Triển khai mô hình gây độc tế bào gan bằng ethanol trên động vật thực nghiệm và áp dụng đánh giá tác dụng của me rừng - Pdf 56

BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI

TRẦN THẢO HƯƠNG

TRIỂN KHAI MÔ HÌNH GÂY ĐỘC
TẾ BÀO GAN BẰNG ETHANOL
TRÊN ĐỘNG VẬT THỰC NGHIỆM VÀ
ÁP DỤNG ĐÁNH GIÁ TÁC DỤNG
CỦA ME RỪNG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƯỢC SĨ

HÀ NỘI - 2019


BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI

TRẦN THẢO HƯƠNG
MÃ SINH VIÊN: 1401310

TRIỂN KHAI MÔ HÌNH GÂY ĐỘC
TẾ BÀO GAN BẰNG ETHANOL
TRÊN ĐỘNG VẬT THỰC NGHIỆM VÀ
ÁP DỤNG ĐÁNH GIÁ TÁC DỤNG
CỦA ME RỪNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƯỢC SĨ
Người hướng dẫn:
1. PGS. TS. Nguyễn Thùy Dương
2. ThS. Ngô Thanh Hoa


Trần Thảo Hương


MỤC LỤC
DANH MỤC KÍ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ
ĐẶT VẤN ĐỀ ............................................................................................................ 1
TỔNG QUAN ...................................................................................... 3
1.1. Bệnh gan do rượu.................................................................................................. 3
1.1.1. Định nghĩa ......................................................................................................... 3
1.1.2. Dịch tễ ............................................................................................................... 3
1.1.3. Cơ chế bệnh sinh của bệnh gan do rượu ............................................................. 3
1.1.4. Các giai đoạn của bệnh gan do rượu ................................................................... 6
1.1.5. Điều trị bệnh gan do rượu .................................................................................. 7
1.2. Các mô hình gây độc tế bào gan bằng ethanol trên thực nghiệm............................ 8
1.2.1. Mô hình gây độc tế bào gan cấp bằng ethanol .................................................... 8
1.2.2. Mô hình gây độc tế bào gan mạn bằng ethanol ................................................. 11
1.3. Thông tin về dược liệu Me rừng .......................................................................... 14
1.3.1. Đặc điểm thực vật ............................................................................................ 14
1.3.2. Phân bố và bộ phận dùng ................................................................................. 14
1.3.3. Thành phần hóa học của Me rừng .................................................................... 15
1.3.4. Tác dụng dược lý của Me rừng......................................................................... 15
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ...................... 18
2.1. Nguyên vật liệu, thiết bị nghiên cứu .................................................................... 18
2.1.1. Nguyên liệu nghiên cứu ................................................................................... 18
2.1.2. Động vật thí nghiệm ......................................................................................... 19
2.1.3. Hóa chất, thuốc thử, thiết bị nghiên cứu ........................................................... 19
2.2. Nội dung và thiết kế nghiên cứu .......................................................................... 19

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ................................................................................. 50
TÀI LIỆU THAM KHẢO


DANH MỤC KÍ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
ADH

Alcohol dehydrogenase

ALDH

Aldehyd dehydrogenase

ALP

Alkalin phosphatase

ALAT

Alanin aminotransferase

ASAT

Aspartat transaminase

CRP

C-reactive protein

CYP2E1


LDL

Low-density lipoprotein

MDA

Malondialdehyd

NBT

Nitrotetrazolium clorid

ROS

Reactive oxygen species

SOD

Superoxid dismutase

TNF-α

Tumor necrosis factor alpha

TG

Triglycerid

TBA

3

Bảng 3.2

Ảnh hưởng của ethanol đến hình ảnh vi thể gan
trên mô hình gây độc tế bào gan cấp

