VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ QUANG KHOÁI
QUYỀN CỦA BỊ CÁO TRONG XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN
HÌNH SỰ TỪ THỰC TIỄN TỈNH KON TUM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT
HÀ NỘI – 2018
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ QUANG KHOÁI
QUYỀN CỦA BỊ CÁO TRONG XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN
HÌNH SỰ TỪ THỰC TIỄN TỈNH KON TUM
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số : 60.38.01.04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. Vũ Gia Lâm
HÀ NỘI - 2018
MỤC LỤC
BLHS: Bộ luật hình sự
BLTTHS: Bộ luật tố tụng hình sự
HTND: Hội thẩm nhân dân
KSV: Kiểm sát viên
TAND: Tòa án nhân dân
TANDTC: Tòa án nhân dân tối cao
TTHS: Tố tụng hình sự
VKS: Viện kiểm sát
VKSND: Viện kiểm sát nhân dân
VKSNDTC: Viện kiểm sát nhân dân tối cao
HĐXX: Hội đồng xét xử
CQĐT: Cơ quan điều tra
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Quyền con người luôn là vấn đề thu hút sự quan tâm rộng rãi của dư
luận và có sự tác động mạnh mẽ tới các quan hệ chính trị, pháp lý, xã hội ở tất
cả các cấp độ quốc gia, khu vực và quốc tế. Các quốc gia đã hiện thực hóa và
phản ánh vào các quy phạm pháp của quốc gia mình để tạo cơ chế bảo đảm để
quyền con người được thực thi trên thực tế. Ở Việt Nam, việc bảo vệ và thúc
đẩy quyền con người là mục tiêu nhất quán của Đảng và Nhà nước ta, đã
được ghi nhận trong toàn bộ hệ thống pháp luật, đặc biệt đối với các quy định
pháp luật trong TTHS mà mấu chốt thực hiện các quyền này ở giai đoạn xét
xử sơ thẩm các vụ án hình sự ở cấp tỉnh hiện nay. Bởi lẽ, xét về thẩm quyền
xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự, Tòa án nhân dân (TAND) cấp tỉnh xét xử
những vụ án hình sự về tội phạm đặc biệt nghiêm trọng với khung hình phạt
là trên 15 năm tù, chung thân, tử hình. Chế tài hình sự áp dụng cho bị cáo đối
với những vụ án sơ thẩm hình sự ở TAND cấp tỉnh nghiêm khắc như vậy nên
trong hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của TAND cấp tỉnh là
nhiệm vụ cấp thiết. Từ những lý do trên đây, tác giả chọn đề tài: “Quyền của
bị cáo trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự từ thực tiễn tỉnh Kon Tum”
làm luận văn thạc sĩ, chuyên ngành Luật hình sự và tố tụng hình sự; Mã số:
60.38.01.04
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Ở nước ta vấn đề bảo đảm quyền con người, quyền bị cáo trong giai
đoạn xét xử được nhiều tác giả nghiên cứu trong các công trình với các góc
độ khác nhau. Từ góc độ nghiên cứu về quyền con người nói chung có công
trình “Quyền con người trong thế giới hiện đại” (Viện Thông tin khoa học xã
hội, 1995) của GS.TS Hoàng Văn Hảo và Phạm Khiêm Ích; “Quyền con
người và luật quốc tế về quyền con người”(NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội,
2
1997) của PGS.TS Chu Hồng Thanh. Từ góc độ nghiên cứu quyền con người
trong lĩnh vực Tư pháp có “Bảo đảm quyền con người trong tư pháp hình sự
Việt Nam” (Nhà xuất bản Đại học Quốc Gia Thành phố Hồ Chí Minh, 2010);
“Luật tố tụng hình sự Việt Nam với việc bảo vệ quyền con người” (Đề tài
nghiên cứu khoa học cấp Đại học Quốc Gia, 2011).
