VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN ANH HOÀNG
BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI CỦA BỊ CÁO TRONG
XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Ngành: LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ
Mã số: 8.38.01.04
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. NGUYỄN VĂN ĐIỆP
Tháng 8, năm 2020
LỜI CAM ĐOAN
Tơi xin cam đoan đây là cơng trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết quả
nêu trong luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy
định.
Tác giả
Nguyễn Anh Hoàng
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU....................................................................................................................1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN CON
Bộ luật dân sự 2015
BLHS 2015:
Bộ luật hình sự 2015
BLTTDS:
Bộ luật tố tụng dân sự
BLTTHS 2015: Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015
BLTTHS:
Bộ luật tố tụng hình sự
CQĐT:
Cơ quan điều tra
ĐTV:
Điều tra viên
KSV:
Kiểm sát viên
LS:
XHCN:
Xã hội chủ nghĩa
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu
Quyền con người là những nội dung quan trọng của Hiến pháp, kết tinh những giá
trị cao đẹp trong nền văn hóa của các dân tộc. Đây không chỉ là những ngôn ngữ chung
mà còn là “sản phẩm chung”, “mục tiêu chung” của mọi quốc gia, dân tộc trên thế giới
Bảo đảm quyền con người là một trong những yêu cầu, nhiệm vụ cơ bản và quan
trọng nhất trong công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta
hiện nay. Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02-6-2005 của Bộ chính trị về chiến lược cải
cách tư pháp đến năm 2020 nêu rõ phương hướng, nhiệm vụ: “….hoàn thiện các thủ tục
tố tụng tư pháp, bảo đảm tính đồng bộ, dân chủ, công khai, minh bạch, tôn trọng và bảo
vệ quyền con người”.
Hoạt động tố tụng hình sự là hoạt động liên quan rất chặt chẽ với quyền con người,
là hoạt động sử dụng quyền lực nhà nước để cưỡng chế; là nơi quyền con người của các
chủ thể tố tụng, đặc biệt là bị can, bị cáo có nguy cơ dễ bị xâm hại nhất, vì sử dụng các
biện pháp ngăn chặn ảnh hưởng trực tiếp đến các quyền cơ bản của con người.
Thực tiễn trong những năm qua cho thấy vẫn còn nhiều trường hợp vi phạm quyền
con người trong quá trình tiến hành tố tụng. Những vi phạm thường biểu hiện như: vi
phạm các thủ tục tố tụng trong xét xử, tranh tụng, bào chữa, áp dụng và viện dẫn sai điều
luật, nhận định sai tình tiết vụ việc….Các hành vi này không những xâm phạm trực tiếp
quyền cơ bản của con người là quyền công bằng, quyền tự do thân thể, sức khỏe, tôn
trọng danh dự, nhân phẩm của con người mà còn xâm phạm đến nền pháp chế XHCN,
làm mất niềm tin của nhân dân vào các cơ quan pháp luật. Những vi phạm trên xuất phát
từ nhiều nguyên nhân, trong đó phải kể đến là do trình độ năng lực ý thức tuân thủ pháp
luật của các cán bộ trong các cơ quan tố tụng cịn hạn chế, tiếp đến là chính sách pháp
luật hình sự, tố tụng hình sự chưa rõ ràng, chi tiết, vẫn còn tồn tại những hạn chế bất cập
Để thực hiện mục đích đó luận văn có những nhiệm vụ sau:
- Thứ nhất, làm rõ khái niệm bị cáo, quyền của bị cáo trong TTHS Việt Nam, xác
định và phân tích cơ sở pháp lý và nội dung các quyền của bị cáo trong xét xử; thủ tục tố
tụng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, nghiên cứu so sánh lịch sử hình thành và phát triển
quyền của bị cáo và thủ tục tố tụng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự trong hệ thống tư pháp
hình sự thế giới và Việt Nam; xác định các cơ chế, điều kiện bảo đảm hiện thực hóa các
quyền đó trong điều kiện thực tế của Việt Nam.
