Địa vị pháp lý của kiểm sát viên trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự theo pháp luật tố tụng hình sự việt nam từ thực tiễn huyện củ chi, thành phố hồ chí minh - Pdf 49

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHAN TRƢƠNG HIỀN

ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA KIỂM SÁT VIÊN TRONG GIAI
ĐOẠN ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ THEO PHÁP
LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN
HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội - 2018


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHAN TRƢƠNG HIỀN

ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA KIỂM SÁT VIÊN TRONG GIAI
ĐOẠN ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ THEO PHÁP
LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN
HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Chuyên ngành: Luật hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số: 8 38 01 04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

1.2. Khái niệm, vị trí, chức năng của Kiểm sát viên trong giai đoạn điều tra vụ án
hình sự .....................................................................................................................9
1.3. Khái niệm, nội dung địa vị pháp lý của Kiểm sát viên trong giai đoạn điều tra
vụ án hình sự .........................................................................................................14
Chƣơng 2: CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA
KIỂM SÁT VIÊN TRONG ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ ................................28
2.1. Các quy định của pháp luật về địa vị pháp lý của Kiểm sát viên trong giai
đoạn điều tra vụ án hình sự từ năm 1945 đến 2015 ..............................................28
2.2. Các quy định của pháp luật về địa vị pháp lý của Kiểm sát viên trong giai
đoạn điều tra vụ án hình sự theo Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 ....................36
Chƣơng 3: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA KIỂM SÁT
VIÊN TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ TẠI HUYỆN CỦ
CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH VÀ CÁC GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM THỰC
HIỆN ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA KIỂM SÁT VIÊN TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU
TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ ...........................................................................................47
3.1. Thực trạng thực hiện địa vị pháp lý của Kiểm sát viên trong giai đoạn điều
tra vụ án hình sự tại huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh ..............................47
3.2. Các giải pháp bảo đảm thực hiện địa vị pháp lý của Kiểm sát viên trong giai
đoạn điều tra vụ án hình sự ...................................................................................60
KẾT LUẬN ..............................................................................................................72
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BLHS

Bộ luật hình sự

BLTTHS



DANH MỤC CÁC BẢNG THỐNG KÊ SỐ LIỆU
Bảng 3.1: Số vụ án/bị can yêu cầu khởi tố, yêu cầu quyết định không khởi
tố; Viện kiểm sát hủy quyết định khởi tố bị can .......................................................48
Bảng 3.2: Tổng số người tạm giữ, tạm giam trên địa bàn huyện Củ Chi từ
năm 2013 đến năm 2017 ...........................................................................................49
Bảng 3.3: Số người bị bắt tạm giữ được thả tự do trên địa bàn huyện Củ Chi
từ năm 2013 đến năm 2017 .......................................................................................49
Bảng 3.4: Số vụ án/bị can Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi thụ lý kiểm
sát điều tra từ năm 2013 đến năm 2017 ....................................................................53


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Điều tra được coi là giai đoạn giữ vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình
tố tụng hình sự. Kết quả của giai đoạn điều tra vụ án hình sự đóng vai trò quyết định
đối với chất lượng, hiệu quả của hoạt động buộc tội và là cơ sở, nền tảng để các
chức năng tố tụng hình sự khác trong các giai đoạn tố tụng tiếp theo được tiến hành.
Giai đoạn điều tra vụ án hình sự với hoạt động tố tụng chủ đạo là hoạt động của Cơ
quan điều tra (CQĐT), được đánh giá là giai đoạn tố tụng tiềm ẩn nhiều nhất nguy
cơ sai sót, vi phạm pháp luật, kể cả những sai sót, vi phạm pháp luật nghiêm trọng
dẫn đến việc truy cứu trách nhiệm hình sự oan, sai.
Trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự, Viện kiểm sát (VKS) có chức năng,
nhiệm vụ Thực hành quyền công tố (THQCT) và kiểm sát việc tuân theo pháp luật
của CQĐT và các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động
điều tra. Với chức năng, nhiệm vụ đó, VKS giữ vai trò quan trọng trong giai đoạn
điều tra, đảm bảo tính pháp chế của hoạt động điều tra, ngay từ khi khởi tố, bắt giữ
người phạm tội, yêu cầu điều tra thu thập chứng cứ cho đến khi kết thúc điều tra
nhằm làm rõ toàn bộ sự thật khách quan của vụ án, nhằm mục đích phát hiện nhanh

