄN
TỈNH QUẢNG NAM

Chuyên ngành : Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số

: 8 38 01 02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS. VŨ TRỌNG HÁCH


2.3. Những hạn chế, nguyên nhân quản lý nhà nước về xử lý vi phạm hành
chính tại tỉnh Quảng Nam…………………………………..……………….64
CHƯƠNG 3. PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN
LÝ NHÀ NƯỚC VỀ XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH TỪ THỰC TIỄN
TỈNH QUẢNG NAM .................................................................................... 68
3.1. Phương hướng hoàn thiện quản lý nhà nước về xử lý vi phạm hành chính
................... ....................................................................................................... 68
3.2. Giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về xử lý vi phạm hành chính nói
chung và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về xử lý vi phạm hành chính
tại tỉnh quảng Nam nói riêng ............................................................................ 70
KẾT LUẬN .................................................................................................... 78
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
HĐND

Hội đồng nhân dân

UBND

Ủy ban nhân dân

XLVPHC

Xử lý vi phạm hành chính

CSDL

Cơ sở dữ liệu

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Xử lý vi phạm hành chính là công cụ quan trọng trong hoạt động quản
lý nhà nước nhằm duy trì trật tự kỷ cương trong quản lý hành chính nhà nước.
Đây là một vấn đề liên quan trực tiếp đến đời sống hằng ngày của nhân dân,
của tổ chức và hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp đã được
Đảng, Nhà nước và toàn xã hội hết sức quan tâm.
Vì thế, Luật Xử lý vi phạm hành chính đã được Quốc hội thông qua
ngày 20 tháng 6 năm 2012 đã đánh dấu một bước phát triển quan trọng trong
việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về xử lý vi phạm hành chính nói riêng,
hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung, đồng thời khẳng định một bước phát
triển mới về cơ chế pháp lý bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công
dân, duy trì trật tự kỷ cương trong quản lý hành chính nhà nước ở nước ta phù
hợp với tinh thần của Hiến pháp năm 2013. Luật Xử lý vi phạm hành chính
gồm 6 phần 12 chương, 142 điều quy định đầy đủ toàn diện, các vấn đề về xử
lý vi phạm hành chính trên cơ sở kế thừa những quy định đã được thực tiễn
kiểm nghiệm, khắc phục một cách cơ bản những hạn chế, bất cập của hệ
thống pháp luật về xử lý vi phạm hành chính hiện hành, bảo đảm dân chủ, bảo
đảm tính công khai, minh bạch trong trình tự, thủ tục xử phạt vi phạm hành
chính và xử lý vi phạm hành chính.
Trong đó, để triển khai Luật Xử lý vi phạm hành chính, việc tổ chức thực
hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về xử lý vi phạm hành chính tại địa phương rất
quan trọng. Vì thế, Ủy ban nhân dân tỉnh đóng vai trò chủ đạo, quyết định hiệu
quả thực thi tại các cấp của chính quyền địa phương, không chỉ các quy định
quản lý công tác thi hành pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính nói riêng mà
còn có cả các quy định về xử lý vi phạm hành chính nói chung.

1



Luật Xử lý vi phạm hành chính còn chưa kịp thời, gây khó khăn trong công
tác quản lý, xử lý vi phạm hành chính. Cơ sở vật chất, kỹ thuật cho công tác
quản lý nhà nước về xử lý vi phạm hành chính chưa đảm bảo. Việc phối hợp
giữa cơ quan chức năng trong xử lý vi phạm hành chính chưa chặt chẽ, chưa
kịp thời, nhất là việc trình các hồ sơ vượt thẩm quyền của người lập biên bản;
việc thực hiện công tác báo cáo, thống kê còn chồng chéo, chưa có phần mềm
cơ sở dữ liệu về vi phạm hành chính.
Về mặt lý luận, để đảm bảo thực hiện công tác quản lý xử lý vi phạm
hành chính cũng đặt ra nhiều vấn đề nhưng chưa có một công trình nghiên cứu
mang tính chuyên sâu nào. Một số công trình được công bố chỉ nghiên cứu
chung về pháp luật xử phạt vi phạm hành chính ở các lĩnh vực như hải quản, lĩnh
vực công thương, lĩnh vực bảo vệ môi trường.v.v. Rõ ràng, cả về mặt lý luận,
cả về mặt thực tiễn, việc nghiên cứu một cách toàn diện vấn đề đảm bảo thực
hiện công tác quản lý xử lý vi phạm hành chính để đề xuất và luận chứng các
giải pháp nhằm đảm bảo thực hiện pháp luật đó nghiêm minh, chính xác, kịp
thời là hết sức cần thiết và cấp bách hiện nay.
Xuất phát từ những diễn biến thực tiễn tại tỉnh Quảng Nam, tôi thực
hiện đề tài: “Quản lý Nhà nước của Ủy ban nhân dân tỉnh về xử lý vi phạm
hành chính từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam” nhằm làm cơ sở khoa học cho
việc nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước về xử lý vi phạm hành chính tại địa
phương.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Theo đường lối đổi mới của đất nước ta và nhất là nhằm thực hiện chủ
trương "quản lý nhà nước bằng pháp luật", việc nghiên cứu những vấn đề lý
luận về quản lý pháp luật, về cơ chế thực hiện quản lý pháp luật nói chung,
pháp luật xử lý vi phạm hành chính. Có thể kể đến một số công trình sau:

