BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
VŨ THỊ HUẾ
BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƢỜI CỦA BỊ CÁO
TRONG XÉT XỬ VỤ ÁN HÌNH SỰ
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
(Định hƣớng nghiên cứu/ứng dụng)
HÀ NỘI – 2018
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
VŨ THỊ HUẾ
BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƢỜI CỦA BỊ CÁO
TRONG XÉT XỬ VỤ ÁN HÌNH SỰ
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 8380104
quản lý đào tạo, cung cấp thông tin cần thiết về quy chế đào tạo cũng như
chương trình đào tạo một cách kịp thời, tạo điều kiện giúp tôi hoàn thành luận
văn này đúng tiến độ.
Cảm ơn gia đình, bạn bè đã động viên giúp đỡ tôi trong suốt thời gian
học tập.
Đặc biệt, tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Đức Phúc
đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện luận
văn./.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Vũ Thị Huế
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BLHS
TTHS
Bộ luật hình sự
:
:
Tố tụng hình sự
BLTTHS :
Bộ luật tố tụng hình sự
TAND
:
Cơ quan điều tra
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
PHẦN MỞ ĐẦU .............................................................................................. 1
Chƣơng 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƢỜI
CỦA BỊ CÁO TRONG XÉT XỬ VỤ ÁN HÌNH SỰ ................................... 7
1.1. Khái niệm, đặc điểm quyền con ngƣời của bị cáo trong xét xử vụ án
hình sự .............................................................................................................. 7
1.2. Khái niệm, đặc điểm, nội dung, phƣơng pháp bảo đảm quyền con
ngƣời của bị cáo trong xét xử vụ án hình sự .............................................. 12
1.3. Bảo đảm quyền con ngƣời của bị cáo trong xét xử vụ án hình sự theo
pháp luật quốc tế ........................................................................................... 20
Kết luận chƣơng 1 ......................................................................................... 23
Chƣơng 2: QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VÀ THỰC TRẠNG BẢO ĐẢM
QUYỀN CON NGƢỜI CỦA BỊ CÁO TRONG XÉT XỬ VỤ ÁN HÌNH
SỰ.................................................................................................................... 24
2.1. Quy định của pháp luật về bảo đảm quyền con ngƣời của bị cáo
trong xét xử vụ án hình sự ............................................................................ 24
2.2. Thực trạng bảo đảm quyền con ngƣời của bị cáo trong xét xử vụ án
hình sự ............................................................................................................ 37
2.3. Nhận xét, đánh giá.................................................................................. 42
Kết luận chƣơng 2 ......................................................................................... 52
Chƣơng 3: PHƢƠNG HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƢỜNG BẢO
ĐẢM QUYỀN CON NGƢỜI CỦA BỊ CÁO TRONG XÉT XỬ VỤ ÁN
hình sự và tố tụng hình sự (TTHS) với sự ra đời của BLHS 2015 sửa đổi bổ
sung 2017 và BLTTHS 2015. TTHS là lĩnh vực hoạt động nhà nước nhạy
cảm liên quan đến quyền con người. Hơn ở đâu hết, quyền con người dễ bị
xâm phạm nhất trong TTHS và hậu quả của sự xâm phạm đó thường là rất
nghiêm trọng cả về vật chất, thể chất và tinh thần. Quyền con người trong
lĩnh vực TTHS được ghi nhận và bảo vệ trên cơ sở cân nhắc rằng hoạt động
TTHS gắn liền với vi phạm pháp luật nghiêm trọng nhất là tội phạm và chức
năng của Nhà nước là phát hiện nhanh chóng, kịp thời và xử lý công minh
người phạm tội. Trong các chủ thể của hoạt động TTHS thì Tòa án giữ vai trò
quan trọng. Đảng đã khẳng định khâu trọng tâm của chiến lược cải cách Tư
2
pháp đến năm 2020 là cải cách hệ thống TAND: “Trung tâm là xây dựng,