cách tư pháp thì việc tiếp tục nghiên cứu cơ sở lý luận và phân tích tình hình thực
tiễn, qua đó đưa ra phương hướng, giải pháp nâng cao địa vị pháp lý của Kiểm sát
viên trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự là đòi hỏi mang tính khách quan và cấp
thiết.
Nghiên cứu về địa vị pháp lý của Kiểm sát viên trong giai đoạn điều tra vụ
án hình sự là vấn đề quan trọng, không chỉ giúp cho mọi người nhận thức đúng, đủ
về chủ thể này trong hoạt động TTHS mà còn thông qua đó hoàn thiện hệ thống
pháp luật, cơ chế tổ chức, các chế độ đãi ngộ đối với Kiểm sát viên; tạo điều kiện
cho đội ngũ Kiểm sát viên có thể thực hiện tốt vai trò của mình. Đây cũng chính là
lý do học viên chọn đề tài “Địa vị pháp lý của Kiểm sát viên trong giai đoạn điều
tra các vụ án hình sự theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn huyện
Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh” làm luận văn thạc sĩ luật học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trước luận văn đã có một số công trình nghiên cứu về Kiểm sát viên, có thể
kế đến như:
2


Nguyễn Phương Nhung, “Áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố
ở giai đoạn điều tra của Viện kiểm sát nhân dân - thực tiễn tại tỉnh Yên Bái”, Luật
văn thạc sĩ luật học 2016, Đại học quốc gia Hà Nội [12]. Công trình đã nghiên cứu
toàn diện cơ sở lý luận về thực trạng áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công
tố ở giai đoạn điều tra và đưa ra những giải pháp nhằm bảo đảm việc áp dụng pháp
luật được đúng đắn, nâng cao hơn nữa chất lượng thực hành quyền công tố của Viện
kiểm sát, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Nguyễn Thị Hạnh, “Người tiến hành tố tụng thuộc Viện kiểm sát nhân dân
theo luật tố tụng hình sự Việt Nam (Trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn Thành phố
Hà Nội)”, Luận văn thạc sĩ luật học 2015, Đại học quốc gia Hà Nội [5]. Công trình
đã nghiên cứu các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về những người tiến hành
tố tụng thuộc Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) và thực tiễn hoạt động của những

lượng Công an nhân dân hoặc bị cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền khởi
động hoặc tái khởi động tiến trình điều tra vụ án hình sự bằng các quyết định khởi
tố vụ án, điều tra bổ sung, phục hồi điều tra, điều tra lại đến khi CQĐT hoàn thành
nhiệm vụ điều tra bằng việc kết luận điều tra, đề nghị truy tố hoặc quyết định đình
chỉ điều tra vụ án. Với giới hạn không gian, thời gian nghiên cứu thực tiễn là trên
địa bàn huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn 5 năm (2013 2017).
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Luận văn nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa MácLênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, đường lối chính sách của Đảng và
Nhà nước ta về Nhà nước và pháp luật, cũng như các thành tựu của các chuyên
ngành khoa học pháp lý, những luận điểm khoa học trong các công trình nghiên
cứu, sách chuyên khảo, các bài viết đăng trên tạp chí của một số nhà khoa học.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Trong luận văn, học viên đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu như:
phương pháp lịch sử, so sánh, tổng hợp, thống kê tình hình thực tiễn kiểm sát điều
tra tại VKSND huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa mặt lý luận
Luận văn là công trình nghiên cứu có hệ thống và toàn diện các vấn đề lý
luận về địa vị pháp lý của Kiểm sát viên trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự; từ
5


đó tạo cơ sở cho việc nhận thức thống nhất về chức năng, nhiệm vụ, vị trí, vai trò
của Kiểm sát viên trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự trong giai đoạn hiện nay.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong giảng dạy và nghiên cứu
của cán bộ giảng dạy, sinh viên trong các Trường đại học Luật, các cơ sở đào tạo,
bồi dưỡng các chức danh tư pháp như Học Viện tư pháp, Trường đào tạo, bồi dưỡng
nghiệp vụ kiểm sát hoặc sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho những người quan tâm,

