ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
––––––
NGUYỄN THỊ HẠNH QUYÊN
BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI
TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN
HÌNH SỰ Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành: Pháp luật về quyền con người
Mã số: Chuyên ngành đào tạo thí điểm
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: T.S Trịnh Tiến Việt
Hà Nội - 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các
kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào
khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác,
tin cậy và trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán
tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia
Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể
bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
1.2.1.
Khái niệm, nhiệm vụ của giai đoạn điều tra vụ án hình sự ...... 15
1.2.2.
Khái niệm, sự cần thiết và các bảo đảm của việc bảo vệ quyền
con người trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự ............ 18
1.3.
CHUẨN MỰC QUỐC TẾ VỀ BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI
TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ ............... 27
1.3.1.
Quyền được suy đoán vô tội ...................................................................... 30
1.3.2.
Quyền tự do................................................................................................ 30
1.3.3.
Quyền được thông tin ................................................................................ 31
1.3.4.
Quyền được bảo vệ bởi luật sư ....................... 32
THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG
HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI
TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ ................ 39
2.1.1.
Khái quát các quy định pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam
trước khi ban hành Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về bảo vệ
quyền con người trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự ..... 39
2.1.2.
Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về bảo vệ quyền
con người trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự ở Việt Nam . 45
2.2.
THỰC TIỄN BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI TRONG GIAI
ĐOẠN ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ Ở VIỆT NAM ................ 63
2.2.1.
Khái quát tình hình tội phạm ......................... 63
2.2.2.
Đánh giá thực tiễn thi hành bảo vệ quyền con người trong giai
đoạn điều tra các vụ án hình sự ở Việt Nam ............... 66
2.3.
Chương 3. HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ
TỤNG HÌNH SỰ VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP NÂNG CAO
HIỆU QUẢ BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI TRONG GIAI
ĐOẠN ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ Ở VIỆT NAM ....... 94
3.1.
CƠ SỞ CỦA VIỆC HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH PHÁP
LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VỀ BẢO VỆ QUYỀN CON
NGƯỜI TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN HÌNH
SỰ Ở VIỆT NAM .................................................................................... 94
3.2.
KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN MỘT SỐ QUY ĐỊNH CỦA BỘ
LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ NĂM 2003 NHẰM BẢO VỆ
QUYỀN CON NGƯỜI TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA CÁC
VỤ ÁN HÌNH SỰ Ở VIỆT NAM .......................................................... 98
3.2.1.
Hoàn thiện thủ tục khởi tố vụ án, khởi tố bị can ............ 98
3.2.2.
Hoàn thiện các quy định BLTTHS năm 2003 về thời hạn điều
tra và tạm giam điều tra ........................... 100
3.2.3.
Nâng cao hiệu quả của việc thực hiện cơ chế công tố gắn với
hoạt động điều tra ............................... 114
3.3.3.
Nâng cao năng lực kiểm sát viên và điều tra viên - thước đo
chuẩn mực bảo vệ quyền con người ................... 116
3.3.4.
Nâng cao ý thức pháp luật cho người dân, đặc biệt là pháp luật
về quyền con người .............................. 118
3.3.5.
Nâng cao văn hóa tố tụng trong giai đoạn điều tra .......... 120
KẾT LUẬN .................................................................................................. 122
TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................... 125
PHỤ LỤC
TỪ VIẾT TẮT
BLTTHS
Bộ Luật Tố tụng hình sự
BLHS
KSV
Kiểm sát viên
PLTCĐTHS
Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự
TTHS
Tố tụng hình sự
THTT
Tiến hành tố tụng
TGTT
Tham gia tố tụng
VKS
Viện kiểm sát
VKSNDTC
Viện kiểm sát nhân dân tối cao
Bảng 2.7:
Cơ quan điều tra tạo điều kiện để người bào chữa chỉ định tham
gia vào các hoạt động điều tra liên quan đến người mà mình
nhận bào chữa ............................................................................ 87
Bảng 3.1:
Thời hạn điều tra và thời hạn gia hạn điều tra vụ án hình sự ... 100
Bảng 3.2:
Thời hạn tạm giam và thời hạn gia hạn tạm giam để điều tra vụ
án hình sự .................................................................................. 101
Bảng 3.3:
Thời hạn tối đa điều tra và tạm giam để điều tra vụ án hình sự ...... 102
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Từ buổi sơ khai của bình minh loài người, ở xã hội cộng sản nguyên
thủy, con người đã luôn được coi là chủ thể của xã hội và cùng với sự phát
triển, khi lựa chọn định hướng phát triển theo xu hướng tiến bộ, các quốc gia
đều cố gắng phấn đấu vì hạnh phúc của con người, vì thế bảo vệ các quyền
của con người là một tất yếu khách quan. Quyền con người là khát vọng và là
thành quả đấu tranh của nhân loại, qua các giai đoạn phát triển nó đã trở thành
giá trị chung.