Một số tác giả chọn vấn đề bảo vệ quyền con người, quyền bị can, bị cáo
trong luật tố tụng hình sự làm đề tài Luận án tiến sĩ luật học (TS Nguyễn
Quang Hiền, Nguyễn Huy Hoàng, Lại Văn Trình). Trong các công trình này,
các tác giả có phân tích cơ quan Tòa án với vai trò là đại diện quan trọng nhất
của nhánh quyền lực Tư Pháp theo nghĩa rộng. Bên cạnh đó, cũng có rất nhiều
tác giả nghiên cứu về vai trò, vị trí của Tòa án trong cơ chế phân chia quyền
lực như (GS.TS Nguyễn Đăng Dung...). Luận án tiến sỹ của Võ Quốc Tuấn
về bảo đảm quyền của bị cáo trong hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
của Toà án nhân dân cấp tỉnh ở Việt Nam hiện nay bảo vệ thành công tại Học
viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh năm 2017. Luận văn của Ngô Thị Thanh
bị cáo, quyền của bị cáo trong xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự và thực tiễn
thực hiện quyền của bị cáo trong xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của TAND
tỉnh Kon Tum từ năm 2012 đến năm 2016.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn lấy quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh về Nhà nước và pháp luật, đường lối của Đảng về cải cách tư pháp, bảo
đảm quyền con người trong xét xử các vụ án hình sự ghi nhận trong Cương
lĩnh chính trị, các Văn kiện của Đảng từ Đại hội VI đến đại hội XII làm cơ sở
phương pháp luận.
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phương pháp
phân tích, tổng hợp; phương pháp thống kê - so sánh, phương pháp kết hợp lý
luận với thực tiễn; phương pháp lịch sử…
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
4
Về lý luận: Luận văn giúp làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về quyền
của bị cáo trong xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự
Về thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của đề tài cung cấp tài liệu tham khảo
có giá trị đối với công tác xây dựng và thực hiện pháp luật về quyền của bị
cáo trong xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự tại Việt Nam. Kết quả của đề tài
có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho các sinh viên đại học chuyên ngành
luật hình sự - tố tụng hình sự.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu thảm khảo, luận văn bao
gồm 3 chương sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về quyền của bị cáo trong xét xử sơ
thẩm vụ án hình sự.
Chương 2: Quy định của pháp luật tố tụng hình sự về quyền của bị cáo
các thời đại của nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức trên thế giới và
cũng là cuộc đấu tranh của loài người làm chủ thiên nhiên, qua đó quyền con
người trở thành giá trị chung của nhân loại”.
1
Từ điển tiếng Việt- Viện ngôn ngữ học- Trung tâm Từ điển học- Nxb Đà Nẵng, năm 2004, tr. 815
6
Điều 1 tuyên ngôn thế giới về nhân quyền ghi nhận: "mọi người sinh ra
đều tự do và bình đẳng về phẩm giá và các quyền". Trong lời nói đầu của bản
tuyên ngôn này cũng ghi nhận "Điều cốt yếu là các quyền con người phải
được bảo vệ bằng luật pháp...".
Dưới góc độ pháp luật quốc gia, quyền con người cũng được đề cập rất
sớm. Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ năm 1776 đã ghi nhận: "Những chân
lý sau đây đã được chúng tôi công nhận như những sự thật hiển nhiên là tất
cả mọi người sinh ra đều bình đẳng; tạo hóa đã cho họ các quyền không thể
thay thế được; trong những quyền ấy có quyền được sống, quyền tự do, và
quyền mưu cầu hạnh phúc. Để bảo vệ những quyền này, các chính phủ, do
chính con người thiết lập nên có được quyền lực chính đáng xuất phát từ sự
đồng thuận của nhân dân”
Xuất phát điểm của khái niệm về quyền con người là khái niệm về
phẩm giá vốn có của tất cả các thành viên trong gia đình nhân loại được ghi
nhận trong Tuyên ngôn thế giới và các Công ước năm 1966. Các công ước
này cũng ghi nhận ý tưởng về con người tự do trong việc hưởng quyền tự do
khỏi sự sợ hãi, tự do làm điều mong muốn và được hưởng các quyền bình
đẳng và không thể chuyển nhượng. Theo đó, quyền con người mang tính phổ
quát và không thể chuyển nhượng, có nghĩa là chúng được áp dụng ở khắp
nơi và không thể lấy đi. Như Tổng thư ký Liên hiệp quốc Boutros-Ghali đã
phận không tách rời quyền con người.