Trong quá trình điều tra, CQĐT được áp dụng mọi biện pháp của pháp luật
tố tụng hình sự để thu thập chứng cứ, mục đích để làm rõ sự việc phạm tội, về
người thực hiện tội phạm, nguyên nhân và điều kiện phạm tội, cũng như các tình
tiết khác có liên quan đến vụ án, kiến nghị biện pháp phòng ngừa với cơ quan và tổ
chức hữu quan. Hoạt động điều tra chính là hoạt động thu thập chứng cứ, phục vụ
cho việc xét xử của Tòa án. Việc thu thập, kiểm tra đánh giá chứng cử ở giai đoạn
điều tra có tính chất sơ bộ, phục vụ cho việc kiểm tra, đánh giá chính thức tại phiên
Tòa.
Theo “Giáo trình tố tụng hình sự Việt Nam” của trường Đại học luật Hà Nội,
Nhà xuất bản Tư pháp, năm 2006: “ Điều tra vụ án hình sự là một giai đoạn của tố
tụng hình sự; trong đó cơ quan điều tra và cơ quan khác được giao một số hoạt
động điều tra được sử dụng một số biện pháp do Luật tố tụng hình sự quy định để
thu thập chứng cứ, chứng minh tội phạm, người phạm tội và những vấn đề khác có
liên quan đến vụ án làm cớ sở cho việc xét xử của Tòa án. Đồng thời thông qua
hoạt động điều tra, xác định nguyên nhân, điều kiện phạm tội đối với từng vụ án cụ
thể và kiến nghị các biện pháp phòng ngừa đối với các cơ quan và tổ chức hữu
quan” [24]. Như vậy, giai đoạn điều tra kết thúc bằng việc cơ quan điều tra kết luận
điều tra và đề nghị truy tố hoặc ra quyết định đình chỉ vụ án. Trường hợp áp dụng
thủ tục rút gọn, khi kết thúc điều tra, CQĐT không phải làm bản kết luận điều tra
mà ra quyết định đề nghị truy tố và gửi hồ sơ cho VKS.
7


1.1.2. Nhiệm vụ và mục đích của giai đoạn điều tra vụ án hình sự
So với giai đoạn khởi tố vụ án, nhiệm vụ của giai đoạn điều tra rộng hơn và
phức tạp hơn.
Các giáo trình, tài liệu về TTHS và về khoa học điều tra hình sự trình bày về
nhiệm vụ của giai đoạn điều tra còn có sự khác nhau. Theo giáo trình Luật TTHS
của Trường Đại học Luật Hà Nội, nhiệm vụ của giai đoạn điều tra có 04 nhiệm vụ
là: Xác định tội phạm và người phạm tội; Xác định tội phạm do người phạm tội gây

được giải quyết trong tội phạm học, song nguyên nhân và điều kiện phạm tội trong
tường hợp cụ thể thì phải được xác định, làm rõ trong quá trình điều tra. Vì vậy, khi
tiến hành điều tra cần phải thu thập đầy đủ chứng cứ chứng minh tội phạm và những
nguyên nhân, điều kiện phạm tội để từ đó có biện pháp khắc phục thích hợp.
- Xác định tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra, kịp thời
có biện pháp để đảm bảo cho việc bồi thường và khắc phục hậu quả.
Luật tố tụng hình sự quy định các cơ quan điều tra có quyền kiến nghị, yêu
cầu các cơ quan khắc phục các thiếu xót trong quá trình quản lý con người, quản lý
tài sản và quản lý xã hội. Để làm được việc này, CQĐT phải xác định được tính
chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra. Những yêu cầu, kiến nghị của
CQĐT phải được các cơ quan, các tổ chức và mọi người trong xã hội nghiêm chỉnh
thực hiện và phải báo cáo các kết quả với cơ quan điều tra.
1.2. Khái niệm, vị trí, chức năng của Kiểm sát viên trong giai đoạn điều
tra vụ án hình sự
1.2.1. Khái niệm Kiểm sát viên
Hệ thống cơ quan tiến hành tố tụng trong TTHS ở Việt Nam bao gồm
CQĐT, VKS, Tòa án. Mỗi cơ quan đều có vai trò nổi bật ở những giai đoạn tố tụng
khác nhau. Trong ba cơ quan nêu trên chỉ có duy nhất VKS là cơ quan tiến hành tố
tụng tham gia xuyên suốt toàn bộ quá trình giải quyết vụ án hình sự. Từ khi thành
lập đến nay,VKS với đội ngũ cán bộ, công chức có năng lực chuyên môn, phẩm
chất chính trị vững vàng, đạo đức chuẩn mực đã có những đóng góp to lớn vào công
cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm, vi phạm pháp luật, phát hiện chính xác và xử
lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan
người vô tội; bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa, quyền con người, quyền công dân
được tôn trọng; trật tự an ninh, an toàn xã hội được giữ vững. Đóng góp vào thành
9


tích đáng tự hào của VKS là hoạt động của đội ngũ Kiểm sát viên - những người đại
diện trực tiếp cho VKS tham gia quá trình TTHS theo quy định của pháp luật.

