Bảo đảm quyền con người trong hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự từ thực tiễn tỉnh Đăk nông (LV thạc sĩ) - Pdf 47

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NỘI VỤ

……………../…………….

…………/………

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

NGUYỄN VĂN HỒNG

BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI TRONG HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ
SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ – TỪ THỰC TIỄN TỈNH ĐẮK NÔNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ:
LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH

ĐẮK LẮK - NĂM 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NỘI VỤ

……………../…………….

…………/………

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA


LỜI CẢM ƠN
Để có được kết quả học tập và nghiên cứu hoàn thành Luận văn như
ngày hôm nay, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các thầy giáo, cô giáo
đã giảng dạy, truyền đạt cho tôi những kiến thức và phương pháp luận về luật
hiến pháp và luật hành chính trong suốt thời gian học cao học tại Học viện
Hành chính Quốc gia, Phân viện khu vực Tây Nguyên.
Học viên trân trọng cảm ơn PGS.TS. Lê Thị Hương đã tận tình hướng
dẫn, chỉ bảo trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu đề tài và hoàn thành
Luận văn.
Xin cảm ơn Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông, Tòa án nhân dân huyện
Đắk R’lấp cùng bạn bè, đồng nghiệp đã tạo điều kiện giúp đỡ cung cấp tài
liệu và đóng góp ý kiến giúp tôi hoàn thành Luận văn.
Cảm ơn gia đình là chỗ dựa vững chắc cho tôi trong suốt quá trình học
tập và nghiên cứu đề tài.
Mặc dù có cố gắng, nỗ lực nhưng vì còn hạn chế trong công tác nghiên
cứu và còn yếu về lý luận nên không thể tránh khỏi những thiếu sót, học viên
mong nhận được ý kiến đóng góp của các nhà khoa học, quí thầy cô, các anh
chị và các bạn bè, đồng nghiệp để Luận văn được hoàn thiện hơn.
Xin trân trọng cảm ơn./.
Học viên

Nguyễn Văn Hồng


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU................................................................................................1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN CON
NGƯỜI TRONG HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ .. 7
1.1. Quan niệm về quyền con người trong hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án
hình sự .................................................................................................... 7

CQTHTT

3. Tố tụng hình sự

TTHS

4. Tòa án nhân dân

TAND

5. Viện kiểm sát nhân dân

VKSND

6. Hội thẩm nhân dân

HTND

7. Kiểm sát viên

KSV

8. Hội đồng xét xử

HĐXX

9. Trách nhiệm hình sự

TNHS


càng công bằng, văn minh, tạo cho mọi người có môi trường tự do, bình đẳng
để thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình, đồng thời bảo vệ con người khỏi các
1


hành vi xâm hại. Song, quyền con người luôn là lĩnh vực nhạy cảm, phức tạp
nên bảo đảm thực hiện nó không phải chỉ dừng lại ở việc ghi nhận quyền con
người mà còn phải thực thi nhiều biện pháp đồng bộ, được mọi cấp, mọi
ngành, mọi người tham gia. Trong đó, Toà án có vị trí, vai trò đặc biệt quan
trọng. Bởi vì, một trong những nhiệm vụ cơ bản trong xét xử của Toà án
chính là hoạt động trực tiếp bảo vệ quyền con người đối với bên bị hại và cả
bên bị cáo - là những người mà quyền con người của họ dễ có nguy cơ bị xâm
hại. Nhiều năm qua, theo quy định của pháp luật, Toà án đã tích cực tham gia
đấu tranh phòng, chống vi phạm pháp luật và tội phạm, bảo vệ chế độ xã hội
chủ nghĩa, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, thực tiễn quá trình giải
quyết vụ án hình sự từ thực tiễn tỉnh Đắk Nông còn bộc lộ nhiều hạn chế
trong việc bảo đảm quyền con người trong hoạt động xét xử như: Khi tiến
hành xét xử tòa án đã không tạo điều kiện để bị cáo thực hiện đầy đủ quyền
bào chữa, việc tiếp cận hồ sơ vụ án, gặp gỡ bị cáo của luật sư còn khó khăn;
Việc tranh tụng tại phiên tòa còn phiến diện, hình thức; bản án, quyết định
của tòa án chưa thực sự dựa trên kết qủa tranh tụng tại phiên tòa dẫn đến việc
làm oan người vô tội hoặc bỏ lọt tội phạm, hình phạt được tuyên không tương
xứng với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo... Việc áp dụng các biện pháp
ngăn chặn, đặc biệt là biện pháp tạm giữ, tạm giam đối với người bị tình nghi
phạm tội, bị can, bị cáo còn thiếu căn cứ; trong quá trình tạm giam, bị can, bị
cáo chưa được đối xử theo qui định của pháp luật. Một trong những quyền
con người quan trọng trong giai đoạn xét xử là người bị buộc tội phải được
xét xử công bằng bởi một tòa án độc lập nhưng sự độc lập của thẩm phán và
hội thẩm khi xét xử còn phải chịu nhiều áp lực nên chưa thực sự đảm bảo...