3




- Luật án tiến sĩ luật học: “Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực
quản lý trật tự xây dựng đô thị: thực trạng và giải pháp”, của Nguyễn Bá
Phùng, 2016.
Ngoài ra, còn có một số bài viết của các cán bộ chuyên gia trong và
ngoài ngành Tư pháp liên quan đến đề tài luận văn đã được đăng trên cổng
thông tin điện tử của Bộ Tư pháp như bài viết của Thạc sĩ Trần Thị Thu Hà,
Giảng viên khoa luật hành chính - nhà nước, Đại học Luật Thành Phố Hồ Chí
Minh - pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động của các doanh
nghiệp; bài viết của PGS, Tiến sĩ Hà Hùng Cường, nguyên Bộ trưởng, Bộ Tư
pháp đăng trên Báo điện tử nhân dân - Luật Xử lý vi phạm hành chính - bước
phát triển mới về cơ chế pháp lý bảo đảm quyền con người, quyền công dân ở
nước ta; bài viết của Thạc sĩ Đặng Thanh Sơn, Cục trưởng Cục Quản lý xử lý
vi phạm hành chính và theo dõi thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đăng trên
trang điển tử Luật Minh Khuê - vi phạm hành chính và xử lý vi phạm hành
chính; Tiến sĩ Lê Vương Long và thạc sĩ Hoàng Văn Sao đăng trên Tạp chí
Luật học - đặc san về xử lý vi phạm hành chính; một số bài viết về những
vướng mắc khi xử lý vi phạm hành chính ở các địa phương trong từng lĩnh
vực cụ thể…
Các công trình nghiên cứu trên chỉ chủ yếu tập trung vào các vấn đề về
hoàn thiện pháp luật vi phạm hành chính, xử lý vi phạm hành chính, pháp luật
hải quan, pháp luật môi trường, pháp luật công thương, pháp luật trật tự đô
thị, quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với hoạt động hải quan, môi trường,
công thương, trật tự đô thị, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa trong lĩnh
vực xử lý vi phạm hành chính ở nước ta hiện nay và một số lĩnh vực công tác
cụ thể khác, chưa có đề tài nghiên cứu một cách tổng quan và đáng giá một
cách sâu sắc, cụ thể thực trạng, cũng như những ưu điểm, hạn chế, từ đó rút ra
những phương hướng và giải pháp hoàn thiện trong việc thực hiện quản lý

5



5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Luận văn được dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật lịch sử và duy
vật biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin, đường lối chủ trương của Đảng,
chính sách, pháp luật của Nhà nước về nhà nước, pháp luật, quản lý nhà nước
trên các lĩnh vực.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện luận văn học viên đã sử dụng các phương pháp nghiên
cứu cụ thể như: kết hợp lý luận với thực tiễn, phân tích và tổng hợp lịch sử cụ
thể. Ngoài ra, luận văn còn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu của một
số bộ môn khoa học khác như: phương pháp phân tích, thống kê.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
- Luận văn đã hệ thống hóa và làm rõ hơn những vấn đề lý luận quản lý
nhà nước về xử lý vi phạm hành chính;
- Luận văn đã phân tích, đánh giá được thực trạng quản lý nhà nước về
xử lý vi phạm hành chính từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Luận văn đã đề xuất được hệ thống giải pháp hoàn thiện quản lý nhà
nước về xử lý vi phạm hành chính từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam;
- Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể làm tài liệu tham khảo trong
học tập, nghiên cứu và hoạt động thực tiễn trong lĩnh vực luật hành chính và
quản lý công.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
có kết cấu gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận quản lý nhà nước về xử lý vi phạm