kiểm sát các hoạt động tư pháp” [28, Điều 1]. Khái niệm trên đã xác định đúng về
nhiệm vụ của Kiểm sát viên từ giác độ chức năng hiện hành của VKSND nhưng
cũng tồn tại những hạn chế trong cách xây dựng khái niệm như trong Từ điển Luật
học.
Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 đã thay thế pháp lệnh Kiểm
sát viên năm 2002, theo đó Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 quy
định cụ thể khái niệm Kiểm sát viên tại Điều 74: “Kiểm sát viên là người được bổ
nhiệm theo quy định của pháp luật để thực hiện chức năng thực hành quyền công
tố, kiểm sát hoạt động tư pháp”. Như vậy, khái niệm này đã xác định đúng về
nhiệm vụ của Kiểm sát viên là thực hiện hai chức năng thực hành quyền công tố và
kiểm sát hoạt động tư pháp. Từ khái niệm trên, chúng ta có thể hiểu rõ các vấn đề
sau:
Thứ nhất, cần khẳng định Kiểm sát viên là một công chức Nhà nước, là công
chức nhà nước, có nghĩa trước tiên họ phải thỏa mãn các điều kiện của một công
chức trong bộ máy Nhà nước. Theo Luật cán bộ công chức năm 2008 thì Kiểm sát
viên là công chức Nhà nước, có nghĩa họ phải là công dân Việt Nam được tuyển
dụng, bổ nhiệm vào ngạch công chức hoặc giao giữ một công vụ thường xuyên
trong các cơ quan nhà nước ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện, hưởng lương từ
ngân sách nhà nước, được xếp vào một ngạch công chức nhất định. Kiểm sát viên là
một công chức của VKS - người được bổ nhiệm theo quy định của pháp luật để
thực hiện chức năng của VKS là thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động
tư pháp. VKS thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình thông qua hệ thống công
chức là người tiến hành tố tụng như Viện trưởng, Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên,
Kiểm tra viên và những công chức khác, những bộ phận giúp việc khác. Như vậy,
Kiểm sát viên là một trong số các công chức góp phần thực hiện các chức năng,
nhiệm vụ của VKS. Hiến pháp 2013 quy định: “Viện kiểm sát nhân dân thực hành
quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp” [17, Điều 107]. Kiểm sát viên là chủ
thể tiến hành tố tụng, có vai trò quan trọng và trực tiếp trong việc thực hiện chức
năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong suốt quá
trình giải quyết vụ án hình sự của VKS.

sát viên là người được bổ nhiệm theo quy định của pháp luật để thực hiện chức
năng THQCT và KSHĐTP. Kiểm sát viên là công chức của ngành Kiểm sát, có vị
12


