BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NỘI VỤ
.........../...........
....../......
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
HOÀNG THANH THU
BẢO VỆ QUYỀN CON NGƢỜI THÔNG QUA KIỂM
SÁT XÉT XỬ VỤ ÁN HÌNH SỰ - TỪ THỰC TIỄN
VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI
LUẬN VĂN THẠC SĨ
LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH
THỪA THIÊN HUẾ – NĂM 2018
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
.........../...........
BỘ NỘI VỤ
....../......
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm chân thành và trân trọng nhất, tác giả luận văn xin bày tỏ
lời cảm ơn sâu sắc gửi đến Phó Giáo sƣ Tiến sĩ Tƣờng Duy Kiên với sự
hƣớng dẫn tận tình, đầy trách nhiệm của thầy đã quan tâm, giúp đỡ tác giả
trong quá trình thực hiện Luận văn Thạc sĩ với đề tài: “Bảo vệ quyền con
ngƣời thông qua kiểm sát xét xử vụ án hình sự - Từ thực tiễn Viện kiểm sát
nhân dân tỉnh Quảng Ngãi”
Tác giả chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo ở Học viện Hành chính
Quốc gia đã tận tình truyền đạt những kiến thức quý báu, quan tâm, tạo điều
kiện giúp đỡ để tác giả hoàn thành tốt khoá học và nghiên cứu để hoàn thiện
đề tài luận văn của mình.
Xin chân thành cảm ơn cán bộ, kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân
tỉnh Quảng Ngãi, cán bộ, kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức
Phổ, lãnh đạo cơ quan Ban Tuyên giáo Huyện ủy Đức Phổ và các bạn học
viên khoá học LH3-T6 đã quan tâm giúp đỡ tác giả trong quá trình học tập,
nghiên cứu và hoàn thành luận văn này.
Tác giả xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè là những ngƣời luôn
ủng hộ và động viên tác giả trong quá trình học tập cũng nhƣ thực hiện đề tài
nghiên cứu của mình.
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngàytháng
Học Viên
Hoàng Thanh Thu
MỤC LỤC
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
3.1. Giải pháp chung............................................................................................... 63
3.2. Giải pháp cụ thể nhằm nâng cao vai trò bảo vệ quyền con ngƣời trong kiểm sát
xét xử vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi......................... 81
Tiểu kết chương 3....................................................................................................85
KẾT LUẬN............................................................................................................. 86
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................................. 87
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BLTTHS
Bộ luật tố tụng hình sự
BLHS
Bộ luật hình sự
CQĐT
Cơ quan điều tra
ĐTV
Điều tra viên
HĐXX
Hội đồng xét xử
KSV
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1. Số vụ, bị cáo Viện kiểm sát kiểm sát xét xử theo thủ tục sơ thẩm . 51
Bảng 2.2. Số vụ và bị cáo Viện kiểm sát kiểm sát xét xử theo thủ tục phúc
thẩm........................................................................................................................................................ 54
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài luận văn
Bảo vệ quyền con ngƣời, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho con ngƣời
phát triển toàn diện là mục tiêu cơ bản của Đảng và Nhà nƣớc ta. Trong quan
hệ hợp tác quốc tế, quyền con ngƣời và bảo vệ quyền con ngƣời có vai trò
hết sức quan trọng. Quyền đƣợc sống trong hòa bình, độc lập, tự do, ấm no,
hạnh phúc; quyền đƣợc tôn trọng nhân cách, đƣợc xã hội thừa nhận, tôn vinh
và pháp luật bảo vệ là những quyền cơ bản của con ngƣời.
Trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng Cộng
sản Việt Nam đặc biệt quan tâm đến quyền con ngƣời. Đảng coi đây là một
trong nội dung quan trọng để tiếp tục phát huy nhân tố con ngƣời trong mọi
lĩnh vực của đời sống xã hội, tạo ra sức bật mới cho sự phát triển kinh tế xã
hội trong giai đoạn hiện nay, giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại
hóa và hội nhập quốc tế. Xác định nhiệm vụ xây dựng hoàn thiện nhà nƣớc
pháp quyền xã hội chủ nghĩa phải tiến hành đồng bộ cả lập pháp, hành pháp,
tƣ pháp và đƣợc tiến hành đồng bộ với đổi mới hệ thống chính trị theo hƣớng
tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả. Việc xây dựng nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ
nghĩa của dân, do dân, vì dân; trong đó, quyền con ngƣời, quyền công dân
đƣợc tôn trọng và bảo vệ đƣợc ghi nhận trong Hiến pháp, pháp luật. Quan
điểm nhất quán của Đảng, Nhà nƣớc về việc bảo vệ và thúc đẩy quyền con
ngƣời, quyền công dân ở Việt Nam là phải bảo đảm bằng Hiến pháp và phải
dân tỉnh Quảng Ngãi”.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
Vấn đề bảo vệ quyền con ngƣời nói chung, quyền con ngƣời trong hoạt
động TTHS đƣợc nhiều chuyên gia, nhà khoa học, nhà nghiên cứu và nhiều công
trình khoa học đã nghiên cứu vấn đề này dƣới nhiều gốc độ khác nhau. Có thể
liệt kê một số công trình nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực trên nhƣ sau:
2
Về Đề tài khoa học cấp Đại học Quốc gia năm 2006 “Bảo vệ quyền con
người bằng pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự trong giai đoạn
xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam” do TSKH.PGS. Lê Văn Cảm, TX
Nguyễn Ngọc Chi, TS. Trịnh Quốc Toản đồng chủ trì; Chuyên khảo “Bảo vệ
quyền con người trong luật hình sự, luật tố tụng hình sự Việt Nam” của TS
Trần Quang Tiệp, do Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia xuất bản năm 2004; bài
báo “Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam với việc bảo đảm
quyền con người” của PGS.TS. Tƣờng Duy Kiên, đƣợc công bố trên Tạp Chí
Nghề nghiệp năm 2004.
Cấp độ luận văn thạc sĩ có các đề tài: “Bảo đảm quyền con người trong
hoạt động xét xử các vụ án hình sự” của tác giả Lƣơng Đức Dƣơng (luận văn
Thạc sĩ Luật học, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2015); “Kiểm sát
xét xử các vụ án hình sự góp phần bảo vệ các quyền con người” của tác giả
Trần Văn Hội (luận văn Thạc sĩ Luật học, Khoa luật, Đại học Quốc gia Hà
Nội năm 2012); “Bảo đảm quyền con người trong hoạt động xét xử vụ án hình
sự” của tác giả Ngô Thị Thanh (luận văn Thạc sĩ Luật học Khoa Luật, Đại học
Quốc gia Hà Nội năm 2013).
Dƣới góc độ khoa học, các công trình nói trên là hết sức có giá trị đối
với những ngƣời đã và đang nghiên cứu về bảo đảm quyền con ngƣời nói
chung, bảo đảm quyền con ngƣời trong lĩnh vực hình sự nói riêng. Tuy nhiên,
đến nay đề tài: “Bảo vệ quyền con ngƣời thông qua kiểm sát xét xử vụ án
Luận văn nghiên cứu những vấn đề cơ bản về bảo vệ quyền con ngƣời,
thực trạng quy định của pháp luật hiện hành về bảo vệ quyền con ngƣời của
Viện kiểm sát nhân dân theo Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
-
Phạm vi nghiên cứu của luận văn:
Nghiên cứu thực trạng bảo vệ quyền con ngƣời thông qua kiểm sát xét
xử vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi trong thời gian
03 năm (từ năm 2015 đến năm 2017). Tuy nhiên, trong giới hạn cho phép,
luận văn nghiên cứu bảo vệ quyền con ngƣời đối với bị cáo.
5.
Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu của luận văn
-
Phương pháp luận:
4
Đề tài đƣợc nghiên cứu trên cơ sở vận dụng phƣơng pháp luận của chủ
nghĩa Mác - Lênin và tƣ tƣởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, đƣờng lối của
Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nƣớc về bảo vệ quyền con ngƣời.
-
Phương pháp nghiên cứu:
Sử dụng các phƣơng pháp nghiên cứu tổng hợp; phƣơng pháp thống
kê; phƣơng pháp phân tích; phƣơng pháp đối chiếu, thu thập thông tin phục
-
Chƣơng 3: Giải pháp tăng cƣờng bảo vệ quyền con ngƣời trong
kiểm sát xét xử vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi.
5
Chương 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN BẢO VỆ QUYỀN CON NGƢỜI TRONG HOẠT
ĐỘNG KIỂM SÁT XÉT XỬ VỤ ÁN HÌNH SỰ CỦA VIỆN KIỂM SÁT
NHÂN DÂN CẤP TỈNH
1.1. Nhận thức về bảo vệ quyền con ngƣời trong hoạt động kiểm sát xét
xử
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm quyền con người, bảo vệ quyền con người
1.1.1.1. Khái niệm quyền con người, bảo vệ quyền con người
Quyền con ngƣời là khả năng của con ngƣời đƣợc đảm bảo về mặt pháp
luật để sử dụng và chi phối các giá trị xã hội mang lại về vật chất, văn hóa,
tinh thần trong phạm vi luật định và quyền quyết định các hoạt động của mình
trên cơ sở pháp luật.