- Thứ hai, đánh giá thực trạng các qui định pháp luật về quyền của bị cáo và thủ tục
tố tụng hình sự; thực trạng thực hiện các quyền và thủ tục đó ở Việt Nam từ 2003 đến
nay, bao gồm: làm rõ nghĩa vụ thực thi của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng,
người có thẩm quyền tiến hành tố tụng; nêu và phân tích bằng các số liệu, tình huống
điển hình về bức tranh hiện thực phản ánh việc bảo đảm quyền con người của bị cáo
trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh, đồng thời so
sánh với kinh nghiệm một số nước trên thế giới. Từ đó đề xuất phương pháp để bảo đảm
quyền con người của bị cáo trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự ở Việt Nam.
4. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các quan điểm khoa học, các quy định của luật
TTHS hiện hành và thực tiễn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh
trong việc bảo đảm quyền con người của bị cáo.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận và thực tiễn về bảo đảm
quyền con người của bị cáo trong xét xử sơ thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh từ giai đoạn
2010 đến nay.
8
thành viên trong xã hội loài người – quyền của tất cả mọi người. Đó là nhân phẩm, nhu
cầu, lợi ích và năng lực của con người được thể chế hóa (ghi nhận) trong pháp luật quốc
tế và pháp luật quốc gia”.
Theo quan điểm của các nhà triết học, chính trị học thời kỳ Khai sáng (thế kỷ
XVII) thì quyền con người là các quyền không thể tước bỏ được; đây là các quyền tự
nhiên (natural right) do tạo hóa ban cho họ mang tính bẩm sinh, vốn có của các cá nhân,
khi sinh ra đã được thừa hưởng. Các quyền này không một xã hội hay một chính phủ nào
có thể ban phát, xóa bỏ hoặc “chuyển nhượng” và nó khơng phụ thuộc vào các phong tục,
tập quán, truyền thống văn hóa,… đây là các quyền vốn có của các cá nhân. Theo quan
điểm của tác giả đây là định nghĩa đầy đủ và mang tính bao quát nhất về quyền con
người. Mặc dù nó ra đời từ thế kỷ XVII nhưng vẫn cịn ngun tính giá trị cho đến ngày
nay, kế thừa quan điểm này các nhà chính trị đã phát triển định nghĩa quyền con người để
làm kim chỉ nam cho các tun ngơn đó là: “Quyền sống, quyền tự do, và quyền mưu cầu
hạnh phúc”
1.2. Khái niệm quyền con người trong tố tụng hình sự Việt Nam và luật pháp
quốc tế.
Tố tụng hình sự là quá trình giải quyết vụ án hình sự theo quy định của pháp luật
bao gồm các giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự. Mỗi giai
đoạn tố tụng thực hiện chức năng khác nhau nhưng chúng có mối liên hệ thống nhất cùng
hướng về mục đích là giải quyết vụ án hình sự. Hoạt động tố tụng hình sự một mặt là
phát hiện và xử lý tội phạm, bảo vệ người bị hại trước hành vi vi phạm của tội phạm
nhưng cũng đồng thời phải bảo vệ quyền con người. Ở đây tác giả chỉ muốn đề cập đến
10
các khái niệm bảo đảm quyền con người trong giai đoạn tố tụng xét xử sơ thẩm. Theo
Hiến pháp 2013 đã nêu rõ: “khơng ai bị coi là có tội khi chưa có bản án có hiệu lực của
pháp luật”, vì vậy trong các giai đoạn TTHS chưa có kết luận của Tịa án thì bị can, bị
cáo vẫn chưa bị coi là có tội, thậm chí theo ngun tắc của luật TTHS bản án có hiệu lực
khi bản án đó phải tn theo đúng quy trình thủ tục TTHS thì bản án mới được thi hành,
1966 (ICCPR); Hiến chương Liên Hợp Quốc về quyền con người, 1945, Các quy tắc
hành động của cán bộ thi hành pháp luật, 1979, Các nguyên tắc cơ bản về tính độc lập
của tồ án, 1985; Các ngun tắc cơ bản về vai trò của Luật sư, 1990; Các hướng dẫn về
vai trị của Cơng tố viên, 1990…… đã ghi nhận quyền con người một cách rõ ràng.