Hệ thống pháp luật về tố tụng hình sự ở Việt Nam vấn đề về quyền con
người, quyền công dân được phản ảnh ở nhiều góc độ khác nhau, thể hiện tính
nhân văn và nghiêm minh trong đường lối xử lý đối với người phạm tội của
Đảng và Nhà nước ta. Hoạt động tố tụng hình sự là lĩnh vực hoạt động đặc
biệt của nhà nước. Theo đó các cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố
tụng, người tham gia tố tụng thực hiện các hành vi pháp lý mà pháp luật tố
tụng hình sự quy định để tiến hành điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự. Đây
8
là lĩnh vực hoạt động nhạy cảm, bởi lẽ nó tác tạch trực tiếp đến các quyền
nhân thân cơ bản nhất của con người như quyền sống, quyền tự do…Do vậy,
cần thiết phải có những quy định cụ thể về quyền con người của người tham
gia tố tụng nhất là bị cáo với tư cách là người bị buộc tội và xác lập cơ chế
hữu hiệu cho việc thực hiện quyền của người tham gia tố tụng để giúp họ bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp.
Từ khái niệm chung về quyền con người ở trên, có thể đưa ra khái niệm
quyền con người trong tố tụng hình sự như sau: Quyền con người trong tố
tụng hình sự là những điều mà bất cứ ai (không phân biệt giới tính, độ tuổi,
dân tộc, quốc tịch, tôn giáo, tín ngưỡng, thành phần xã hội…) khi tham gia
quan hệ pháp luật tố tụng hình sự đều được hưởng, được làm và được đòi hỏi.
1.1.2. Khái niệm quyền của bị cáo trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Việt Nam đã gia nhập công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị
năm 1966 của Liên Hợp quốc (ICCPR) từ năm 1982. Việt Nam cũng đã gia
nhập tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948 (UHDR), Công ước
về quyền trẻ em... Nghiên cứu các văn bản này đưa đến một khẳng định
quyền con người trong tố tụng hình sự chẳng qua là sự cụ thể quyền được
sống, quyền được tự do trong lĩnh vực tố tụng hình sự. Đây được coi là tiêu
thông qua việc thực hiện trong thực tiễn các nghĩa vụ, trách nhiệm của các
chủ thể ở các giai đoạn xét xử. Gắn với hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình
sự có thể phân chia nội dung bảo đảm quyền của bị cáo hai giai đoạn là trước
khi mở phiên tòa (trong giai đoạn chuẩn bị xét xử) và tại phiên tòa xét xử.
Trong pháp luật Việt Nam thì quyền con người, quyền công dân được ghi
nhận trước tiên tại Điều 3 Hiến pháp 2013 “Nhà nước bảo đảm và phát huy
quyền làm chủ của Nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền
con người, quyền công dân”. Quyền này sau đó được cụ thể hóa trong các Bộ
luật và các đạo luật cụ thể trở thành quyền của các chủ thể của các quan hệ
pháp luật khác nhau.
10
Trong Bộ luật tố tụng hình sự 2015 (BLTTHS), quyền con người, quyền
công dân (cá nhân) được ghi nhận tại Điều 8: “Khi tiến hành tố tụng, trong
phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan, người có thẩm quyền tiến
hành tố tụng phải tôn trọng và bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp
pháp của cá nhân; thường xuyên kiểm tra tính hợp pháp và sự cần thiết của
những biện pháp đã áp dụng, kịp thời hủy bỏ hoặc thay đổi những biện pháp
đó nếu xét thấy có vi phạm pháp luật hoặc không còn cần thiết.”
Theo quy định của BLTTHS năm 2015, bị cáo là người đã bị tòa án
quyết định đưa ra xét xử. Với tư cách là một chủ thể của tố tụng hình sự, bị
cáo có các quyền và nghĩa vụ tố tụng. Quyền của bị cáo được pháp luật (Hiến
pháp, Bộ luật tố tụng hình sự, các văn bản pháp luật khác có liên quan) quy
định và bảo đảm thực hiện trong các giai đoạn xét xử sơ thẩm và phúc thẩm.