hoàn thiện tổ chức và hoạt động của TAND” và “xét xử là trọng tâm”1. Quan
điểm này là hoàn toàn đúng đắn vì trong bất kỳ một Nhà nước pháp quyền
nào quyền tư pháp (mà đại diện là Tòa án) phải được coi là trung tâm và là hệ
thống cấu thành quan trọng của bộ máy quyền lực Nhà nước để bảo vệ. Thực
tiễn cho thấy, hàng năm Tòa án đã xét xử hàng chục nghìn vụ án trong đó có
nhiều vụ án lớn (Năm Cam, Lã Thị Kim Oanh, PMU 18, VinaShin, Phạm
Công Danh...). Các vụ án đó được xét xử nghiêm minh, công bằng, đúng
người, đúng tội, tạo cho nhân dân niềm tin vào hệ thống pháp luật. Tuy nhiên,
bên cạnh đó vẫn tồn tại một số hạn chế khi quyền con người của bị cáo trong
xét xử vụ án hình sự có lúc, có nơi có biểu hiện chưa được quan tâm đúng
mức thể hiện thông qua việc có một số quyền của bị cáo chưa được bảo đảm
triệt để ảnh hưởng đến chất lượng xét xử, đáng buồn nhất là vẫn để xảy ra
tình trạng xét xử oan sai. Nghiên cứu các vụ án oan nổi tiếng, một đặc điểm
chung rất dễ nhận thấy là luôn có những vi phạm tố tụng nghiêm trọng trong
quá trình tiến hành tố tụng, kết luận vụ án luôn là kết quả của sự truy xét qua
đảm quyền con người trong Nhà nước pháp quyền nói chung (The Rule of
law của M. Hager); bảo đảm quyền con người trong hệ thống tư pháp (Saudi
Arabia, human rights: Judicial system); bảo đảm quyền con người trong các
nguyên tắc tố tụng hình sự (Principle of Criminal procedure của Neil
Andrews); bảo đảm quyền con người trong xét xử vụ án hình sự (Human
rights in the English criminal trial - Human rights in criminal procedure của
K.W. Lidstone) hoặc nghiên cứu vấn đề bảo đảm quyền con người của người
bị buộc tội (The guarantees for accused persons under Article 6 of the
European Convention on Human Rights của Stephanos Stavros) v.v…
Ở nước ta, bảo đảm quyền con người nói chung và bảo đảm quyền con
người trong hoạt động xét xử vụ án hình sự là vấn đề đã được Đảng, Nhà
nước cùng các nhà khoa học xã hội hết sức quan tâm nghiên cứu nhất là trong
thời kỳ đổi mới. Bên cạnh việc thành lập Trung tâm nghiên cứu quyền con
người trực thuộc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh hiện nay đã có
nhiều công trình khoa học nghiên cứu về lĩnh vực này cụ thể: Từ góc độ
4
nghiên cứu về quyền con người nói chung có công trình “Quyền con người
trong thế giới hiện đại” (Viện Thông tin khoa học xã hội, 1995) của GS.TS
Hoàng Văn Hảo và Phạm Khiêm Ích; “Các quyền Hiến định của công dân và
bảo đảm pháp lý ở nước ta” của PGS.TS. Nguyễn Văn Động, Tạp chí Luật
hoc, 2004. Cuốn "Quyền con người, quyền công dân trong Hiến pháp Việt
Nam" PGS TS Nguyễn Văn Động, Nxb.Khoa học xã hội, 2005. Riêng trong
lĩnh vực TTHS, đã có các nghiên cứu sau: “Bảo đảm quyền con người trong
tư pháp hình sự Việt Nam” (Nhà xuất bản Đại học Quốc Gia Thành phố Hồ
Chí Minh, 2010); “Luật tố tụng hình sự Việt Nam với việc bảo vệ quyền con
người” (Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Đại học Quốc Gia, 2011). Các tác giả
Nguyễn Thái Phúc, Trần Quang Tiệp cũng có những công trình nghiên cứu về
- Nghiên cứu khái niệm, đặc điểm, nội dung, phương pháp bảo đảm
quyền con người của bị cáo trong xét xử vụ án hình sự.
- Phân tích quy định pháp luật và cơ chế bảo đảm quyền con người của
bị cáo trong xét xử vụ án hình sự theo pháp luật quốc tế.
- Nghiên cứu thực trạng xét xử vụ án hình sự của các Tòa án qua đó
đánh giá hiệu quả cũng như làm sáng tỏ những hạn chế và nguyên nhân của
những hạn chế đó trong việc bảo đảm quyền con người của bị cáo hiện nay.
- Đưa ra những phương hướng, giải pháp nhằm tăng cường bảo đảm
quyền con người của bị cáo trong xét xử vụ án hình sự.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận chung,
những quy định của pháp luật về bảo đảm quyền con người của bị cáo trong
xét xử vụ án hình sự và thực trạng áp dụng trong thực tiễn.