trí vai trò chủ yếu trong việc thực hiện chức năng của VKS. Vị trí của Kiểm sát viên
được nhìn nhận từ sự vận hành và phát triển, đảm bảo chức năng của Viện kiểm sát
được thực hiện trên thực tế.
Kết quả hoạt động của VKS là sản phẩm của toàn bộ hoạt động tư pháp.
Viện kiểm sát thực hiện chức năng của mình thông qua hoạt động của những con
người cụ thể. Trong cơ cấu tổ chức của VKS có rất nhiều chức danh như Kiểm sát
viên, Điều tra viên, Kiểm tra viên... Nhưng chỉ duy nhất KSV mới được pháp luật
trao cho quyền THQCT và KSHĐTP. Trước đây, ở chế độ phong kiến khi chưa có
sự tách biệt giữa ba quyền tư pháp, hành pháp và lập pháp thì Vua chính là quan
Tòa, người xét xử tối cao. Đến khi cách mạng tư sản ra đời đã tạo ra một cuộc cách
mạng mới về tư tưởng. Chính đều này đã hình thành nên một nhánh quyền lực độc
lập, đó là quyền tư pháp và cũng từ đó hình thành nên đội ngũ quan chức mới trong
bộ máy nhà nước. Đó là những con người làm công tác tư pháp nói chung và công
tác Kiểm sát nói riêng.
Thực hành quyền công tố và KSHĐTP là chức năng Hiến định của VKS.
Trong mỗi giai đoạn tố tụng, Kiểm sát viên là những người có vai trò chủ yếu trong
việc thực hiện chức năng này. Thông qua chức năng được pháp luật trao, Kiểm sát
viên góp phần vào việc bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích cả nhà
nước, của xã hội, bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm của
người dân. Mỗi quyết định, đề xuất của Kiểm sát viên có thể dẫn tới chỗ công dân,
pháp nhân được hưởng quyền và lợi ích hoặc phải gánh chịu các hậu quả pháp lý
nhất định. Đặc biệt trong lĩnh vực hình sự, mà cụ thể tại giai đoạn điều tra vụ án, đề
xuất của Kiểm sát viên dẫn đến hậu quả pháp lý vô cùng nghiêm trọng đối với
người bị kết tội. Sai lầm trong hoạt động kiểm sát của KSV sẽ dẫn đến trình trạng
khởi tố oan, sai. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến một cá nhân mà có thể làm ảnh

định của BLTTHS. Và những người đó được gọi là những người tiến hành tố tụng
với địa vị pháp lý rất khác nhau.
Tại VKS, những người tiến hành tố tụng gồm có: Viện trưởng, Phó Viện
trưởng, Kiểm sát viên, Điều tra viên. Kiểm sát viên ở Việt Nam bao gồm: Kiểm sát
viên VKSND tối cao, Kiểm sát viên cao cấp, KSV Trung cấp, KSV sơ cấp và Kiểm
sát viên VKS quân sự các cấp.
14


Kiểm sát viên còn được hiểu theo nghĩa là một chức danh tư pháp. Cho đến
nay ở nước ta chưa có văn bản pháp luật nào của nhà nước quy định về khái niệm
chức danh tư pháp. Có quan điểm cho rằng những người nào trực tiếp thực hiện
quyền lực tư pháp thì mới là chức danh tư pháp. Do vậy, chức danh tư pháp bao
gồm Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Kiểm tra viên, Hội
thẩm, Thẩm tra viên. GS.TS. Võ Khánh Vinh cho rằng “chức danh tư pháp bao
gồm những người thực thi nhiệm vụ trong các cơ quan tư pháp (điều tra, truy tố, xét
xử, thi hành án) được đào tạo kỹ năng thực hành nghề và hành nghề theo một
chuyên môn nhất định, có danh xưng, được bổ nhiệm hoặc thừa nhận theo pháp
luật khi đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn và điều kiện xác định theo quy định của
pháp luật.” [40, tr. 5]. Trong các chức danh tư pháp thì KSV được xác định là một
chức danh tư pháp quan trọng và có ý nghĩa quyết định đến việc thực hiện quyền tư
pháp.
Như vậy, chúng ta có thể rút ra khái niệm địa vị pháp lý của KSV là “Tổng
thể các quy định của pháp luật về vị trí, vai trò, quyền và nghĩa vụ pháp lý của
Kiểm sát viên khi tiến hành các hành vi tố tụng được pháp luật quy định”.
Từ khái niệm trên, chúng ta có thể nhận thấy, nội hàm địa vị pháp lý của
KSV trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự được phản ánh và thể hiện ở những
phương diện:
- Vai trò của KSV trong các mối quan hệ tố tụng của giai đoạn điều tra vụ án
hình sự.

phải thường xuyên báo cáo với Viện trưởng, Phó viện trưởng. Mối quan hệ giữa
Viện trưởng, Phó Viện trưởng với Kiểm sát viên trong cùng một cơ quan VKSND
được điều là mối quan hệ chỉ huy, mệnh lệnh - phục tùng, xuất phát từ sự phân định
thẩm quyền hành chính và quyền hạn trong TTHS của các chức danh này. Thẩm
quyền của Viện trưởng, Phó Viện trưởng theo quy định của pháp luật mang tính
mệnh lệnh và phải được Kiểm sát viên chấp hành nghiêm chỉnh. Trong chỉ đạo
nghiệp vụ, Viện trưởng ra quyết định phân công Kiểm sát viên thực hành quyền
công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp; có trách nhiệm giám sát các hoạt động và
chỉ đạo kịp thời các vấn đề nghiệp vụ đối với Kiểm sát viên và chịu trách nhiệm về
các quyết định của mình.
Kiểm tra viên là chức danh tư pháp, được bổ nhiệm theo quy định của pháp
luật để giúp Kiểm sát viên thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp.
16