Hành vi, chế tài ít, chưa thống nhất, không nhất quán, rời rạc nhưng cơ
bản đáp ứng được yêu cầu quản lý xã hội giai đoạn hiện này [5].
1.1.2. Giai đoạn 1954 – 1989
Một số văn bản tiêu biểu đặc trưng trong giai đoạn này: Quyết định số
117/CP ngày 13/6/1972 ban hành Điều lệ lao động thời chiến (trong độ tuổi
lao động có sức lao động mà không chịu lao động, không có nghề nghiệp
chính đáng; Nghị định số 143/CP ngày 27/5/1977 ban hành Điều lệ xử phạt vi
cảnh (vi phạm vi cảnh), Nghị định số 46/HĐBT ngày 10/5/1983 của Hội đồng
Bộ trưởng (hành vi đầu cơ buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép...)

9


Chế tài xử lý: Đưa đi tập trung cải tạo theo thủ tục hành chính, xử phạt
hành chính, phê bình, phạt giam hành chính, phạt lao động công ích
Các văn bản quy định về xử lý vi phạm hành chính khá chặt chẽ, đầy
đủ, thống nhất hơn trước nhưng nhiều chế tài quá nghiêm khắc, “lấn sân”
sang cả hình sự, thẩm quyền quy định và hình thức văn bản cũng chưa nhất
quán thống nhất, chưa có văn bản điều chỉnh chung [5].
1.1.3. Giai đoạn 1989 - 2018
Một số văn bản tiêu biểu đặc trưng trong giai đoạn này: Pháp lệnh xử
phạt vi phạm hành chính 1989; Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính 1995;
Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính 2002; Pháp lệnh xử lý vi phạm hành
chính năm 2007; Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2008; Luật Xử lý
vi phạm hành chính năm 2012
Chế tài xử lý: cảnh cáo, phạt tiền (phạt chính); tước quyền sử dụng giấy
phép, tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm (bổ sung); buộc khôi phục lại
tình trạng ban đầu bị thay đổi bởi vi phạm hành chính gây ra, buộc tháo dỡ
công trình xây dựng trái phép (biện pháp khắc phục hậu quả)
Được ban hành đầu tiên từ năm 1989, từng bước được hoàn thiện qua

việc xử phạt vi phạm hành chính, áp dụng các biện pháp xử lý hành chính, thủ
tục, hình thức xử phạt vi phạm hành chính, các biện pháp xử lý hành chính
còn hạn chế, bộc lộ nhiều khiếm khuyết, bất cập, đã làm giảm hiệu lực và
hiệu quả của một công cụ pháp lý quan trọng – xử lý vi phạm hành chính – để
cùng với pháp luật hình sự góp phần đắc lực vào giữ gìn trật tự, kỷ cương
quản lý hành chính của nhà nước, giữ gìn an ninh, trật tự an toàn xã hội, bảo
vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân dân, đấu tranh phòng, chống hiệu
quả đối với vi phạm hành chính, tội phạm trong thời kỳ mới
Thứ hai, trong thời gian qua, để giải quyết sự “xơ cứng” trong cách quy
định về thẩm quyền, về mức xử phạt tối đa trong lĩnh vực quản lý nhà nước
tại Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính, đáp ứng kịp thời yêu cầu phát triển

11


của kinh tế - xã hội, nhiều văn bản luật chuyên ngành như: Luật Chứng
khoán, Luật Quản lý thuế, Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước
ngoài theo hợp đồng.v.v. đã trực tiếp quy định về hành vi vi phạm hành chính,
hình thức xử phạt thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính. Có thể nói rằng,
bên cạnh các điểm tích cực, thì các quy định này của các luật chuyên ngành
cùng với nhiều Nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính hiện hành đã
dẫn đến tình trạng thiếu thống nhất và chồng chéo trong hệ thống pháp luật,
tạo ra tình trạng khó kiểm soát về xử phạt vi phạm hành chính. Để góp phần
giải quyết cơ bản vấn đề này đòi hỏi phải có sự đổi mới trong việc quy định
về thẩm quyền, hình thức và thủ tục xử phạt vi phạm hành chính ở tầm một
đạo luật mang tính luật gốc nhằm bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất của hệ
thống pháp luật
Thứ ba, yêu cầu “thể chế kịp thời, đầy đủ, đúng đắn đường lối của
Đảng, cu thể hóa các quy định của Hiến pháp về xây dựng Nhà nước pháp
quyền xã họi chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân;