4.2.Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận văn bao gồm những vấn đề lý luận chung,
những quy định của pháp luật trong Hiến pháp 2013, BLHS 2015, BLTTHS
2015 về bảo đảm quyền con người của bị cáo trong xét xử vụ án hình sự và
thực trạng áp dụng thực tiễn giai đoạn từ năm 2013 - 2017.
6
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa
Mác - LêNin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng và Nhà
nước ta về Nhà nước và pháp luật, về Nhà nước Pháp quyền xã hội chủ
nghĩa, về quyền con người và bảo đảm quyền con người.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
quyền con người đã được phong phú dưới các góc nhìn khác nhau. Ngay từ
khái niệm quyền con người cũng có tới ba quan điểm khác nhau: Quan điểm
thứ nhất cho rằng “Quyền con người là những đặc quyền được các quy tắc
điều khiển mà con người giữ riêng lấy trong các quan hệ của mình với các cá
nhân và với chính quyền”; Quan điểm thứ hai cho rằng “Con người chỉ là một
thực thể xã hội nên quyền con người chỉ được xác định trong mối tương quan
với các thực thể xã hội khác và vì là quan hệ xã hội nên nó được chế độ nhà
nước, pháp luật điều chỉnh, bảo vệ” và quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin
cho rằng vấn đề quyền con người: “Về bản chất bao hàm cả hai mặt tự nhiên
và xã hội”. C.Mác đã xuất phát từ con người là một thực thể thống nhất, một
“sinh vật - xã hội”. Do đó, quyền con người là sự thống nhất biện chứng giữa
“quyền tự nhiên” (như một đặc quyền vốn có và chỉ con người mới có) và
“quyền xã hội” - sự chế định bằng các quy chế pháp lý nhằm điều chính các
mối quan hệ xã hội. Theo C.Mác: "Quyền con người là những đặc quyền chỉ
có ở con người mới có, với tư cách là con người, là thành viên xã hội loài
8
người". Do đó, quyền con người là sự thống nhất biện chứng giữa hai mặt đối
lập: “quyền tự nhiên” - đặc quyền vốn có và chỉ con người mới có và “quyền
xã hội” - sự chế định bằng các quy chế pháp lý nhằm điều chính các mối quan
hệ xã hội.
Vì vậy trong điều kiện ngày nay, việc đưa ra khái niệm đúng đắn về
quyền con người phải giải quyết được các quan hệ giữa cá nhân với xã hội,
giữa tính nhân loại với tính giai cấp, giữa các giá trị đạo đức với pháp luật và
quyền lực, giữa quan hệ quốc tế với lợi ích quốc gia, giữa khả năng và nhu
cầu tự nhiên với những nỗ lực chủ quan. Theo Văn phòng Cao ủy Liên Hợp
Quốc thì: ʺQuyền con người là những bảo đảm pháp lý phổ quát (universal
legal guarantees) có tác dụng bảo vệ các cá nhân và nhóm chống lại những
án bằng phiên tòa. Tại phiên tòa hình sự, những người tham gia tố tụng bình
đẳng với nhau và tất cả các chứng cứ đều được xem xét một cách khách quan,
toàn diện, trực tiếp. Như vậy có thể định đưa ra khái niệm: “Xét xử vụ án hình
sự là một giai đoạn của quá trình tố tụng, trong đó Tòa án có thẩm quyền,
sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, đưa ra xét xử bẳng phiên tòa nhằm xác định
có hay không có tội phạm xảy ra, một người có phải là người phạm tội từ đó
đưa ra phán quyết bằng bản án, quyết định theo quy định của pháp luật”
Theo điều 61 BLTTHS năm 2015: "Bị cáo là người hoặc pháp nhân đã
bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử”. Sau khi CQĐT kết thúc điều tra, thấy
rằng có đủ chứng cứ để khẳng định rằng bị can đã phạm tội do BLHS quy
định thì đề nghị VKS truy tố ra trước Tòa án. Trong quá trình chuẩn bị xét xử,
Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa thấy rằng có đủ điều kiện để
đưa vụ án ra xét xử mà không phải trả hồ sơ cho VKS để điều tra bổ sung,
không có căn cứ để đình chỉ hay tạm đình chỉ vụ án thì ra quyết định đưa vụ
án ra xét xử. Từ thời điểm này, bị can trở thành bị cáo trong vụ án hình sự. Bị
cáo tham gia TTHS kể từ khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử đến khi bản
án hoặc quyết định của tòa án có hiệu lực pháp luật và bản án đó phải được
thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục luật định. Bị cáo không đồng nhất với
chủ thể của tội phạm mà bị cáo mới chỉ bị tình nghi là người đã thực hiện
hành vi phạm tội. Với tư cách là cá nhân, công dân, quyền con người của bị
cáo trong xét xử vụ án hình sự bao gồm những giá trị, những lợi ích về vật
10
chất và tinh thần được pháp luật ghi nhận và bảo đảm thực hiện phù hợp với
các chuẩn mực pháp lý quốc tế và tiến bộ xã hội. Như vậy “Quyền con người
của bị cáo trong xét xử vụ án hình sự là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên,
vốn có của con người khi tham gia hoạt động xét xử vụ án hình sự với tư
cách bị cáo”.