31

Ảnh hưởng của ethanol đến hàm lượng MDA,
4

Bảng 3.3

GSH, SOD trong gan trên mô hình gây độc tế

33

bào gan mạn
5

Bảng 3.4

Ảnh hưởng của ethanol đến hình ảnh vi thể gan
trên mô hình gây độc gan mạn

34

Ảnh hưởng của cao định chuẩn quả me rừng đến
6

6

3

Hình 2.1

Sơ đồ thiết kế nghiên cứu

20

4

Hình 2.2

5

Hình 2.3

Thiết kế nghiên cứu triển khai mô hình gây độc tế bào
gan cấp bằng ethanol
Thiết kế nghiên cứu triển khai mô hình gây độc tế bào
gan mạn bằng ethanol

Trang

21

22

Thiết kế nghiên cứu đánh giá tác dụng bảo vệ gan của


27

10

Hình 3.1

11

Hình 3.2

Ảnh hưởng của ethanol đến hoạt độ ASAT và ALAT
trong huyết thanh trên mô hình gây độc tế bào gan cấp
Ảnh hưởng của ethanol đến hoạt độ ASAT và ALAT
trong huyết thanh trên mô hình gây độc tế bào gan mạn

29

32

Ảnh hưởng của cao định chuẩn quả Me rừng đến hoạt độ
12

Hình 3.3

ASAT và ALAT trong huyết thanh trên mô hình gây độc

35

tế bào gan cấp bằng ethanol


ĐẶT VẤN ĐỀ
Rượu là nguyên nhân phổ biến nhất gây ra bệnh gan mạn tính trên thế giới và dẫn
đến hơn 50% ca tiến triển xơ gan tử vong, 4-25% ca tiến triển ung thư gan… [10]. Đi
cùng với sự phát trển của nền kinh tế, mức độ tiêu thụ rượu gia tăng ở các nước châu Á
làm tăng tỷ lệ mắc bệnh gan do rượu. Bệnh gan do rượu bao gồm các thay đổi bệnh lý
từ nhiễm mỡ đến viêm gan và xơ gan liên quan đến việc sử dụng rượu [44]. Mặc dù
bệnh gan do rượu gây ra những ảnh hưởng lớn đối với sức khỏe và gánh nặng bệnh tật
cho toàn xã hội nhưng phương pháp điều trị vẫn còn hạn chế. Do đó, trong những năm
gần đây, các hướng nghiên cứu về các dược liệu có tác dụng điều trị bệnh gan do rượu
ngày càng phát triển [24].
Dựa trên kinh nghiệm dân gian, nhiều dược liệu đã được đưa vào đánh giá tác dụng
trong điều trị bệnh gan do rượu và thu được những kết quả khả quan như: sắn dây
(Pueraria lobate), nghệ (Curcuma longa), giần sàng (Cnidium monnieri), me rừng
(Phyllanthus emblica)… [17], [24], [77]. Đặc biệt, me rừng là nguồn dược liệu quan
trọng và đã có nhiều nghiên cứu đánh giá tác dụng bảo vệ gan trên các mô hình sử dụng
các tác nhân khác nhau: ethanol, carbon tetrachlorid (CCl4), paracetamol, arsen,
cadmium ... [17], [18], [33], [62], [77]. Ở Việt Nam, me rừng là loài cây phân bố rộng
khắp và sử dụng phổ biến trong dân gian để điều trị bệnh gan do rượu song chưa có
nghiên cứu đầy đủ nhằm đánh giá tác dụng bảo vệ gan của me rừng đối với tổn thương
do rượu.
Để bước đầu đánh giá hiệu quả của me rừng cũng như các dược liệu tiềm năng
trong điều trị bệnh gan do rượu, trước tiên cần xây dựng được mô hình động vật thực
nghiệm tin cậy, mô phỏng được bệnh gan do rượu ở người và phù hợp với điều kiện của
Việt Nam. Trên thế giới, mô hình gây độc tế bào gan bằng ethanol đã được triển khai
khá phổ biến. Tuy nhiên, giữa các nghiên cứu vẫn còn tồn tại một số điểm chưa thống
nhất và các kết quả đã ghi nhận có sự khác biệt. Liều và thời gian gây độc là 2 yếu tố
chính ảnh hưởng đến các thông số phản ánh mức độ tổn thương gan [28], [51], [86]. Bên
cạnh đó, đường dùng ảnh hưởng đến khả năng hấp thu của ethanol cũng như thay đổi
nồng độ ethanol trong máu làm ảnh hưởng đến mức độ tổn thương gan. Trong các mô