Theo UHDR và ICCPR quyền con người trong TTHS được quy định tại các điều 5,
7, 9, 10, 11, 14, 15 bao gồm các quyền sau: Quyền được xét xử công bằng bởi một thủ
tục tố tụng hình sự; Quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm và
quyền tự do cá nhân khác; Quyền được nhanh chóng minh oan; Quyền được bào chữa và
biện hộ, Quyền không bị xét xử quá mức chậm trễ; Quyền không bị kết tội hai lần về
cùng một hành vi; Quyền được suy đốn vơ tội; Quyền kháng cáo bản án để xét xử phúc
thẩm; Người chưa thành niên phải được áp dụng thủ tục tố tụng hình sự đặc biệt;…..
1.3
Khái niệm bị cáo trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam
Bộ Luật TTHS 2015 dành một chương trong bộ luật để định nghĩa về những người tham
gia TTHS, trong đó tại điều 61 của Bộ Luật TTHS 2015 định nghĩa bị cáo như sau: “Bị
cáo là người hoặc pháp nhân đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử. Quyền và nghĩa vụ
của bị cáo là pháp nhân được thực hiện thông qua người đại diện theo pháp luật của pháp
nhân theo quy định của Bộ luật TTHS này”. Vì vậy có thể hiểu là bị cáo là người bị khởi
tố về hình sự, bị Viện kiểm sát truy tố và bị Tòa án đưa ra xét xử, bị cáo được hiểu là
người bị cáo buộc vi phạm một tội nào đó trong Bộ luật hình sự, khác với trường hợp bị
can đó là người hoặc pháp nhân bị khởi tố về hình sự mà chưa có quyết định của Tòa án
đưa ra xét xử, bị can được hiểu là người liên can đến một vi phạm nào đó. Qua phân tích
trên có thể thấy bị cáo là tư cách pháp lý của người tham gia tố tụng hình sự sau quá trình
điều tra, truy tố, hồ sơ vi phạm của bị cáo đã được chuyển sang Tòa án và Tòa án nhận
thấy cần thiết đưa bị cáo ra xét xử bằng một quy trình và thủ tục TTHS.
12
khi họ bị buộc tội phản ảnh rõ mức độ tơn trọng nhân quyền của Nhà nước đó. Quyền xét
xử công bằng được coi như nền tảng của các xã hội dân chủ và là quyền thiết yếu
(essential) trong mọi quốc gia pháp trị - The Right to a Fair Trial). Nhóm quyền này là
tập hợp các quyền bao gồm: Bình đẳng trước Tịa án; Quyền được xét xử nhanh chóng và
được xét xử bởi một Tịa án độc lập, khơng thiên vị, cơng khai; Được suy đốn vơ tội;
Khơng bị áp dụng hồi tố; Khơng hình sự hóa vụ án dân sự, Quyền kháng cáo bản án để
xét xử phúc thẩm; Quyền không bị kết tội hai lần về cùng một hành vi; Quyền bào chữa ;
Quyền được xét xử theo thủ tục riêng của người chưa thành niên.....