với các quan hệ pháp luật khác (hành chính, dân sự, kinh tế), trong quan hệ
pháp luật hình sự, hàng loạt các quy định riêng được đặt ra nhằm bảo đảm
quyền con người, quyền công dân của các bên tham gia tố tụng nói chung và
của bị cáo nói riêng. Đó là các quy định của pháp luật về quyền, nghĩa vụ của
công dân, nghĩa vụ của Nhà nước, của các cơ quan, người tiến hành tố tụng,
quy định về tội phạm, hình phạt, trình tự, thủ tục tiến hành tố tụng. Các quy
định đó không chỉ nhằm tạo ra các điều kiện, trình tự khác nhau, một mặt
buộc các cơ quan, cá nhân có thẩm quyền tuân theo tránh lạm dụng quyền lực,
mặt khác tạo cơ sở vững chắc cho bị cáo bảo vệ quyền, lợi ích của mình.
- Quyền con người của bị cáo trong xét xử vụ án hình sự chỉ có thể bị
hạn chế theo quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trên cơ sở
pháp luật. Điều 31 Hiến pháp Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
quy định: “Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được
chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội có hiệu lực pháp luật.”.
Chỉ có Toà án là cơ quan duy nhất được nhân danh Nhà nước ra quyết định áp
dụng các biện pháp hình phạt đối với người thực hiện hành vi phạm tội. Ngoài
Toà án, không một cá nhân hay tổ chức nào có quyền được tước bỏ các quyền
con người của bị cáo. Sự phán quyết của Toà án phải dựa trên cơ sở pháp luật,
chỉ tuân theo pháp luật và phải được tiến hành theo trình tự, thủ tục nghiêm
ngặt đã được pháp luật quy định. "Khi quyết định hình phạt, Toà án phải tuân
theo trình tự và các điều kiện áp dụng các loại hình phạt cụ thể và chỉ có thể
tuyên những hình phạt được quy định trong luật"
Tóm lại, bị cáo là người bị nghi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội
được BLHS quy định là tội phạm, là người tham gia tố tụng chiếm vị trí trung
tâm trong TTHS; không có bị cáo thì không thể có tiến trình tố tụng hoàn
chỉnh. Đối với họ có thể áp dụng các biện pháp cưỡng chế TTHS; các hoạt
động TTHS động chạm đến quyền con người của họ nhiều nhất. Tuy nhiên, vì
12
13
cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội là cần thiết
cho quá trình giải quyết vụ án, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động điều tra
truy tố, xét xử nhằm tìm ra sự thật của vụ án một cách nhanh chóng kịp thời.
Vì vậy, bị cáo cũng có khả năng bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế tố tụng
do BLTTHS quy định, có nguy cơ bị xâm phạm các quyền con người cao.