2 lần ở nam giới. Tuy nhiên, trên thực tế lượng rượu tiêu thụ ở nam giới nhiều hơn ở nữ
nên tỷ lệ bệnh gan do rượu ở nam gấp 9 lần ở nữ [16], [47]. Nguy cơ mắc bệnh gan do
rượu tăng ở những người gốc Tây Ban Nha có kiểu gen PNPLA3 (patatin like
phospholipase domain–containing protein 3) [16], [64], [71]. Người béo phì và có chế
độ ăn giàu chất béo có nguy cơ cao mắc bệnh gan do rượu. Ngoài ra, lượng rượu tiêu
thụ là yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến sự phát triển bệnh gan do rượu. Ở nam, tiêu
thụ 40-60g ethanol/ngày gây ra gan nhiễm mỡ, tiêu thụ 160g ethanol/ngày trong 10-20
năm dẫn đến viêm gan và xơ gan do rượu [47]. Các bệnh mắc kèm: viêm gan B, C; gan
nhiễm mỡ không do rượu sẽ đẩy nhanh tiến triển của bệnh gan do rượu. Ở người mắc
viêm gan C, lạm dụng rượu làm tăng 30 lần nguy cơ tiến triển thành xơ gan [64].
Ở Việt Nam chưa có nghiên cứu về tỷ lệ mắc bệnh gan do rượu. Tuy nhiên, theo
báo cáo của WHO năm 2014, mức độ tiêu thụ rượu ở Việt Nam tương đối cao 7,2
lít/người/năm [83]. Năm 2012, ước tính có khoảng 71,7% xơ gan ở nam và 33,7% xơ
gan ở nữ liên quan đến rượu bia [2].
1.1.3. Cơ chế bệnh sinh của bệnh gan do rượu
Từ nhiều thập kỷ trước, cơ chế bệnh sinh của bệnh gan do rượu đã được nghiên
cứu song quan điểm của các tác giả chưa có sự thống nhất với nhau. Trong giai đoạn
đầu, có quan điểm cho rằng ethanol không gây độc trực tiếp đối với tế bào gan mà
3


nguyên nhân chủ yếu là do rối loạn chế độ ăn uống và suy dinh dưỡng. Năm 1973, lần
đầu tiên Rubin và Lieber đã chứng minh ethanol gây tổn thương trực tiếp tế bào gan dựa
trên mô hình gây độc gan bằng ethanol ở khỉ đầu chó với chế độ ăn uống dinh dưỡng
đầy đủ. Kể từ đó, nhiều nghiên cứu đã cho thấy quá trình chuyển hóa ethanol gây stress
oxy hóa, thiếu oxy cho tế bào gan đồng thời kích hoạt tế bào Kupffer, đại thực bào sản
xuất các cytokin gây viêm [73].
1.1.3.1. Tăng sản xuất các gốc tự do và gây stress oxy hóa
Ethanol được hấp thu một phần bởi dạ dày và chủ yếu tại ruột non, sau đó được
chuyển đến gan qua tĩnh mạch cửa [73]. Tại gan, 70% lượng ethanol hấp thu được