Quyền con ngƣời là khái niệm mang tính phổ biến chung trong lịch sử
pháp luật của nhân loại, là kết quả của quá trình đấu tranh, phát triển lâu dài
của tất cả các dân tộc. Tƣ tƣởng này đƣợc thể hiện trong bản Tuyên ngôn độc
lập của nƣớc Mỹ năm 1776, đã đƣợc Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh trong
bản tuyên ngôn độc lập nƣớc ta, đƣợc đọc vào ngày 02 tháng 9 năm 1945
trƣớc toàn thế giới: “Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo
hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền
ấy có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”.
Đất nƣớc ta đã trải qua lịch sử đấu tranh, xây dựng và phát triển đất
ngƣời, quyền công dân ở nƣớc ta; thúc đẩy việc xây dựng nhà nƣớc pháp
quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. Nhà nƣớc
pháp quyền phải là Nhà nƣớc mà trong đó các quyền con ngƣời đƣợc ghi
nhận, tôn trọng, bảo vệ.
Quyền con ngƣời là sự kết tinh những giá trị cao quý nhất của nhân loại,
có nhiều quan điểm khác nhau về quyền con ngƣời.
7
Quan điểm thứ nhất cho rằng: Quyền con ngƣời là những quyền tự nhiên
của con ngƣời và không bị tƣớc bỏ bởi bất cứ ai và bất cứ chính thể nào; là
xử sự đƣợc phép mà tất cả thành viên của cộng đồng nhân loại không phân
biệt giới tính, chủng tộc, tôn giáo,…
Quan điểm thứ hai cho rằng: Quyền con ngƣời đƣợc đặt trong tổng hòa
các mối quan hệ xã hội. Bởi lẻ quyền con ngƣời là một giá trị nhân loại, đồng
thời là một khái niệm có tính lịch sử, hình thành trong một cuộc đấu tranh giai
cấp và đƣợc bổ sung những nội dung mới qua các thời đại khác nhau.
Văn phòng Cao ủy Liên hợp quốc về quyền con ngƣời cho rằng: “Quyền
con người là những bảo đảm pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ các cá
nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc mà làm tổn
hại đến nhân phẩm, những sự được phép và tự do cơ bản của con người”
[54,tr.11].
Ở
nƣớc ta, TS Trần Quang Tiệp cho rằng: “Quyền con người là những
đặc lợi vốn có tự nhiên mà chỉ con người mới được hưởng trong những điều
kiện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội nhất định” [30, tr.14].
Do đó, hai quan điểm trên nhấn mạnh đến yếu tố lịch sử, tự nhiên và xã
hội của quyền con ngƣời, quan tâm đến pháp luật – một công cụ để bảo đảm
Hai là, tính không thể chuyển nhƣợng: Quyền con ngƣời không thể bị
tƣớc đoạt hay hạn chế một cách tùy tiện bởi bất cứ chủ thể nào, kể cả các cơ
quan hay quan chức nhà nƣớc, trừ những trƣờng hợp đặc biệt. Mọi giới hạn,
hạn chế hay tƣớc bỏ quyền của một cá nhân đều phải do luật quy định và chỉ
nhằm để bảo vệ lợi ích chính đáng tƣơng xứng của cộng đồng hay của cá
nhân khác.
Theo quan niệm của nƣớc ta, quyền con ngƣời không thể bị tƣớc bỏ hay
hạn chế một cách tùy tiện bởi bất cứ chủ thể nào, kể cả các cơ quan và quan
chức nhà nƣớc. Tuy nhiên, quyền con ngƣời chỉ có thể bị hạn chế theo quy
9
định của luật, trong trƣờng hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc
gia, trật tự an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng. Phạm vi
thực hiện quyền con ngƣời đƣợc xác định bằng pháp luật của Nhà nƣớc.
Ba là, tính không thể phân chia: Các quyền con ngƣời đều có vai trò
quan trọng nhƣ nhau. Về nguyên tắc không có quyền nào đƣợc xem là có giá
trị cao hơn quyền nào. Việc tƣớc bỏ hay hạn chế bất kỳ quyền con ngƣời nào
đều tác động đến nhân phẩm, giá trị và sự phát triển của con ngƣời. Xét về
lĩnh vực điều chỉnh, có thể phân chia quyền con ngƣời thành các nhóm:
quyền chính trị, nhóm quyền dân sự và nhóm quyền kinh tế, văn hóa, xã hội.