Quyền của bị cáo trong xét xử hình sự có thể hiểu là quyền của người bị
buộc tội trong vụ án hình sự trước cơ quan tư pháp. Về nhóm quyền này tại Điều 10
Tuyên ngôn nhân quyền quốc tế 1948 (UDHR) nêu rõ: “Ai cũng có quyền, trên căn bản
hồn tồn bình đẳng, được một Tồ án độc lập và vô tư xét xử một cách công khai và
công bằng để phán xử về những quyền lợi và nghiã vụ của mình, hay về những tội trạng
hình sự mà mình bị cáo buộc”. Cũng tại Khoản 1 điều 11 của tuyên ngôn trên: “Bị cáo bị
cáo buộc về một tội hình sự được suy đốn là vơ tội cho đến khi có đủ bằng chứng phạm
pháp trong một phiên xử công khai với đầy đủ bảo đảm cần thiết cho quyền biện hộ”. Có
thể nói thêm rằng những bằng chứng phạm pháp và thủ tục xét xử phải được thu thập
theo đúng quy trình pháp luật TTHS, khi chưa có bản án có hiệu lực của Tịa án thì bị
cáo phải được coi là vơ tội, được đối xử bình đẳng, công bằng và tôn trọng. Đây là bước
tiến vĩ đại của nhân loại trong tư duy pháp lý về nhân quyền, nó phải được xem như là sợi
chỉ đỏ xuyên suốt trong tư duy của cơ quan tư pháp từ giai đoạn người phạm tội bị tình
đến khởi tố, điều tra, bắt tạm giam và xét xử.
Quyền được xét xử nhanh chóng để xác định tính hợp pháp của việc bắt giữ
người cũng được cụ thể hóa bằng Điều 9 của Công ước quốc tế (ICCPR) năm 1966: “Bất
tội đều có quyền u cầu tồ án cấp cao hơn xem xét lại bản án và hình phạt đối với mình
theo quy định của pháp luật, 14) Tố tụng hình sự áp dụng đối với những người dưới 18
tuổi phải xem xét tới độ tuổi của họ và mục đích thúc đẩy sự phục hồi nhân cách của họ.
Mặt khác, tại các nước thuộc liên minh Châu Âu thì Cơng ước Châu Âu cũng quy
định rất rõ về quyền của con người. Điều 6 của Công ước này quy định quyền xét xử
15
cơng bằng, trong đó có quyền của người bị buộc tội, đây là điều khoản được viện dẫn
nhiều nhất bởi Ủy ban Châu Âu và Tòa án nhân quyền Châu Âu bao gồm các điều khoản:
Điều 6.1 Công ước quy định người bị buộc tội có quyền được xét xử bởi Tịa án; các bên
được đối xử cơng bằng trong xét xử và có quyền tham gia phiên tịa và xét xử công khai
trong việc giải quyết các vụ việc dân sự và hình sự bao gồm 2 nội dung, một là quy định
quyền của người bị buộc tội – điều này đã xác định các nguyên tắc cơ bản để bảo đảm
các quyền lợi của người bị buộc tội, trên cơ sở các nguyên tắc trong hoạt động tố tụng.
Điều 6.2, Công ước quy định người bị buộc tội được suy đốn là khơng có tội cho đến
khi tội phạm được chứng minh theo quy định của pháp luật – Nguyên tắc này đặt ra
nhiệm vụ cho Tòa án phải xem xét vấn đề theo hướng có lợi cho bị cáo mà không bị ràng
buộc bởi bất cứ định kiến nào, và chỉ có thể kết tội anh ta trên cơ sở đã xem xét, đánh giá
các chứng cứ được xem là hợp pháp và được thu thập theo một trình tự, thủ tục luật định.