thế của Việt Nam được tăng cường hơn trong cộng đồng quốc tế.
Luật Xử lý vi phạm hành chính (XLVPHC) là một trong các đạo luật
quan trọng của Nhà nước ta. Luật quy định những vấn đề cơ bản về xử lý
hành chính. Mặc dù xử phạt vi phạm hành chính và các biện pháp xử lý hành
chính là hai nội dung tương đồng độc lập, có sự khác biệt về đối tượng bị xử
phạt, đối tượng bị áp dụng các biện pháp xử lý hành chính, về thẩm quyền,
thủ tục xử phạt cũng như thẩm quyền, thủ tục áp dụng các biện pháp xử lý vi
phạm hành chính. Sau khi thảo luận, cân nhắc kỹ, Quốc hội thấy rằng cần
thiết phải kế thừa Pháp lệnh XLVPHC, bao gồm xử phạt vi phạm hành chính
và áp dụng các biện pháp xử lý hành chính. Tuy nhiên, nội dung thuộc hai vấn
đề này được chỉnh sửa, bổ sung, hoàn thiện theo hướng nhằm đáp ứng hiệu
quả các yêu cầu của thực tiễn đấu tranh phòng, chống vi phạm hành chính và
bảo đảm tốt hơn nữa quyền, lợi ích hợp pháp của công dân đã được Hiến pháp

13


quy định.
Luật XLVPHC là Luật có nội dung điều chỉnh rộng, bao gồm các lĩnh
vực khác nhau của đời sống xã hội, nội dung lớn, phức tạp. Chính vì vậy,
Luật được bố cục thành 06 phần, 12 chương và 142 điều, bao gồm: Phần thứ
nhất về những vấn đề chung (từ Điều 1 đến Điều 20); Phần thứ hai quy định
về xử phạt vi phạm hành chính (gồm 03 chương, 68 điều, từ Điều 21 đến Điều
88); phần thứ ba quy định về áp dụng biện pháp xử lý hành chính (gồm 05
chương, 30 điều, từ Điều 89 đến Điều 118); Phần thứ tư quy định về các biện
pháp ngăn chặn và bảo đảm việc xử lý vi phạm hành chính (gồm 02 chương,
14 điều, từ Điều 119 đến Điều 132); Phần thứ năm quy định đối với người
chưa thành niên vi phạm hành chính (gồm 02 chương, 8 điều, từ Điều 133 đến
Điều 140) và Phần thứ sáu quy định về điều khoản thi hành (gồm 02 điều, từ
Điều 141 đến Điều 142).

lý hành chính; (9) Truy tìm đối tượng phải chấp hành quyết định đưa vào
trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện
bắt buộc trong trường hợp bỏ trốn.
- Phần thứ tư (về các quy định để xử lý đối với người chưa thành niên )
Khác với Pháp lệnh XLVPHC, Luật XLVPHC quy định nội dung này
thành một phần mới đưa ra những quy định đặc thù để người có thẩm quyền
ưu tiên xem xét trong quá trình xem xét ra quyết định xử lý vi phạm hành
chính đối với người chưa thành niên. Khi người chưa thành niên vi phạm
hành chính, họ không phải chịu các chế tài xử lý vi phạm hành chính với mức
độ tương tự như áp dụng đối với các hành vi vi phạm của người đã thành niên
thực hiện. Nội dung phần này quy định về nguyên tắc xử lý; việc áp dụng các
hình thức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả; áp dụng các biện pháp xử
lý hành chính; thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính và các
biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên
(Chương II, Phần thứ năm), trong đó, phần các biện pháp thay thế xử lý vi

15


phạm hành chính đối với người chưa thành niên như các biện pháp nhắc nhở
(Điều 39), quản lý tại gia đình (Điều 140) là những biện pháp hoàn toàn mới
so với Pháp lệnh XLVPHC năm 2002.
- Nghị quyết số 24/2012/QH13 ngày 20/6/2012 của Quốc hội về việc
thi hành Luật XLVPHC: Mặc dù Luật XLVPHC có phạm vi điều chỉnh rộng,
nội dung phức tạp nhưng Luật có nhiều quy định mang tính nhân đạo, thể
hiện quan điểm của Đảng về cải cách Tư pháp, cải cách pháp luật, bảo vệ
quyền con người, có lợi cho người vi phạm, nhiều quy định mang tính chuyển
tiếp cần phải được tuân thủ chặt chẽ khi áp dụng. Xuất phát từ ý nghĩa, tầm
quan trọng và đặc điểm, dặc thù của Luật XLVPHC, cùng ngày thông qua
Luật XLVPHC ngày 20/6/2012, quốc hội cũng đã ban hành Nghị quyết số