1.1.3.2. Thiếu oxy
Quá trình chuyển hóa ethanol diễn ra ở trung tâm tiểu thùy và cần tiêu thụ một
lượng lớn oxy, gây thiếu oxy tương đối cho khu vực này. Bên cạnh đó, ethanol còn gây
co mạch do tác động vào 2 yếu tố vận mạch endothelin-1 và nitric oxid (NO), kết quả
làm trầm trọng hơn nữa tình trạng thiếu oxy gây hoại tử tế bào trung tâm tiểu thùy gan
[73].
1.1.3.3. Tăng sản xuất các cytokin
Việc sử dụng ethanol làm thay đổi hệ vi sinh đường ruột dẫn đến tăng sản xuất
nội độc tố lypopolysaccarid. Nội độc tố này được vận chuyển đến gan và kích hoạt tế
bào Kupffer và đại thực bào tiết ra nhiều các cytokin gây viêm, như TNF-α, interleukin6 (IL-6)..., thay đổi yếu tố tăng trưởng β, thúc đẩy hơn nữa viêm gan [48]. TNF-α là chất
cảm ứng tế bào chết theo chu trình (apotosis) đồng thời đóng vai trò quan trọng kích
thích sự trưởng thành của yếu tố điều hòa sterol gắn protein-1 (SREBP1- sterol
regulatory element binding protein-1) trong tế bào gan người, làm tăng tổng hợp lipid
trong gan. Vai trò của IL-6 chưa rõ ràng: có nghiên cứu cho rằng IL-6 thúc đẩy quá trình
phát triển gan nhiễm mỡ nhưng cũng có nghiên cứu đưa ra IL-6 giúp tái tạo tế bào gan
và phục hồi tổn thương gan cấp tính và bệnh gan do rượu. Ngoài ra, các cytokin và
lypopolysaccarid cũng kích hoạt các tế bào hình sao ở gan sản suất collagen và sợi actin
cơ trơn làm phát triển xơ hóa [73].
Cơ chế hình thành bệnh gan do rượu được thể hiện hình 1.2 [73] (trang bên).

5


Ethanol

Nội độc tố
Kupffer, đại thực bảo

Thiếu oxy


da. Trong trường hợp viêm gan do rượu ở mức độ nặng sẽ xuất hiện các triệu chứng: cổ
6


chướng, lách to, yếu cơ, bệnh não gan và xuất huyết tiêu hóa [50]. Đặc điểm mô học đặc
trưng của viêm gan do rượu bao gồm nhiễm mỡ, thâm nhiễm tiểu thùy của bạch cầu đa
nhân trung tính trong tế bào gan bị phá hủy, ứ đọng bilirubin [71]. Đối với bệnh nhân
viêm gan, ASAT và ALAT thường tăng cao từ 2-7 lần [47] trong đó ASAT tăng cao
hơn so với ALAT, tỷ lệ ASAT/ALAT thường lớn hơn 2 [50].
 Xơ gan
Sử dụng rượu mạn tính có thể tạo ra xơ hóa và có thể kèm theo hoại tử. Xơ hóa có
thể ở trung tâm tiểu thùy, quanh tế bào, hoặc quanh tĩnh mạch cửa. Khi xơ hóa đến một
mức độ nhất định sẽ phá vỡ cấu trúc gan bình thường và thay bằng nốt tái sinh [11].
Khám thực thể phát hiện gan to và cứng, bề mặt có nốt. Xơ gan có 2 giai đoạn: xơ gan
còn bù và xơ gan mất bù. Triệu chứng thường thấy ở xơ gan còn bù xuất hiện là chán
ăn, buồn nôn, sụt cân, mệt mỏi. Giai đoạn xơ gan mất bù xuất hiện các triệu chứng: vàng
da, ngứa, phù, cổ chướng, dễ bầm tím, chảy máu, sao mạch, ban đỏ lòng bàn tay [50].
1.1.5. Điều trị bệnh gan do rượu
- Kiêng rượu hoàn toàn là nền tảng trong điều trị bệnh gan do rượu, giúp cải thiện
và có thể đảo ngược các tổn thương mô bệnh học [47]. Suy dinh dưỡng thường phổ biến
nên cần xem xét để bổ sung đủ lượng calo. Vitamin B1 và các vitamin nhóm B khác
cũng cần được chú ý bổ sung [71].
- Glucocorticoid: cơ chế bệnh gan do rượu liên quan đến việc giải phóng cytokin
và duy trì tổn thương bằng các quá trình miễn dịch, vì thế glucocorticoid thường được
sử dụng trong điều trị. Có thể dùng prednison 40 mg/ngày hoặc prednisolon 32 mg/ngày
trong 4 tuần [11], [47].
- Kháng TNF-α, pentoxifyllin đã được chứng minh có hiệu quả trong điều trị viêm
gan do rượu nặng, chủ yếu làm giảm hội chứng gan thận [47], làm giảm TNF-α và các
cytokin tiền viêm khác.
- N-acetylcystein phục hồi glutathion do đó hạn chế stress oxy hóa [78].