Kiểm tra viên được hiểu là người giúp Kiểm sát viên thực thi nhiệm vụ, quyền hạn
của mình theo quy định của pháp luật. Kiểm tra viên được phân công giúp việc cho
Kiểm sát viên trong quá trình giải quyết vụ án nên trong mối quan hệ này, Kiểm sát
viên giữ vai trò chỉ đạo nhiệm vụ cho Kiểm tra viên, hướng dẫn, giám sát, kiểm tra
Kiểm tra viên thực hiện các hoạt động tố tụng theo quy định của pháp luật. Kiểm tra
viên tiến hành nghiên cứu hồ sơ, báo cáo kết quả với Kiểm sát viên, thực hiện
nhiệm vụ được giao và chịu trách nhiệm trước Kiểm sát viên.
Thứ hai, mối quan hệ giữa Kiểm sát viên với Điều tra viên, người được giao
một số nhiệm vụ khác ngoài VKS.
Quá trình giải quyết vụ án hình sự có sự tham gia của nhiều cơ quan tiến
hành tố tụng và người tiến hành tố tụng thuộc các cơ quan đó. Tham gia giải quyết
các vụ án hình sự, chủ thể có mối quan hệ với Kiểm sát viên không chỉ có Viện
trưởng, Phó viện trưởng, Kiểm tra viên trong cùng một cơ quan VKS mà còn bao
gồm những người tiến hành tố tụng khác, người được giao một số nhiệm vụ khác
ngoài VKS.

tra của Điều tra viên được phân công giải quyết vụ án hình sự; đồng thời có trách
nhiệm thông báo các kết quả giải quyết vụ án cho Điều tra viên. Cơ chế kiểm soát
lẫn nhau giúp loại bỏ các hành vi vi phạm pháp luật, tăng hiệu quả hoạt động của
các bên khi tham gia điều tra vụ án hình sự. Bên cạnh đó, VKS và các CQĐT này
thuộc hệ thống cơ quan nhà nước khác nhau, có sự độc lập nhất định và không có sự
ràng buộc với nhau trong quan hệ hành chính. Pháp luật TTHS cũng không có
những quy định và chế tài về chế độ trách nhiệm của từng cơ quan, của những
người tiến hành tố tụng, của Kiểm sát viên, của Điều tra viên một cách cụ thể rõ
ràng để đảm bảo thực hiện mối quan quan hệ này [29, tr. 48]. Do đó, trong quá trình
điều tra, thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra thì cần phải có sự phối hợp
giữa Kiểm sát viên với Điều tra viên, những người được giao nhiệm vụ tiến hành
một số hoạt động điều tra. Chất lượng của hoạt động TTHS trong giai đoạn điều tra
phụ thuộc rất nhiều vào trình độ nhận thức, phương pháp cùng sự phối hợp nhịp
nhàng và hiệu quả của các Kiểm sát viên, Điều tra viên tham gia vụ án.
Thứ ba, mối quan hệ giữa Kiểm sát viên với những người tham gia tố tụng.
Những người tham gia TTHS trong giai đoạn điều tra bao gồm người bị kiến
nghị khởi tố; người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp; người bị bắt; người bị tạm
giữ; người bị hại; nguyên đơn dân sự; bị đơn dân sự; người có quyền lợi, nghĩa vụ
18


liên quan đến vụ án; người làm chứng; người bào chữa; người bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của đương sự, của người bị tố giác, bị kiến nghị khởi tố; người phiên
dịch, người dịch thuật; người giám định; người định giá tài sản, người đại diện theo
pháp luật của pháp nhân phạm tội. Các chủ thể này đều có một vị trí nhất định trong
quá trình điều tra vụ án hình sự mà hoạt động của họ góp phần khẳng định vai trò
của Kiểm sát viên trong thực thi các nhiệm vụ, chức năng của VKS.
Kiểm sát viên đại diện cho VKS thực hành quyền công tố và kiểm sát tư
pháp trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự. Trong mối quan hệ với các chủ thể
tham gia TTHS ở giai đoạn này, Kiểm sát viên đóng vai trò là người đại diện cho


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status