Quyền của bị cáo nằm trong nội hàm của quyền con người, quyền công dân
do vậy là những giá trị, nhu cầu và lợi ích hợp pháp vốn có của bị cáo, phù
hợp với chuẩn mực quốc tế và quốc gia được ghi nhận trong Hiến pháp và các
văn bản quy phạm pháp luật khi tham gia vào quan hệ pháp luật TTHS trong
không bao giờ tương xứng với những gì mà những người bị oan, bị sai đã
phải gánh chịu. Do đó, để tránh oan sai trong TTHS, Tòa án cần phải xét xử
đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Có như vậy thì quyền con người mới
được đảm bảo. Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là chức năng quan trọng nhất
của Tòa án, là giai đoạn quyết định của toàn bộ quá trình TTHS. Trong giai
đoạn này, Tòa án áp dụng các biện pháp cần thiết do luật định để kiểm tra lại
tính hợp pháp và có căn cứ của toàn bộ các quyết định mà CQĐT và VKS đã
thông qua trước khi chuyển vụ án sang Tòa án, nhằm và khắc phục, sửa chữa
loại trừ các hậu quả tiêu cực do sơ suất, sai lầm, vi phạm của các cơ quan có
thẩm quyền tiến hành tố tụng trước đó... Đồng thời trên cơ sở kết quả tranh
tụng công khai và dân chủ tại phiên tòa để ra bản án, quyết định công minh và
đúng pháp luật, có căn cứ và sức thuyết phục. Giai đoạn này được bắt đầu từ
12
khi Tòa án nhận được hồ sơ vụ án hình sự, quyết định truy tố của Viện kiểm
sát và kết thúc bằng việc ra bản án (hoặc quyết định) giải quyết vụ án về nội
dung. Đây là giai đoạn trung tâm của quá trình TTHS và có tính quyết định
nhất, giúp giải quyết vụ án khách quan, toàn diện, đầy đủ, bảo đảm pháp chế,
bảo vệ các quyền và tự do của công dân, góp phần có hiệu quả vào cuộc đấu
tranh phòng ngừa và chống tội phạm.
Quyền của bị cáo trong xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự là việc ghi nhận
trong Hiến pháp, luật tố tụng hình sự, được tôn trọng và bảo đảm thực nhiện
bằng pháp luật; đồng thời, thông qua thực tiễn hoạt động xét xử tại phiên tòa
các chủ thể thực hiện nghĩa vụ, trách nhiệm và bảo vệ các quyền của bị cáo
cũng như tạo ra các điều kiện cần thiết để bị cáo sử dụng các quyền của họ
theo quy định của pháp luật. Khi tiến hành tố tụng, trong phạm vi nhiệm vụ,
quyền hạn của mình, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải tôn
trọng và bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân;
chóng hội nhập với đời sống pháp lý quốc tế tiến bộ và nhân văn, bảo đảm sự
công bằng, dân chủ trong xã hội. Đây cũng là sự phản ánh rõ ràng quan điểm
cải cách tư pháp, hoàn thiện hệ thống pháp luật và tổ chức tố tụng theo định
hướng lấy con người làm trung tâm, pháp luật về tư pháp nói chung và tư
pháp hình sự nói riêng trước hết vì con người.
1.2.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Quy định quyền và bảo đảm thực hiện quyền của bị cáo trong hoạt
động xét xử sơ thẩm xác lập điều kiện thuận lợi để bị cáo trực tiếp hay gián
tiếp bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Ví dụ: việc quy định quyền
tự bào chữa hoặc nhờ người bào chữa; quyền được trợ giúp của người đại
diện trong trường hợp bị cáo là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về
tâm thần, thể chất…chính là các trường hợp bị cáo vừa có thể tự mình (trực
tiếp) hoặc được người khác (gián tiếp) bảo vệ quyền lợi của mình. Qua đó
14
giúp bảo vệ có hiệu quả nhất quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo trong xét
xử nói chung và xét xử sơ thẩm vụ án hình sự nói riêng.