Như vậy, theo cơng ước này quy định sự kết tội của tòa án chỉ có giá trị pháp lý khi dựa
trên việc đánh giá và xem xét một cách khách quan các chứng cứ đã được thu thập theo
một trình tự và thủ tục hợp pháp. Ngun tắc suy đốn là khơng có tội buộc tịa án phải
nhìn nhận bị cáo trên quan điểm là khơng có tội, nếu ngay từ đầu Tịa án coi bị cáo là
người có tội thì tại phiên tịa xét xử, Tịa án sẽ tập trung đi tìm chứng cứ buộc tội mà
không tập trung đánh giá các chứng cứ, ý kiến tranh luận của các bên để tìm ra sự thật
của vụ án. Đồng thời nếu coi bị cáo là người phạm tội thì ngay cả giai đoạn điều tra cũng
không bảo đảm công bằng, cơ quan điều tra sẽ có định hướng cố tìm ra bằng chứng để
kết tội người bị buộc tội hơn là tìm ra chứng cứ khách quan. Và như vậy sẽ gây bất lợi và
bào chữa (Điều 6)
_Bộ Luật TTHS Pháp hiện hành quy định quyền của của bị cáo trong xét xử:
Nguyên tắc bảo đảm quyền con người trong pháp luật TTHS của Pháp được đề cập
ngay tại Điều 1- P - Điều khoản sơ bộ bao gồm các ngun tắc:
+Tố tụng hình sự phải cơng bằng và tranh tụng, duy trì sự cân bằng về quyền giữa
các bên. Những người nào thuộc các trường hợp tương tự nhau và bị truy tố bởi các tội
danh giống nhau thì phải được xử lý theo các quy định pháp luật giống nhau.
17
+Cơ quan tư pháp bảo đảm là các nạn nhân được thông báo và các quyền của họ
được tôn trọng trong suốt bất kỳ quá trình tố tụng nào.
+ Bất kỳ ai bị nghi ngờ hoặc truy tố được suy đốn vơ tội chừng nào chưa chứng
minh được tội của họ. Việc vi phạm ngun tắc suy đốn vơ tội bị cấm, và phải bị bồi
thường, trừng phạt trong các trường hợp luật định.
+Người này có quyền được thơng báo về cáo buộc chống lại họ và được bào chữa
về mặt pháp lý.
+Các biện pháp cưỡng chế mà người này phải chịu được tiến hành bởi hoặc dưới sự
kiểm soát hiệu quả của cơ quan tư pháp. Chúng phải được giới hạn một cách nghiêm ngặt
trong sự cần thiết của tiến trình, tương ứng với mức độ nghiêm trọng của tội phạm bị cáo
buộc và không xâm phạm phẩm giá của con người.
+Việc buộc tội đối với người này phải được đưa ra trước phán quyết cuối cùng
trong thời gian hợp lý.
+Bất kì ai bị kết án có quyền được Toà án cấp thứ hai thẩm tra việc kết án.
_Bộ
TTHS Liên bang Nga cũng thể hiện rõ mục tiêu bảo vệ lợi ích của con người,
bảo vệ lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức là nạn nhân của tội phạm, không hạn chế
điểm tiến bộ và quy đinh đầy đủ hơn về quyền con người trong TTHS nói chung và giai
đoạn xét xử nói riêng so với pháp luật Việt Nam. Cụ thể là luật nhân quyền quốc tế đã ghi
nhận cho bị cáo được quyền xét xử nhanh chóng, quyền im lặng, trong khi pháp luật Việt
Nam chưa có ghi nhận chính thức về những quyền này mà chỉ quy nhận một cách gián
tiếp qua các quy định khác. Có thể thấy rằng so với luật quốc tế thì các văn bản chúng ta
đã nội luật hóa thường có nội hàm hẹp hơn. Xét một cách tổng quát các quy định của
Luật nhân quyền quốc tế ln mang tính nhân văn, vì con người vì Luật nhân quyền quốc
tế ra đời nhằm mục đích xác lập, bảo vệ và thúc đẩy các quyền và tự do cơ bản cho mọi
thành viên của cộng đồng nhân loại. Trong khi đó pháp luật Việt Nam ra đời ngoài mục
19
đích bảo vệ các quyền con người, cịn phải hướng đến mục đích khác nhau như: vừa là để
đấu tranh phòng chống tội phạm, vừa xử phạt người phạm tội, vừa bảo vệ lợi ích nhà
nước và cộng đồng, bảo vệ các giá trị xã hội, vừa nội luật hóa các vấn đề liên quan đã
tham gia trong các công ước quốc tế, vừa phải xuất pháp từ thực tiễn của quốc gia. Do
đó, một số các quy định bảo đảm quyền con người trong pháp luật Việt Nam có thể bị
lược bỏ hoặc sửa đổi cho phù hợp với thực tế Việt Nam là điều tất nhiên.