Các nhóm quyền này phản ánh những nhu cầu khác nhau của con ngƣời, việc
phân chia hệ thống các quyền con ngƣời thành ba nhóm phải đƣợc thực hiện
trên cơ sở tuân thủ tính không thể tách rời đƣợc và sự phụ thuộc tƣơng hỗ
giữa tất cả các quyền con ngƣời. Việc bảo đảm các giá trị, mục tiêu về kinh tế
và đời sống xã hội không đƣợc phép làm thiệt hại các quyền dân sự và các
quyền chính trị.
Bốn là, tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau: Các quyền con ngƣời có mối
liên hệ chặt chẽ với nhau, thực hiện tốt quyền này là cơ sở để thực hiện quyền
kia và nếu có một quyền bị xâm phạm thì sẽ ảnh hƣởng đến các quyền còn lại.
xử của TA đôi khi chƣa đúng pháp luật và quyền con ngƣời có lúc chƣa đƣợc
bảo đảm. Vì vậy, KSXX vụ án hình sự nhằm bảo đảm cho pháp luật đƣợc
chấp hành nghiêm, thống nhất và kịp thời hạn chế, sửa chữa vi phạm pháp
luật, ảnh hƣởng đến quyền con ngƣời.
Quyền công tố và thực hành quyền công tố là hai khái niệm điển hình trong
BLTTHS ở nƣớc ta khi đề cập đến chức năng của VKS. Trong khoa học TTHS,
việc xác định khái niệm quyền công tố và thực hành quyền công tố có
ý nghĩa lý luận và thực tiễn rất quan trọng. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay,
việc giải quyết tốt vấn đề này giúp cho việc xác định vai trò, vị trí của VKS
nói riêng và các cơ quan tƣ pháp nói chung.
Từ trƣớc đến nay, có nhiều đề tài nghiên cứu, nhiều quan điểm khác
11
nhau về quyền công tố:
Quan điểm thứ nhất: Công tố không phải là chức năng độc lập của VKS
mà chỉ là hình thức để thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật
[11]. Theo tác giả đây là hai dạng hoạt động có nội dung hoàn toàn độc lập
với nhau.
Quan điểm thứ hai: Quyền công tố là quyền của Nhà nước giao cho các
cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố,
thi hành án hình sự người phạm tội [52, tr.204]. Đó là hoạt động của ĐTV,
KSV và những ngƣời khác đƣợc pháp luật quy định có trách nhiệm xác định
ngƣời phạm tội cũng nhƣ các căn cứ để kết tội và áp dụng các hình pháp đối
với ngƣời phạm tội. Theo quan điểm này, không chỉ có VKS, CQĐT mà cả
TA, Cơ quan thi hành án hình sự đều là chủ thể thực hành quyền công tố.
Quan điểm thứ ba: Quyền công tố là quyền của Nhà nước đưa các việc
làm phạm pháp liên quan đến lợi ích chung ra Tòa án xét xử vì Nhà nước
nhân danh xã hội duy trì trật tự chung bằng pháp luật. Sự can thiệp của Nhà
Hiến pháp, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân thì các văn bản tố tụng hình
sự khác cũng có quy định tƣơng tự.
Theo từ điển tiếng Việt thì “thực hành” có nghĩa là “làm để áp dụng lý
thuyết vào thực tiễn”, “ thực hành” đồng nghĩa với “thực hiện”[31]. Để thực
hiện quyền công tố thì VKS phải sử dụng tất cả những quyền năng tố tụng
nhằm bảo đảm phát hiện kịp thời, xử lý nghiêm minh mọi hành vi phạm tội,
không để lọt tội phạm và ngƣời phạm tội, không làm oan ngƣời vô tội. Từ đó,
có quan điểm cho rằng: “Thực hành quyền công tố là việc sử dụng tổng hợp
các quyền năng pháp lý thuộc nội dung quyền công tố để thực hiện việc truy
cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội trong các giai đoạn điều tra,
truy tố, xét xử”. Nội dung quyền công tố là sự buộc tội của Nhà nước đối với
người đã thực hiện hành vi phạm tội [32].
13
- Bản chất thực hành quyền công tố
Về bản chất, thực hành quyền công tố là hoạt động của VKSND trong tố
tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nƣớc đối với ngƣời phạm tội,
đƣợc thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị
khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử (Khoản 1 Điều
3 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014).