trong 12 giờ và sau đó là 1 liều 1.75g/kg tiêm tĩnh mạch. Có nhiều thời điểm lấy mẫu
để định lượng các thông số là 2 giờ, 4 giờ, 6 giờ, 9 giờ, 12 giờ sau liều gây độc cuối
cùng. Đa số các nghiên cứu tiến hành lấy mấu để định lượng sau 4 giờ hoặc 6 giờ [37],
[81], [87], [91], [92].
Carson and Pruett tiến hành thử nghiệm trên chuột nhắt với 1 liều 7g/kg ethanol
32%, hoạt độ ALAT trong huyết thanh thay đổi qua các thời điểm: sau 4 giờ là 116 U/L,
sau 12 giờ là 74 U/L, sau 24 giờ là 31 U/L, sau 72 giờ là 32 U/L. Như vậy, 4 giờ sau khi
cho uống 1 liều ethanol, nồng độ ALAT huyết thanh đạt cao nhất [15].
Đặc điểm của mô hình này tạo được nồng độ ethanol trong máu cao, gây stress oxy
hóa, phản ứng viêm, làm suy giảm chức năng của ty thể. Gan phải chuyển hóa nhiều
8


ethanol, gây tiêu thụ nhiều oxy dẫn đến thiếu oxy ở vùng trung tâm tiểu thùy, thay đổi
quá trình chuyển hóa của glucose/lipid, kích hoạt tế bào Kupffer sản xuất cytokin,
prostaglandin và gây tổn thương tế bào gan [51], [86].
Một số điều kiện tiến hành mô hình gây độc tế bào gan cấp bằng ethanol trong các
nghiên cứu trong và ngoài nước được trình bày trong bảng 1.1 dưới đây.
Bảng 1.1. Một số điều kiện tiến hành mô hình gây độc gan cấp bằng ethanol
Năm, tác

Điều kiện tiến

giả, TLTK

hành

Thời
điểm lấy



Yi, [91]

50%, chuột nhịn

- MDA, GSH, SOD, GSH-Px,

đói 16-18 giờ sau

catalase trong gan;

khi uống EtOH

- Tiêu bản mô bệnh học.

2018, Rui

1 liều 7g/kg,

16 giờ

- ASAT, ALAT, cholesterol, TG,

Liu, [46]

Ethanol 50%;

HDL, LDL huyết thanh;

chuột nhịn đói sau


3 liều 5g/kg, cách

Zhenyuan

nhau mỗi 12 giờ

4 giờ

- ALAT huyết thanh;
- MDA, GSH, TG, hoạt tính
CYP2E1, TNF-α trong gan;

Song, [72]

- Tiêu bản mô bệnh học.

9


2007,

3 liều 5g/kg, cách

4 giờ

- ASAT, ALAT, cytokin, CRP

Sheng-Lei



3 liều 5g/kg, cách

Phương, [5]

nhau mỗi 12 giờ,

- MDA, GSH trong gan;

EtOH 40%

- Tiêu bản mô bệnh học.

4giờ

6giờ

- ALAT huyết thanh;

- ASAT, ALAT huyết thanh;

2014, Seval

3 liều 5g/kg, cách

- ASAT, ALAT huyết thanh;

Develi, [21]

nhau mỗi 12 giờ,


nhau mỗi 12 giờ,

- MDA, SOD, GSH, TG trong gan;

Yimam,

EtOH 50%; chuột

- Tiêu bản mô bệnh học.