Bảo đảm quyền con người của bị cáo trong xét xử vụ án hình sự trước
hết là phải tạo điều kiện, tiền đề để bị cáo dễ dàng tiếp cận (trực tiếp hoặc
gián tiếp) tới Tòa án để thực hiện và bảo vệ các quyền của mình; hoạt động
xét xử của Tòa án phải được thực hiện theo một thủ tục tố tụng tư pháp chặt
chẽ, khách quan, tuyệt đối tuân thủ pháp luật và mang tính độc lập tuyệt đối;
thẩm phán và hội thẩm phải vô tư, khách quan trong thực thi công vụ, áp dụng
đúng đắn các quy định của pháp luật; bảo đảm các nguyên tắc trong hoạt động
xét xử để hoạt động xét xử đạt hiệu quả, hiệu lực, đạt được mục tiêu bảo vệ
công lý, quyền con người và quyền công dân. Việc bảo đảm quyền con người,
quyền công dân trong hoạt động xét xử gắn liền với trách nhiệm của Tòa án
trong thực thi công quyền. Cơ chế bảo đảm quyền con người, quyền công dân
trong hoạt động xét xử được thể hiện thông qua việc áp dụng các quy định của
pháp luật tố tụng và các quy định của pháp luật nội dung để giải quyết vụ việc
tại Tòa án.
Để bảo đảm được quyền con người cho người bị Tòa án đưa ra xét xử,
trước hết cần xây dựng địa vị pháp lý riêng, Địa vị pháp lý của bị cáo là vị trí
của bị cáo trong mối quan hệ với những chủ thể pháp luật khác trên cơ sở các
quy định pháp luật mà cụ thể BLTTHS năm 2015 ghi nhận ”Bị cáo là người
hoặc pháp nhân đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử.” Tiếp đó cần trao cho
đối tượng này những quyền, nghĩa vụ phù hợp. Bị cáo tham gia TTHS với tư
cách khác bị can, người bị tạm giữ, tạm giam, tức là họ sẽ gặp phải những
nguy cơ bị xâm phạm quyền con người khác bị can, người bị tạm giữ, tạm
lý của mình. Chủ thể chủ yếu thực hiện chức năng này là Tòa án. Chỉ có Tòa
án là cơ quan duy nhất được nhân danh Nhà nước ra bản án tuyên bố bị cáo có
tội hoặc không và áp dụng hình phạt. Để thực hiện được nhiệm vụ trên thì
15
Thẩm phán - người trực tiếp giải quyết các vụ án và đưa ra phán quyết giữ
một vị trí và vai trò đặc biệt quan trọng. Chính vì vậy, cơ cấu tổ chức của Tòa
án phải vô cùng chặt chẽ tương ứng với chức năng, nhiệm vụ được giao đồng
thời các tiêu chuẩn bổ nhiệm thẩm phán rất khắt khe cả về đạo đức lẫn chuyên
môn. Theo Điều 3 Luật Tổ chức TAND, tổ chức TAND gồm có: Tòa án nhân
dân tối cao; Tòa án nhân dân cấp cao; Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực
thuộc trung ương; Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh
và tương đương; Tòa án quân sự.
- Bảo đảm quyền con người của bị cáo trong xét xử vụ án hình sự có vai
trò quan trọng trong việc biến những nỗ lực, những ý tưởng tiến bộ của nhân
loại ở các điều luật trở thành hiện thực trong thực tiễn giải quyết vụ án. Bản
thân những quy phạm pháp luật chỉ mang tính pháp lý và sẽ trở thành vô
nghĩa nếu như không được bảo đảm trên thực tiễn. Do đó, hình thành cơ chế
bảo đảm quyền con người của bị cáo trong xét xử vụ án hình sự nói riêng và
bảo đảm quyền con người trong TTHS nói chung là đòi hỏi khách quan mang
tính chất quyết định mà nhà nước nào cũng cần quan tâm.
- Bảo đảm quyền con người của bị cáo trong xét xử vụ án hình sự mang
tính chất đặc thù. Xuất phát từ những đặc điểm của TTHS là một lĩnh vực
hoạt động thực hiện quyền lực nhà nước mà ở đó việc hạn chế các quyền và
lợi ích hợp pháp của cá nhân, nhất là đối với bị cáo – người bị tình nghi đã
thực hiện tội phạm - là không thể tránh khỏi và các quyền và lợi ích đó có thể
bị xâm phạm một cách nghiêm trọng bởi những người đại diện cho công
quyền.
BLTTHS cần quy định thời gian tống đạt các loại văn bản để bị cáo có thời
gian thực hiện các quyền của mình.
- Bảo đảm quyền được đưa ra xét xử theo đúng trình tự, thủ tục được
pháp luật quy định của bị cáo. Việc xem xét tội trạng của bị cáo phải được
tiến hành theo đúng quy định của pháp luật. Pháp luật tố tụng hình sự cần quy
định chặt chẽ các bước phải thực hiện trong quá trình giải quyết vụ án tại Toà
án mà không được cơ quan, tổ chức, cá nhân nào can thiệp, làm trái pháp luật.