- Không áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở
giáo dục, đưa vào cơ sở chữa bệnh đối với người đang mang thai có chứng
nhận của bệnh viện; phụ nữ hoặc người duy nhất đang nuôi con nhỏ dưới 36
tháng tuổi được UBND cấp xã nơi người có cư trú xác nhận.
- Các đối tượng vừa nêu trên đang trong quá trình lập hồ sơ đề nghị áp
dụng biện pháp xử lý hành chính tương ứng thì không tiếp tục lập hồ xem xét,
áp dụng. Trường hợp đã có quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính
tương ứng đối với đối tượng vừa nêu nhưng chưa thi hành hoặc được hoãn thi
hành thì không phải thi hành; trường hợp đang thi hành hoặc đang được đình
chỉ thi hành thì không phải chấp hành phần thời gian còn lại. Trường hợp
được miễn chấp hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính, miễn
chấp hành phần thời gian còn lại của quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành
chính tương ứng đối với đối tượng vừa nêu nói trên thì được coi là chưa bị áp
dụng biện pháp xử lý hành chính.
- Đối với các hành vi vi phạm hành chính xảy ra trước ngày 01/7/2013
thì áp dụng các quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính để xử lý như sau:
+ Các quy định về xử phạt, quy định về hoãn, miễn thi hành quyết định
xử phạt và các quy định về xử phạt khác có lợi cho cá nhân, tổ chức vi phạm

17


hành chính được áp dụng đối với hành vi xảy ra trước thời điểm này mà sau
đó mới bị phát hiện hoặc đang xem xét, giải quyết;
+ Các quy định về thủ tục áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường,
thị trấn có lợi cho cá nhân có hành vi vi phạm xảy ra trước thời điểm này mà
sau đó mới bị phát hiện hoặc đang xem xét, giải quyết.
- Đối với quyết định xử phạt vi phạm hành chính, quyết định áp dụng
biện pháp xử lý hành chính đã được ban hành hoặc đã được thi hành xong
trước thời điểm Luật XLVPHC có hiệu lực thi hành, mà cá nhân, tổ chức bị

thường vụ Quốc hội ban hành thì các văn bản pháp luật chỉ đề cập đến khái
niệm “vi cảnh”. Khái niệm này chính thức được sử dụng trong “Điều lệ xử
phạt vi cảnh” ban hành kèm theo Nghị định số 143/CP của Hội đồng Chính
phủ ngày 27/5/1977. Theo quy định của Điều lệ xử phạt vi cảnh thì tất cả
những hành vi xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội mà có tính chất đơn giản,
rõ ràng và hậu quả không nghiêm trọng, chưa đến mức truy cứu trách nhiệm
hình sự hoặc áp dụng các biện pháp hành chính khác là phạm pháp vi cảnh.
Cũng theo quy định của Điều lệ xử phạt vi cảnh thì có 04 hình thức xử phạt vi
cảnh, đó là: cảnh cáo; phạt tiền từ 01 đến 10 đồng; phạt lao động công ích từ
01 đến 03 ngày; phạt giam từ 01 đến 03 ngày. Bên cạnh đó, Điều lệ xử phạt vi
cảnh cũng quy định tịch thu phương tiện dùng vào việc vi phạm tuỳ theo tính
chất, mức độ của vi phạm; quy định thẩm quyền xử phạt với hình thức phạt
cảnh cáo, phạt tiền cho cán bộ có thẩm quyền của các ngành Kiểm lâm, Thuỷ
sản, Thương nghiệp, Y tế, Giao thông vận tải... trong khi thừa hành công vụ
ngoài lực lượng cán bộ, chiến sĩ Công an là lực lượng có thẩm quyền áp dụng
tất cả các hình thức xử phạt mà Điều lệ xử phạt vi cảnh quy định. Về sau,
trong các văn bản pháp luật do Nhà nước ta ban hành, khái niệm “vi cảnh”
được hiểu rộng hơn, không chỉ là những vi phạm luật lệ sinh hoạt nơi công
cộng mà được hiểu là những vi phạm nhỏ chưa đến mức truy cứu trách nhiệm
hình sự. Điều 2 của Điều lệ về phạt vi cảnh nói trên định nghĩa: “những hành

19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status