[92]

nhịn đói sau liều

12giờ

- ASAT, ALAT huyết thanh;

- ASAT, ALAT, TG huyết thanh;

EtOH cuối cùng
4 liều cao ethanol
4giờ

- Nồng độ EtOH, ASAT, ALAT,

2016,

4 liều 5g/kg, cách

từ 10% - 40% và động vật uống nước có chứa ethanol theo nhu cầu. Thời gian gây độc
có thể kéo dài từ 8 tuần đến tối đa là 70 tuần [51].
Cho đến nay, mô hình này đã được triển khai và ghi nhận các kết quả khác nhau
tùy thuộc vào nồng độ ethanol và thời gian gây độc. Theo nghiên cứu của Bradon và
cộng sự, ethanol có nồng độ từ 5-20% được cho uống trong 8 tuần và đạt được nồng độ
ethanol trong máu từ 50-70 mg/dL, gan nhiễm mỡ nhẹ [14]. Trong một nghiên cứu khác,
chuột uống ethanol 40% trong 29 tuần cho nồng độ ethanol trong máu đạt 90 mg/dL,
phát triển nhẹ gan nhiễm mỡ và xơ hóa [32].
Mô hình này đơn giản và dễ thực hiện. Tuy nhiên, động vật thường có ác cảm tự
nhiên với đồ uống chứa cồn dẫn đến hạn chế uống nước, gây mất nước; nồng độ ethanol
đạt được trong máu thấp khó gây ra tổn thương gan đáng kể, dinh dưỡng không đầy đủ
[51].
 Chế độ ăn uống lỏng có chứa ethanol
Mô hình được đưa ra lần đầu tiên vào năm 1963 do Lieber và cộng sự thực hiện.
Theo đó, chuột được nuôi bằng chế độ ăn lỏng tiêu chuẩn có lượng calo từ 0,6 -1 calo/ml.
Lượng calo do các thành phần trong thức ăn cung cấp gồm: casein (methionin, cystin)
cung cấp 18% tổng lượng calo, chất béo cung cấp 35% tổng lượng calo, ngoài ra còn có
các vitamin tan trong dầu (A, D, K, E), vitamin B12, khoáng chất và chất xơ. Lượng
ethanol thay đổi từ 0-50 g/L. Thời gian gây độc khác nhau tùy loài, với chuột nhắt
khoảng 4-12 tuần, chuột cống từ 1-9 tháng [40].
Năm 1975, nghiên cứu của Lieber và cộng sự tiến hành trên khỉ đầu chó với chế
độ ăn uống lỏng có chứa ethanol cho thấy tổn thương gan nghiêm trọng: viêm, xơ hóa
và xơ gan [45]. Tuy nhiên, một số nghiên cứu khác tiến hành với một số loài động vật
gặm nhấm trong thời gian 10 tuần hay 9 tháng chỉ xuất hiện gan nhiễm mỡ nhẹ [86].
Mô hình này khắc phục được nhược điểm về sự ác cảm tự nhiên của động vật với
ethanol, lượng ethanol tiêu thụ hàng ngày khá cao từ 12-18 g/kg, nồng độ ethanol trong
11


máu dễ đạt được ở mức độ cao dao động từ 100-150 mg/dL. Vì vậy, hoạt độ ASAT và

theo, ethanol 52% với liều 5g/kg/ngày trong ngày cuối cùng. Kết quả nghiên cứu cho
12