ra rằng: “Những kết quả khả quan cũng như những sai lầm tư pháp nghiêm
trọng nhất bỏ lọt tội phạm, làm oan người vô tội…thường bắt nguồn từ giai đoạn
điều tra” [46, tr.45]. Giai đoạn điều tra nhận đảm đương công việc thực chất về
điều tra sự thật phạm tội. Thành công hay thất bại của việc đấu tranh phòng,
chống tội phạm ở một mức độ nào đó là do việc điều tra quyết định. Chỉ có qua
điều tra mới có thể biết rõ tình hình vụ án, xác định có tội phạm hay không.
Trong quá trình điều tra xác lập cơ sở để truy cứu trách nhiệm hình sự
và thực hiện nội dung quyền công tố. Trong quá trình này, cơ quan điều tra
(CQĐT) có quyền áp dụng các biện pháp ngăn chặn hạn chế tự do hay một số
biện pháp liên quan, ảnh hưởng đến quyền con người. Nếu hoạt động điều tra
đúng pháp luật, sẽ bảo vệ được quyền con người, nếu hoạt động này có bất kỳ
sai lầm nào dù to hay nhỏ, nhiều hay ít đều dẫn tới hệ quả tiêu cực xâm phạm
quyền con người.
Thực tiễn những năm qua ở Việt Nam cho thấy, trong giai đoạn điều tra
các vụ án hình sự vẫn còn xảy ra hành vi xâm phạm đến quyền bất khả xâm
phạm về thân thể, tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của công dân
như: vụ án ông Nguyễn Thanh Chấn ở Bắc Giang, “Kỳ án Vườn Điều” và còn
nhiều vụ án khác thẫm đẫm nước mắt vẫn còn được nhắc đến như là một bài
học đắt giá trong ngành tư pháp của nước ta. Những vi phạm đó xảy ra là do
2
nhiều nguyên nhân, trong đó có bất cập, hạn chế của pháp luật, cơ chế, nhận
thức, thái độ của người tiến hành tố tụng (THTT), các quy định về chế độ
trách nhiệm của Nhà nước, cơ quan, người THTT đối với công dân... Vì vậy,
có thể nói nghiên cứu việc bảo vệ quyền con người trong các giai đoạn THTT
nói chung, bảo vệ quyền con người trong giai đoạn điều tra nói riêng trong
TTHS từ góc độ lập pháp cũng như áp dụng pháp luật có vai trò rất quan
trọng trong việc thực hiện nhiệm vụ xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội
Vũ Công Giao, ThS. Lã Khánh Tùng (đồng chủ biên) và cuốn sách nhiều tập
“Quyền con người” tiếp cận đa ngành, liên ngành của GS.TS Võ Khánh Vinh
chủ biên, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2010; v.v…
Trong các công trình này, các tác giả đã nghiên cứu khái niệm và các
đặc điểm Nhà nước pháp quyền nói chung, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa nói riêng; nghiên cứu về mối quan hệ giữa quyền con người và quyền công
dân; nghiên cứu vấn đề bảo đảm quyền con người trong Nhà nước pháp quyền.
- Nhóm thứ hai - các công trình nghiên cứu là các sách chuyên khảo,
các bài viết liên quan đến bảo vệ quyền con người trong giai đoạn điều tra các
vụ án hình sự như: a) “Cải cách tư pháp ở Việt Nam trong xây dựng Nhà
nước pháp quyền”, do TSKH Lê Cảm, TS. Nguyễn Ngọc Chí (chủ biên),
Nxb. Đại học quốc gia, Hà Nội, 2004; b) “Các tội xâm phạm quyền tự do, dân
chủ của công dân theo luật hình sự Việt Nam” của T.S Trịnh Tiến Việt (chủ
biên), Nxb. Chính trị Quốc gia Hà Nội, 2010; c) “Về tự do cá nhân và biện
pháp cưỡng chế tố tụng hình sự” của T.S Trần Quang Tiệp, Nxb. Chính trị
Quốc gia Hà Nội, 2005; d) “Những nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng hình sự
Việt Nam” của Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb. Công an nhân dân, 2000; đ)
“Bảo vệ quyền con người trong luật hình sự, luật tố tụng hình sự Việt Nam” của
T.S Trần Quang Tiệp, Nxb. Chính trị Quốc gia Hà Nội, 2004; e) “Bảo vệ quyền
con người bằng pháp luật tố tụng hình sự” của PGS. TS. Nguyễn Ngọc Chí, Tạp
chí Khoa học, chuyên san Luật học, số 23(2)/2009; v.v…
4
- Nhóm thứ ba - các công trình nghiên cứu là các đề tài nghiên cứu
khoa học, luận văn, luận án liên quan đến bảo vệ quyền con người trong giai
đoạn điều tra các vụ án hình sự như: a) Đề tài khoa học cấp Đại học quốc gia
“ Bảo vệ quyền con người bằng pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình
sự trong giai đọan xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam” do GS.TSKH.