Kiểm sát các hoạt động tƣ pháp là hoạt động của VKSND để kiểm sát
tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong
hoạt động tƣ pháp, đƣợc thực hiện ngay từ khi tiếp nhận và giải quyết tố giác,
tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình giải quyết vụ án
hình sự; trong việc giải quyết vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và
gia đình, kinh doanh thƣơng mại, lao động; việc thi hành án, việc giải quyết
khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tƣ pháp; các hoạt động tƣ pháp khác theo
quy định của pháp luật (Khoản 1 Điều 4 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân
năm 2014).
hành điều tra, truy tố, xét xử theo các trình tự, thủ tục đƣợc quy định trong
BLTTHS. Ngƣời vi phạm pháp luật đã bị khởi tố về hình sự để tiến hành điều
tra, truy tố, xét xử theo các quy định của BLTTHS là can án hình sự sẽ bị áp
dụng một số biện pháp do luật quy định: phải khai cung, phải có mặt vào thời
gian do các cơ quan tiến hành tố tụng - cơ quan điều tra, VKS, TA quy định.
Kiểm sát hoạt động tƣ pháp là kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi,
quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tƣ pháp, đƣợc thực
hiện ngay từ khi tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị
khởi tố và trong suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự; trong việc giải quyết
vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thƣơng
mại, lao động; việc thi hành án, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt
động tƣ pháp; các hoạt động tƣ pháp khác theo quy định của pháp luật.
15
Kiểm sát các hoạt động tƣ pháp hình sự là chức năng hiến định của Viện
kiểm sát (Điều 107 Hiến pháp năm 2013) có nội dung giám sát mọi hoạt động
của các cơ quan tƣ pháp và các cơ quan đƣợc giao nhiệm vụ thực hiện một số
hoạt động tƣ pháp trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình
sự, nhằm đảm bảo cho pháp luật tố tụng hình sự đƣợc thực hiện một cách
nghiêm chỉnh, thống nhất.
TTHS là quá trình giải quyết vụ án hình sự theo quy định của pháp luật
gồm khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử. Xét xử vụ án hình sự là giai đoạn thứ tƣ
và cuối cùng, trung tâm và quan trọng nhất của hoạt động tố tụng hình sự.
Xét xử là chức năng quan trọng nhất của TA nói riêng và của toàn bộ quá
trình TTHS nói chung nhằm áp dụng các biện pháp cần thiết do luật định để
kiểm tra lại tính hợp pháp và có căn cứ của toàn bộ các quyết định mà CQĐT
và VKS thông qua trƣớc khi chuyển vụ án hình sự sang TA.
Trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự, VKS có trách nhiệm thực hành
quyền công tố nhằm bảo đảm việc truy tố đúng ngƣời, đúng tội, đúng pháp
VKSND là cơ quan tƣ pháp, có vị trí tƣơng đối độc lập trong bộ máy
nhà nƣớc, là cơ quan thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tƣ pháp
của nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, nhân danh nhà nƣớc thực
hiện bảo vệ Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ quyền con ngƣời, quyền công
dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nƣớc, quyền và
lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật đƣợc chấp
hành nghiêm chỉnh và thống nhất.
Bảo vệ quyền con ngƣời, quyền công dân trong hoạt động tƣ pháp là một
trong những vấn đề luôn đƣợc Nhà nƣớc quan tâm. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh,
tƣ pháp là cơ quan trọng yếu của chính quyền, góp phần thực hiện chế độ chính
trị, giữ vững và bảo vệ quyền lợi nhân dân, bảo vệ chế độ dân chủ; cán bộ tƣ
pháp phải chí công vô tƣ; phải công bằng, liêm khiết, trong sạch,
17
gần dân, hiểu dân, giúp dân, học dân. Tƣ tƣởng đó xuyên suốt quá trình hình
thành và phát triển nền tƣ pháp ở nƣớc ta.
Trong thời kỳ đổi mới, cải cách tƣ pháp đƣợc xác định là một bộ phận
quan trọng trong đƣờng lối đổi mới toàn diện đất nƣớc của Đảng ta, Nghị
quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm
2020. Mục tiêu cải cách tƣ pháp mà Nghị quyết 49 đề ra là xây dựng nền tƣ
pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, bảo vệ
quyền con ngƣời.
Bảo vệ quyền con ngƣời trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự bao gồm:
Bảo đảm quyền con ngƣời của bị cáo; ngƣời bị hại; nguyên đơn dân sự, bị
đơn dân sự; ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; ngƣời làm
chứng; ngƣời phiên dịch; ngƣời giám định; ngƣời bào chữa; ngƣời bảo vệ
quyền lợi của đƣơng sự. Vì một trong những nhiệm vụ quan trọng của pháp
luật TTHS là vừa bảo đảm quyền con ngƣời trƣớc hành vi phạm tội và tội
phạm, đồng thời khi tiến hành tố tụng các cơ quan, ngƣời tiến hành tố tụng