thấy hoạt độ ASAT, ALAT huyết thanh, hàm lượng TG, MDA trong gan tăng cao, hàm
lượng SOD, catalase giảm nhẹ. Kết quả mô bệnh học xuất hiện nhiễm mỡ trong gan [95],
[98].
Mô hình tương đối đơn giản và dễ thực hiện [86], không cần điều chỉnh thành phần
của chế độ ăn uống cho chuột, đặc biệt mô phỏng tốt hơn việc uống rượu ở người. Do ở
người, việc uống rượu thường diễn ra cấp tính trong vòng vài giờ hay vài ngày; hoặc
mạn tính trong nhiều năm. Song việc uống rượu của người không diễn ra một cách liên
lục như mô hình sử dụng chế độ ăn uống lỏng có chứa ethanol, mô hình truyền chế độ
ăn uống lỏng chứa ethanol vào dạ dày[95].
 Chế độ ăn uống lỏng kết hợp với liều cao ethanol
Ở mô hình này chuột được nuôi bằng chế độ ăn uống lỏng trong một thời gian dài
sau đó sẽ được cho uống đơn liều hoặc đa liều cao ethanol. Thời gian gây độc có thể kéo
dài từ 8-12 tuần [51].
Nhiều nhóm tác giả thực hiện thay đổi liều và thời gian gây độc gây ra những mức
độ tổn thương khác nhau. Năm 2010, một nhóm nhiên cứu đã sử dụng chế độ ăn liquid
diet có chứa 5% ethanol trong 10 ngày. Ngày thứ 11, chuột được cho uống thêm 1 liều
ethanol 5g/kg. Nghiên cứu cho thấy nồng độ ethanol trong máu cao, tổn thương gan ở
mức độ nhiễm mỡ và viêm [34]. Một nghiên cứu khác tiến hành với chế độ ăn uống lỏng
có chứa nồng độ ethanol thay đổi từ 1,25-5% trong 4 tuần kết hợp với 3 liều ethanol
5g/kg mỗi 12 giờ. Mô hình tạo hoạt độ ALAT tăng cao, gan nhễm mỡ nhiều, viêm và
thâm nhiễm bạch cầu đa nhân trung tính [8].
Mô hình khắc phục được nhược điểm về sự ác cảm tự nhiên của động vật với rượu,
tổn thương nhiều hơn so với mô hình sử dụng chế độ ăn uống lỏng có chứa ethanol. Tuy
nhiên, tổn thương chỉ xảy ra trong một thời gian ngắn và vẫn cần phải dùng chế độ ăn
uống lỏng thương mại. Chi phí nghiên cứu cao tương tự như mô hình sử dụng chế độ ăn
uống lỏng chứa ethanol.

gồm hầu hết các nước có khí hậu nhiệt đới ở Nam Á và Đông Nam Á như: Ấn Độ,
Malaysia, Lào, Campuchia, Thái Lan, Việt Nam và ở vùng Nam Trung Quốc [1], [25].
Ở Việt Nam, cây mọc phổ biến trên các đồi trọc, các bãi hoang, trong các rừng
thưa, khắp các vùng núi (dưới 1000 m) và trung du thuộc nhiều tỉnh từ Bắc vào Nam,
nhất là các tỉnh miền núi trung du phía Bắc. Cây ưa ánh sáng, chịu được khô hạn và có
thể sống trên nhiều loại đất, kể cả vùng đất đồi khô cằn, đất nhiều sỏi đá và nghèo dinh
dưỡng. Cây rụng lá vào mùa đông. Sau mùa ra lá non mới đến mùa hoa, số lượng quả
trên một cây khá nhiều, tái sinh tự nhiên bằng hạt [1].
Nhiều bộ phận của cây Me rừng như: quả, rễ, lá và vỏ cây đều được sử dụng trong
dân gian để chữa bệnh. Trong đó, quả là bộ phận hay được sử dụng nhất [1].