đoạn điều tra các vụ án hình sự ở Việt Nam, đồng thời nghiên cứu thực trạng
quy định của pháp luật cũng như thực tiễn áp dụng, làm sáng tỏ những bất cập
hạn chế, để đưa ra những kiến nghị và giải pháp tăng cường bảo đảm quyền
con người ở giai đoạn điều tra các vụ án hình sự ở Việt Nam.
3.2. Nhiệm vụ
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra là:
- Làm rõ những vấn đề lý luận về quyền con người và bảo vệ quyền
con người trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự.
- Phân tích các quy định của Bộ luật tố tụng hình (BLTTHS) năm 2003
liên quan đến bảo vệ quyền con người trong giai đoạn điều tra các vụ án hình
sự; tìm ra những hạn chế và nguyên nhân của bất cập trong thực tiễn thi hành.
- Nghiên cứu kinh nghiệm của pháp luật quốc tế về việc bảo vệ quyền
con người trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự.
- Kiến nghị hoàn thiện các quy định của BLTTHS và những giải pháp
nhằm nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền con người trong giai đoạn điều tra các
vụ án hình sự ở Việt Nam.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu vấn đề lý luận quyền con người và việc bảo vệ
quyền con người trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự ở Việt Nam.
Phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật hiện hành và thực tiễn
áp dụng để đưa ra những kiến nghị, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả bảo vệ
quyền con người trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự ở Việt Nam.
6
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận văn được giới hạn trên những phạm vi sau đây:
- Những vấn đề chung về bảo vệ quyền con người trong giai đoạn điều
- Nhận diện việc vi phạm quyền con người trong giai đoạn điều tra các
vụ án hình sự, đánh giá thực trạng quyền con người được bảo vệ trong giai
đoạn điều tra các vụ án hình sự ở Việt Nam.
- Đề ra giải pháp trong việc bảo vệ quyền con người trong giai đoạn
điều tra các vụ án hình sự.
7. Kết quả nghiên cứu và ý nghĩa của luận văn
Đề tài là một đóng góp khiêm tốn trong việc giải quyết về mặt khoa học
một trong những nội dung cấp thiết hiện nay ở nước ta là bảo vệ quyền con
người. Luận văn sẽ đóng góp một phần lý luận và kinh nghiệm thực tiễn cho
việc thực hiện có hiệu quả việc bảo vệ quyền con người trong quá trình điều
tra các vụ án hình sự của các cơ quan THTT nói chung và CQĐT nói riêng
trong việc thi hành pháp luật. Kết quả của luận văn có giá trị tham khảo cho
những ai quan tâm đến lĩnh vực này.
8. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục từ ngữ viết tắt, danh mục tài
liệu tham khảo. Nội dung của luận văn kết cấu gồm 3 chương, như sau:
- Chương 1: Những vấn đề chung về bảo vệ quyền con người trong giai
đoạn điều tra các vụ án hình sự ở Việt Nam.
- Chương 2: Quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành và thực tiễn
bảo vệ quyền con người trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự ở Việt Nam.
- Chương 3: Hoàn thiện các quy định pháp luật tố tụng hình sự và
những giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền con người trong giai đoạn
điều tra các vụ án hình sự ở Việt Nam.
8
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI TRONG
GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ Ở VIỆT NAM
đây là sự kiện đánh dấu “Lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại, quyền con
người chuyển từ phạm vi thỉnh cầu, yêu sách sang phạm vi thực hiện, từ lĩnh
vực triết học sang lĩnh vực pháp lý thực tiễn” [24, tr.27].
Sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, Liên hợp quốc tuyên bố chính thức
về các quyền và tự do của con người bằng Hiến chương Liên hợp quốc 1945
và Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền năm 1948. Cụ thể hoá quyền con
người trong các văn bản trên, năm 1966, Liên hợp quốc thông qua Công ước
Quốc tế về các quyền dân sự, chính trị và Công ước quốc tế về các quyền kinh
tế, xã hội, văn hóa.
Các học giả quốc tế thường viện dẫn khái niệm quyền con người
của Văn phòng Cao ủy Liên Hợp Quốc, Quyền con người là những
bảo đảm pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm
chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc mà làm tổn hại đến nhân
phẩm, những sự được phép và tự do của con người. [56]
Lịch sử tiến hóa loài người chỉ ra rằng con người là sản phẩm cao nhất
của tự nhiên và của sự tiến hóa giống loài. Sự xuất hiện loài người với đặc
trưng cơ bản là lao động và có tư duy đã xác định vị trí, vai trò, những quyền
năng của con người trước tự nhiên và muôn loài. Con người tự tạo ra quyền
của mình và đương nhiên được hưởng, sử dụng những quyền ấy, quyền sống,
quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc và phát triển là bản chất tự nhiên của
quyền con người.
Con người từ khi xuất hiện đã là sản phẩm xã hội, lịch sử, bản chất của
con người trong tính hiện thực của nó là toàn bộ các quan hệ xã hội. Con
người là sản phẩm của xã hội, chịu sự tác động của các quy luật xã hội khách
quan nhưng con người là chủ thể của các quá trình vận động và phát triển của
10
lịch sử, xã hội. Quyền con người, một giá trị lịch sử, xã hội đương nhiên phải
bảo vệ hôn nhân và gia đình; quyền trẻ em; quyền người già...
Thế giới hiện đại với sự thay đổi thường xuyên và nhanh chóng trên tất
cả các lĩnh vực của đời sống chính trị - kinh tế - xã hội, quyền con người được
phát triển không ngừng, phong phú hơn cả về nội dung và hình thức. Cho nên,
trong quá trình phát triển của nhân loại, một số quyền con người mới được
xuất hiện như:
- Quyền phát triển: Đó là quyền của các quốc gia, dân tộc đối với chủ
quyền trên lãnh thổ của mình như: Quyền tự do lựa chọn các thể chế chính trị,
kinh tế, quyền được trợ giúp về kỹ thuật và tài chính từ các tổ chức quốc tế và
các quốc gia khác trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh
thổ. Quyền phát triển là sự hiện thực hoá quyền con người ở thế hệ thứ ba, khi
mà nhiều quốc gia từng phải gánh chịu các hậu quả nặng nề của các cuộc
chiến tranh và đang gặp phải những khó khăn trầm trọng về kinh tế như đói
nghèo, dốt nát, bệnh tật.... vì vậy họ có quyền được giúp đỡ về kinh tế, tài
chính từ các quốc gia, tổ chức khác.
Ở những mức độ khác nhau, các nước phương Tây đặc biệt là Mỹ, ngần
ngại thừa nhận quyền phát triển của các dân tộc như một quyền con người cơ
bản vì điều này dẫn đến trách nhiệm của họ với tư cách là những nước giàu,
nước phát triển đã từng vơ vét tài nguyên và bóc lột của cải vật chất, sức lao
động của các nước thuộc địa trước kia, nay phải đóng góp, hỗ trợ nỗ lực cho
sự phát triển của các nước đang phát triển và các nước nghèo. Thậm chí một
số nước phương Tây vẫn chủ trương đặt tiến bộ về nhân quyền tại một nước
(theo giác độ của họ) thành điều kiện cho việc cung cấp hay duy trì viện trợ
cho phát triển hoặc những điều kiện thuận lợi cho buôn bán, xuất khẩu… Các
nước đang phát triển khẳng định quyền phát triển là quyền phổ biến, một
13
trong những quyền cơ bản của con người. Họ bác bỏ gắn điều kiện nhân
CON NGƯỜI TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ Ở
VIỆT NAM
1.2.1. Khái niệm, nhiệm vụ của giai đoạn điều tra vụ án hình sự
1.2.1.1. Khái niệm điều tra vụ án hình sự
Điều tra là hoạt động có mục đích khám phá sự thật khách quan phục
vụ nhu cầu của con người. Trong lĩnh vực phòng, chống tội phạm, điều tra là
hoạt động khám phá, phát hiện tội phạm. Hoạt động điều tra được nhìn nhận
và quy định khác nhau ở mỗi quốc gia phụ thuộc vào quan điểm chính trị,
chính sách hình sự, trình độ và cách thức tổ chức bộ máy phòng, chống tội
phạm ở từng nước.