1.5. Bảo đảm quyền con người của bị cáo trong xét xử theo Luật Tố tụng hình
sự Việt Nam từ năm 2015 đến nay
1.5.1 Quy định bảo đảm quyền không phân biệt đối xử và đối xử bình đẳng
Điều 9, Bộ luật TTHS 2015 nêu rõ: Quyền bình đẳng của mọi cơng dân được hiểu
là sự bình đẳng như nhau của mọi cơng dân trong mọi lĩnh vực của hoạt động nhà nước
và xã hội mà khơng có sự ưu tiên, ưu đãi, phân biệt đối xử với bất cứ đối tượng nào.
Không phân biệt dân tộc, giới tính, tín ngưỡng, tơn giáo, thành phần, địa vị xã hội. Điều
này được hiểu theo luật TTHS là bất cứ người nào phạm tội đều bị xử lý theo trình tự thủ
tục của pháp luật TTHS khơng phân biệt dân tộc, giới tính, tín ngưỡng, tôn giáo, thành
phần, địa vị xã hội; mọi công dân ở địa vị pháp lý như nhau thì có quyền và nghĩa vụ tố
tụng như nhau, áp dụng pháp luật như nhau.
trong q trình tố tụng phải được giải thích theo hướng có lợi cho người bị buộc tội. Luật
hoá nguyên tắc suy đốn vơ tội nhằm thay đổi nhận thức của người tiến hành tố tụng và
quan điểm của nhà nước nhằm bảo đảm quyền con người trong TTHS. Luôn quan niệm
bản chất coi người theo hướng nhân văn, lương thiện, tránh quan niệm “Giết nhầm cịn
hơn bỏ sót”.
1.5.3 Ngun tắc bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo
Theo quy định của điều 16 BLTTHS thì người bị buộc tội có quyền tự bào chữa,
nhờ Luật sư hoặc người khác bào chữa. Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng
có trách nhiệm thơng báo, giải thích và bảo đảm cho người bị buộc tội, bị can, bị cáo
21
thực hiện đầy đủ quyền bào chữa nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ theo quy
định của Bộ luật TTHS.
Quy định về quyền bào chữa cũng là một trong những nguyên tắc rất quan trọng
trong TTHS nhằm bảo đảm QCN của bị cáo. Bị cáo có quyền tự bào chữa hoặc nhờ
người bào chữa để chứng minh sự vô tội hoặc nhằm làm giảm nhẹ tội trước những cáo
buộc của cơ quan tố tụng đặt ra cho họ. Hay nói cách khác quyền bào chữa được pháp
luật quy định để người bị buộc tội chống lại sự buộc tội hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm
hình sự. Luật TTHS cũng quy định cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có
trách nhiệm thơng báo, giải thích và bảo đảm quyền được bào chữa của bị cáo. Bởi vì hơn
ai hết bị cáo là người hiểu rõ sự việc của vụ án. Vì vậy, quy định bị cáo có quyền tự bào
chữa là hết sức cần thiết. Trong những trường hợp, bị cáo là người dưới 18 tuổi, người
có nhược điểm về thể chất và tâm thần, người bị truy tố về tội có khung hình phạt từ 20
năm tù trở lên nếu bị cáo hoặc người đại diện hợp pháp của họ không nhờ người bào
chữa thì Tịa án phải chỉ định người bào chữa cho họ. Người bị buộc tội hoặc người đại
diện, người thân thích của người bị buộc tội quy định tại điểm b khoản 1 Điều 76 của Bộ
luật TTHS có quyền từ chối người bào chữa. Nhưng trong trường hợp người bị truy tố về
tội có khung hình phạt từ 20 năm tù trở lên thì luật yêu cầu bắt buộc phải có người bào
trước phiên tòa xét xử.