- Quy định quyền và bảo đảm thực hiện quyền của bị cáo trong hoạt
động xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự nhằm hạn chế sự vi phạm trong quá
trình áp dụng các chế tài hình sự đối với bị cáo. Đặc biệt, việc quy định quyền
bào chữa, quyền được suy đoán vô tội, quyền được xét xử công bằng, công
khai, quyền tranh luận tại phiên tòa, quyền kháng cáo bản án, quyết định của
tòa án còn giúp cho việc giải quyết vụ án của tòa án được khách quan, toàn
diện và đầy đủ hơn, tránh sự áp đặt một phía do có sự cọ sát về quan điểm
giữa bên buộc tội và gỡ tội tại phiên tòa.
- Quy định quyền và bảo đảm thực hiện quyền của bị cáo trong hoạt
động xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự giúp nâng cao trách nhiêm của cơ
quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong xét xử sơ thẩm vụ án hình
Chương 2
QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG VỀ QUYỀN CỦA BỊ
CÁO TRONG XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ VÀ VIỆC
BẢO ĐẢM THỰC HIỆN
2.1. Quyền của bị cáo trong xét xử hình sự theo quy định của luật
pháp quốc tế
Quyền của bị cáo trong giai đoạn xét xử thuộc phạm trù quyền con
người. Trong phạm vi quyền con người được ghi nhận tại các công ước quốc
tế như: “Không người nào bị giam hoặc cầm tù dưới bất kỳ hình thức nào bị
tra tấn hay đối xử hoặc trừng phạt tàn ác, vô nhân đạo hay hạ thấp nhân
phẩm. Không được viện dẫn bất kỳ hoàn cảnh nào để biện minh cho việc tra
tấn hay đối xử hoặc trừng phạt tàn ác, vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm”
[24; 698]. Bình luận chung số 32 tại phiên họp thứ 19, 2007 của UNHRC
cũng xác định tại Điều 27: “Một khía cạnh của phiên tòa công khai là tính
chất nhanh chóng. Vấn đề xét xử không chậm trễ trong TTHS được đề cập
trong khoản 3c Điều 14, theo đó sự chậm trễ trong thủ tục tố tụng không thể
biện minh bởi sự phức tạp của vụ án hoặc những hành vi của các bên là trái
với nguyên tắc xét xử công bằng theo đoạn 1 của Điều 14. Trong trường hợp
chậm trễ này là do thiếu nguồn lực thì cần bổ sung ngân sách cho thực thi
pháp luật” [23, 367]
Quyền này có một ý nghĩa quan trọng trong TTHS vì việc áp dụng pháp
luật không chỉ cần đúng đắn mà còn phải kịp thời. Nếu công lý không được
thực hiện kịp thời thì cũng không còn nhiều ý nghĩa. Trước hết đối với quyền
lợi của những người bị hại thì rõ ràng là vụ án càng kéo dài càng bị ảnh
hưởng (trừ trường hợp có sự thỏa thuận bồi thường giữa các bên trong vụ án).