17
Các trình tự, thủ tục đó là những khả năng, điều kiện cho bị cáo thực hiện các
quyền tham gia phiên tòa, quyền bào chữa, quyền tranh luận, quyền kháng
cáo,... của mình.
- Bảo đảm quyền được tham gia phiên tòa. Mọi vấn đề của vụ án sẽ
được giải quyết tại phiên tòa, ảnh hưởng vô cùng to lớn đến bản thân bị cáo.
Vì vậy, việc tham gia phiên tòa sẽ tạo điều kiện để bị cáo thực hiện các quyền
tố tụng quan trọng của mình như quyền bào chữa, quyền tranh luận, quyền
đưa ra tài liệu, chứng cứ để HĐXX có sự nhìn nhận, đánh giá khách quan, từ
đó quyền lợi hợp pháp của bị cáo sẽ được bảo đảm hơn. Cho nên, việc tham
gia phiên tòa được xác định là một quyền của bị cáo chứ không phải là nghĩa
vụ. Việc xét xử bị cáo vắng mặt chỉ được tiến hành trong ba trường hợp là: Bị
cáo trốn tránh và việc truy nã không có kết quả; Bị cáo đang ở nước ngoài và
không thể triệu tập đến phiên tòa; Sự vắng mặt của bị cáo không cản trở cho
việc xét xử và họ đã được giao giấy triệu tập hợp lệ. Những trường hợp bắt
buộc người tham gia tố tụng phải có mặt tham gia phiên tòa mà Tòa án vẫn
xét xử vắng mặt họ, thì bị coi là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng và sẽ bị
hủy án để xét xử lại.
- Bảo đảm quyền được trình bày ý kiến, quan điểm, quyền tranh luận
tại phiên tòa của bị cáo. Để bị cáo được thực hiện đầy đủ quyền trình bày ý
Bảo vệ quyền con người nói chung, của, bị cáo nói riêng được thực
hiện trong pháp luật TTHS bằng các hình thức, phương pháp khác nhau. Tuy
nhiên nếu xét về mức độ quan trọng thì phương pháp quan trọng nhất là bảo
đảm quyền con người của bị cáo trong xét xử vụ án hình sự bằng các quy định
đúng đắn, hợp lý, khả thi trong pháp luật TTHS và bảo đảm thực hiện các quy
định đó trên thực tế. Xây dựng cơ sở pháp lý nhằm bảo đảm quyền con người
của bị cáo trong xét xử vụ án hình sự. Hiện nay Hiến pháp năm 2013, BLHS
2015 và BLTTHS 2015 đã được sửa đổi theo hướng nâng cao quyền con
người, quyền công dân. Ngoài các quy định pháp luật trao quyền, để bảo đảm
quyền con người của bị cáo, pháp luật quy định về các nguyên tắc trong tổ
19
chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, đặc biệt là nguyên tắc tổ chức và
hoạt động của các CQĐT, công tố và xét xử. Trong mỗi hệ thống cơ quan
này, pháp luật có những quy định riêng, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của
từng cơ quan. Đối với hệ thống cơ quan xét xử có các nguyên tắc như nguyên
tắc xét xử độc lập chỉ tuân theo pháp luật, xét xử kịp thời, công khai, công
bằng; suy đoán vô tội, nguyên tắc hai cấp xét xử… Đồng thời, để bảo đảm
quyền con người của bị cáo, pháp luật quy định về trách nhiệm của các chủ
thể tiến hành và chủ thể tham gia tố tụng. Đó là trách nhiệm, nghĩa vụ của
điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán, hội thẩm nhân dân, người bảo chữa,
người phiên dịch, người giám định, người làm chứng… Ngoài việc xây dựng
các quy định pháp luật, bảo đảm quyền con người của bị cáo trong xét xử vụ
án phải được thực hiện trên thực tiễn bằng cách tạo điều kiện thực tế để: Bị
cáo có khả năng chứng minh bác bỏ sự buộc tội của cơ quan có thẩm quyền
hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với tội phạm mà người đó thực hiện
và những người có thẩm quyền tiến hành tố tụng xác định chính xác, khách
quan tội phạm, người phạm tội và áp dụng đúng các quy định của pháp luật.