14


1.3.3. Thành phần hóa học của Me rừng
Me rừng đã được nghiên cứu rộng rãi trên thế giới về thành phần hóa học. Trong
số các hợp chất đã được phân lập có thể chia thành các nhóm hợp chất chính sau:
+ Hợp chất tannin: 1,6-di-O-galloyl-β-D-glucose, 1,2,4,6-tetra-O-galloyl-β-Dglucose, acid gallic, acid chebulinic, methyl gallat, phyllacmnlicin B, phyllacmblicin C,
chebulanin, corilagin, emblicanin A…[93], [94].
+ Hợp chất flavonoid: kaempferol, kaempferol3-O-β-D-glucopyranosid, dihydrokaempferol, mericetin 3-O-α-D-rhamnosid, naringenin, lupeol…[94].
+ Các acid hữu cơ: acid aspartic, acid ellagic, acid ascorbic, acid mucic [89].
Ở Việt Nam, Me rừng đã được phân lập các thành phần hóa học gồm: quercetin,
acid gallic và methyl gallat [6].
1.3.4. Tác dụng dược lý của Me rừng
Theo y học cổ truyền, Me rừng được sử dụng rộng rãi với các tác dụng khác nhau
như: hạ sốt, giảm đau, hạ đường huyết, chống xơ vữa động mạch, bảo vệ gan. Bên cạnh
đó, nhiều nghiên cứu đã tìm ra một số thành phần có tác dụng dược lý như: acid gallic,
acid ellagic, quercetin và corillagin, emblicanin A, emblicanin B… Sau đây là một số
tác dụng dược lý của Me rừng đã được nghiên cứu.
 Tác dụng bảo vệ gan

Trong nhiều nghiên cứu, Me rừng đã được chứng minh có tác dụng thu dọn các
gốc tự do của như: DPPH, O2-, OH-, NO, ABTS, H2O2 [17], [38], [53], [57], ức chế quá
trình oxy hóa LDL [38] và DNA [39]. Me rừng cũng được chứng minh làm tăng các
chất chống oxy hóa nội sinh: SOD, catalase, GSH-Px [61]. Một số hoạt chất: acid gallic,
furosin, acid ellagic, emblicanin A, emblicanin B, methyl gallat, corilagin và geraniin
cũng có tác dụng thu gọn gốc tự do rất tốt [77]. Ở Việt Nam, cao định chuẩn quả Me
rừng đã được chứng minh hiệu quả trong việc thu dọn gốc tự do: DPPH, superoxid trên
mô hình in vitro và in vivo [4]. Bên cạnh đó, nhiều nghiên cứu cũng chỉ ra quercetin,
acid gallic, corilagin và acid ellagic là các thành phần chính trong Me rừng có tác dụng
bảo vệ gan dựa vào cơ chế thu dọn gốc tự do và chống oxy hóa [77].
 Tác dụng chống viêm và ức chế miễn dịch
Mathurathan và cộng sự đã nghiên cứu tác dụng chống viêm của các hợp chất
phenolic của Me rừng trên mô hình gây viêm cấp bằng phù chân chuột bằng carrageenan
và gây viêm mạn bằng u hạt trên chuột. Trên cả mô hình viêm cấp và viêm mạn, các
hợp chất phenolic đều làm giảm viêm [52]. Dịch chiết quả Me rừng có tác dụng ức chế
miễn dịch trong mô hình gây viêm khớp bằng chất bổ trợ (AIA) [26]. Sai Ram cũng
khẳng định Me rừng làm giảm quá trình chết tế bào theo chu trình và phân hủy ADN
gây ra bởi crom đồng thời giảm tác dụng ức chế của crom trên sự tăng sinh của tế bào
lympho [66].
16


 Tác dụng ức chế tế bào ung thư
Me rừng có tác dụng chống ung thư mạnh chủ yếu liên quan đến tanin và flavonoid
[97]. Cơ chế chống ung thư của Me rừng bao gồm: thu dọn các gốc tự do, giảm nồng độ
omithin dercarboxylase, tăng nồng độ enzym chống oxy hóa, điều hòa miễn dịch, điều
chỉnh mức protein tế bào, gây ra chết tế bào theo chu trình của các tế bào ung thư, ngăn
ngừa di căn [22], [23], [58], [59]. Me rừng có tác dụng ức chế giữa các dòng ung thư
khác nhau như ung thư dòng tế bào biểu mô gan người HepG2, tế bào ung thư phổi
A549 trên in vitro [58], tế bào buồng trứng chuột lang [74].


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status