Ở Việt Nam, theo các từ điển luật học giải thích rằng: “Điều tra là công
tác tố tụng hình sự được tiến hành nhằm xác định sự thật của vụ án một cách
khách quan, toàn diện hay đầy đủ” [45, tr.32] hay “điều tra là tìm hiểu, xét hỏi
để biết rõ sự việc” [29, tr.526]. Trong khoa học pháp lý Việt Nam, có nhiều
quan điểm về vấn đề này như: “Điều tra vụ án hình sự là một giai đoạn tố
tụng hình sự, trong giai đoạn này cơ quan điều tra áp dụng mọi biện pháp do
Bộ luật tố tụng hình sự quy định để xác định tội phạm và người phạm tội”
[25, tr.34] hoặc “Điều tra là hoạt động tố tụng ở những giai đoạn đầu tiên của
quá trình tố tụng với nhiệm vụ chủ yếu là khôi phục lại vụ án, thu thập chứng
cứ, chứng minh có hay không tội phạm xảy ra” [13, tr.52].
Trong đời sống xã hội, yêu cầu bảo đảm pháp chế, tôn trọng và tuân thủ
nghiêm chỉnh pháp luật, phát hiện và xử lý kịp thời các hành vi xâm phạm
đến lợi ích chung của Nhà nước, của xã hội, của cơ quan, tổ chức và công dân
là một đòi hỏi khách quan trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của
bất kỳ Nhà nước nào. Tuy nhiên, khi có bất kỳ hành vi nào xâm phạm đến các
lợi ích nêu trên, để xử lý nhanh chóng, kịp thời, Nhà nước sử dụng các thiết
15
công tố và kiểm sát việc chấp hành pháp luật trong quá trình tiến hành các
hoạt động điều tra và áp dụng các biện pháp ngăn chặn. Trong quá trình thực
hành quyền công tố và kiểm sát điều tra, VKS có những nhiệm vụ, quyền hạn
cụ thể được quy định trong BLTTHS.
1.2.1.2. Nhiệm vụ của giai đoạn điều tra
“Trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự nhiệm vụ chung của CQĐT là
phát hiện, thu thập được đầy đủ hệ thống chứng cứ để chứng minh làm rõ
được những vấn đề cần phải chứng minh” [21, tr.76]. Hoạt động điều tra đảm
bảo cho việc kết luận điều tra vụ án được khách quan, toàn diện và chính xác,
đúng nội dung sự thật, đúng quy định của pháp luật. Trường hợp chứng minh
được bị can đã thực hiện tội phạm thì phải đề nghị truy tố bị can. Kết quả
công tác điều tra là cơ sở để VKS truy tố bị can trước pháp luật. Trường hợp
qua điều tra chứng minh được không có hành vi phạm tội xảy ra, hành vi
không cấu thành tội phạm hoặc có căn cứ khác để đình chỉ điều tra theo quy
định của pháp luật thì phải ra quyết định đình chỉ điều tra, tránh làm oan
người vô tội. Để hoàn thành tốt nhiệm vụ chung, CQĐT cần:
- Kịp thời áp dụng các biện pháp ngăn chặn cần thiết khi có đủ căn cứ
theo luật định để kịp thời ngăn chặn tội phạm, ngăn chặn việc tiêu hủy chứng
cứ hoặc thông đồng giữa những người phạm tội và với người khác, gây khó
khăn cản trở cho công tác điều tra, thu thập chứng cứ. Thay đổi hoặc hủy bỏ
các biện pháp ngăn chặn đã áp dụng khi không còn cần thiết; thực hiện tốt
việc thông báo về áp dụng biện pháp ngăn chặn cho cơ quan, tổ chức, cá nhân
có liên quan theo quy định của BLTTHS.
- Áp dụng và tiến hành có hiệu quả các hoạt động điều tra cần thiết theo
các tình huống điều tra cụ thể, vận dụng tốt các chiến thuật điều tra, phối hợp
chặt chẽ với các lực lượng nghiệp vụ có liên quan, sử dụng tốt các phương
tiện kỹ thuật để phát hiện kịp thời, thu thập đầy đủ các chứng cứ cần thiết,
17