Bảo đảm thực hiện quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa của bị cáo,
BLTTHS 2015 đã có những quy định về quyền của bị cáo tại các Điều 58, Điều 59, Điều
60, Điều 61 đó là các quyền:
+ Được biết lý do mình bị bắt, tạm giữ, bị khởi tố. Đây là yếu tố cơ bản nhất để
tránh trường hợp bắt giữ người tùy tiện, đồng thời cũng là bảo đảm quyền bào chữa của
họ bởi vì điều đầu tiên khi biết tội danh đang bị cơ quan thẩm quyền buộc tội gì thì họ
mới có thể đưa ra những chứng cứ, lý lẽ để bào chữa.
+ Được thơng báo, giải thích về quyền và nghĩa vụ theo luật: Ngoài việc giao quyết
định tạm giam, tạm giữ, quyết định khởi tố.... thì Cơ quan điều tra phải thơng báo, giải
thích cho bị can biết quyền và nghĩa vụ của họ tạo điều kiện cho người bị bắt, bị giữ, bị
23
can thực hiện tốt các quyền và nghĩa vụ của họ để tạo thuận lợi cho việc bào chữa của bị
cáo sau này.
+ Được nhận lệnh bắt giữ người trong trường hợp khẩn cập, quyết định khởi tố,
quyết định tạm giữ, quyết định áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn. Quy
định này để bảo đảm quyền được biết để thực hiện tốt quyền bào chữa của mình. Đồng
thời cũng địi hỏi các cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết vụ việc theo đúng thủ tục, trình
tự, và các quyết định đưa ra phải có văn bản cơng khai, minh bạch.
+ Được trình bày lời khai, trình bày ý kiến, đưa ra chứng cứ, tài liệu chứng minh,
không buộc phải đưa ra lời khai chống lại mình hoặc phải thừa nhận mình có tội. Vì vậy,
trong trường hợp họ từ chối khai báo hoặc khai báo gian dối thì cũng khơng phải chịu
trách nhiệm hình sự về hành vi đó cũng như khơng bị áp dụng những tình tiết này là tình
tiết tăng nặng hình phạt. Bị can cũng có thể đưa ra những tài liệu, đồ vật nhằm chứng
minh họ không liên quan đến vụ việc, đồng thời họ cũng có quyền yêu cầu xác minh lại
sự việc, yêu cầu Cơ quan điều ra đưa ra những bằng chứng chứng minh lý do bắt giữ,
tạm giam. Đây phải được coi là quyền mà không phải nghĩa vụ của họ.
+ Quyền đề nghị giám định, định giá tài sản; đề nghị thay đổi người có thẩm quyền
hoạt động tố tụng của mình cũng là để giám sát việc thực hiện pháp luật của các cơ quan
nhà nước, bảo đảm các biên bản đó phản ánh đúng thực tế hoạt động tố tụng.
+ Quy định bị cáo, người bào chữa có quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố
tụng, đề nghị thay đổi, hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế nếu có căn
cứ cho rằng những người này khi tham gia tố tụng hoặc những hoạt động này thực hiện
trong quá trình tố tụng là không công bằng, ảnh hưởng đến quyền lợi của người bào chữa,
ảnh hưởng đến quyền lợi của bị can, bị cáo, hoặc vi phạm quy định về thủ tụng TTHS.
Điều này yêu cầu sự công bằng, công minh, không vu lợi, khách quan của những người
tiến hành tố tụng.
1.5.4 Nguyên tắc bảo đảm sự vô tư của những người tiến hành tố tụng hoặc
người tham gia tố tụng.
25