Ngoài ra, tâm lý theo đuổi vụ án kéo dài cũng rất mệt mỏi, ảnh hưởng đến
17
phù hợp gồm hai khía cạnh: mang tính thể chế (chẳng hạn như sự độc lập và
không thiên vị của tòa án) và mang tính thủ tục (chẳng hạn như sự công bằng
trong xét xử). Nguyên tắc xét xử công bằng duy trì một loạt các quyền cá
nhân đảm bảo cho việc thi hành công lý thích hợp từ lúc nghi ngờ đến khi thi
hành công lý. Theo pháp luật quốc tế, các quyền tối thiểu của bị cáo:
- Tất cả mọi người sẽ được bình đẳng trước tòa án và có quyền được đảm
bảo tối thiểu đối với việc xét xử công bằng với sự bình đẳng thực sự;
- Mọi người có quyền được xét xử công bằng và công khai. Do đó công
chúng rộng rãi có thể chứng kiến việc xét xử;
- Mọi người bị kết tội phạm tội sẽ có quyền được coi là vô tội cho đến
khi chứng minh được sự phạm tội theo luật pháp;
- Mọi người đều có quyền được xét xử kịp thời;
- Mọi người đều có quyền được có mặt khi xét xử. Bị cáo có quyền tự
bào chữa hoặc thông qua trợ giúp pháp lý, bị cáo sẽ được thông báo về quyền
này, trong bất kỳ trường hợp nào đòi hỏi phải có quyền lợi về công lý thì bị
cáo sẽ được trợ giúp pháp lý miễn phí nếu bị cáo không đủ khả năng chi trả;
- Bị cáo có quyền thẩm vấn nhân chứng chống lại anh ta và có quyền tham
gia và tiến hành thẩm vấn nhân chứng vì quyền lợi của mình. Bị cáo có quyền
không bị ép buộc nhận tội;
- Bị cáo có quyền nhận sự giúp đỡ miễn phí của phiên dịch nếu anh ta
không hiểu hoặc không nói được ngôn ngữ mà tòa án sử dụng;
Theo luật pháp quốc gia hoặc quốc tế sẽ không ai bị buộc phạm tội hình
sự do bất kỳ hành vi hay sai sót nào không cấu thành tội hình sự tại thời điểm
sự việc xảy ra. Cũng không áp đặt hình phạt nào nặng hơn hình phạt đã áp
dụng tại thời điểm tội phạm xảy ra. [11,179-180]. Trong các quyền đó đáng
chú ý nhất là các quyền sau:
19
nhân quyền và dân quyền của Pháp (1789) đã khẳng định mọi người đều được
coi là vô tội cho đến khi bị tuyên bố phạm tội (Điều 9). Quyền được suy đoán
vô tội là một nguyên tắc quyết định cách thức đối xử với bị can, bị cáo trong
suốt quá trình điều tra và xét xử. Quyền này được quy định tại Điều 14
ICCPR: “Người bị buộc là phạm tội hình sự có quyền được coi là vô tội cho
tới khi tội của người đó được chứng minh theo pháp luật”. Liên quan đến
quyền được suy đoán vô tội, tại bình luận chung số 13 của Ủy ban Nhân
quyền nêu: “Trách nhiệm đưa ra chứng cứ phạm tội thuộc về bên công tố,
nhưng bị cáo có quyền được nghi ngờ. Không một tội nào được quy kết cho
đến khi lời buộc tội đã có chứng cớ không thể phủ nhận. Hơn nữa, quyền
được suy đoán vô tội cũng ngầm khẳng định quyền được đối xử công bằng
đúng theo nguyên tắc này. Vì vậy, mọi cơ quan, chức trách có trách nhiệm
hạn chế việc kết tội trước khi có kết luận của tòa án” [30].
Thứ ba, quyền được bào chữa. Quyền bào chữa của bị cáo là một quyền
cơ bản, quan trọng để bảo vệ các quyền khác. Trong quá trình xét xử hình sự,
mọi người phải được đảm bảo tối thiểu liên quan đến quyền bào chữa, bao
gồm: Quyền được biết lý do buộc tội, quyền bào chữa, được trợ giúp pháp lý,
được xét xử nhanh chóng, được đối chất với người làm chứng, được có mặt
khi xét xử, được phiên dịch miễn phí… Quyền bào chữa của người bị buộc tội
bao gồm quyền tự bào chữa và quyền nhờ Luật sư. Liên quan đến quyền bào
chữa, trong bình luận chung số 13 về Điều 14, Ủy ban nhân quyền nhấn
mạnh: “Bị cáo hoặc Luật sư của bị cáo phải có quyền hành động một cách
mẫn cán và mạnh dạn trong việc đưa ra những biện hộ hiện có và quyền phản
đối việc tiến hành vụ án nếu cho rằng vụ án xét xử không công bằng. Trừ
trường hợp phiên tòa xử vắng mặt có những lý do chính đáng, cần phải tuân
thủ nghiêm ngặt các quyền được bào chữa”[32, 125].
21