Các công trình nghiên cứu nêu trên chủ yếu đề cập đến vấn đề bảo vệ
quyền con người nói chung và trong hoạt động tố tụng, xét xử hình sự nói
riêng. Tuy nhiên, chưa có công trình nào tiếp cận một cách toàn diện, hệ
thống, đồng bộ vấn đề bảo đảm quyền con người trong hoạt động xét xử sơ
thẩm vụ án hình sự từ thực tiễn tỉnh Đắk Nông.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích
Mục đích của luận văn là đề xuất giải pháp tăng cường bảo đảm quyền
con người trong hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.
3.2. Nhiệm vụ của luận văn
- Làm rõ cơ sở lý luận và pháp lý về bảo đảm quyền con người trong
hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự;
- Phân tích, đánh giá thực trạng thực thi Hiến pháp và các quy định
pháp luật có liên quan đến bảo đảm quyền con người trong hoạt động xét xử
sơ thẩm vụ án hình sự tại tỉnh Đắk Nông;
- Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả bảo đảm quyền con người
trong hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự trong thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu các quy định về bảo đảm quyền con người trong
hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự theo Hiến pháp năm 2013 và các văn
bản pháp luật liên quan.
4.2. Phạm vi nghiên cứu đề tài
4


Phạm vi bảo đảm quyền con người của đề tài này chủ yếu là trong giai
đoạn xét xử vụ án hình sự sơ thẩm, bảo đảm cho bị cáo thực hiện quyền của
mình khi tham gia xét xử và được xét xử công bằng, cụ thể:

ở Việt Nam.
Luận văn có thể là tài liệu tham khảo đối với các học viên cao học và
sinh viên tại các cơ sở đào tạo luật , các cán bộ thực tiễn đang công tác tại các
Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án và cơ quan Thi hành án trong quá
trình giải quyết vụ án hình sự được khách quan, có căn cứ và đúng pháp luật.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về bảo đảm quyền con người trong
hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Chương 2: Thực trạng bảo đảm quyền con người trong hoạt động xét
xử sơ thẩm vụ án hình sự của Tòa án nhân dân ở tỉnh Đắk Nông
Chương 3: Quan điểm và giải pháp tăng cường bảo đảm quyền con người
trong hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự từ thực tiễn tỉnh Đắk Nông.

6


Chương 1:
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI
TRONG HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ
1.1. Quan niệm về bảo đảm quyền con người trong hoạt động xét xử
vụ án hình sự
1.1.1. Khái niệm về quyền con người trong hoạt động xét xử
Quyền con người là một nội dung lớn của thế giới ngày nay. Đây là giá
trị cao quý, kết tinh từ nền văn hóa của tất cả các dân tộc trên thế giới; là tiếng
nói chung, sản phẩm chung, mục tiêu chung, phương tiện chung của mọi quốc
gia, dân tộc trên thế giới để bảo vệ và thúc đẩy nhân phẩm và hạnh phúc của
mọi con người. Nó không còn là nhận thức, là quan điểm mà hữu hình bằng
các quy phạm pháp lý được các quốc gia thừa nhận chung, phản ánh quy luật

hình phạt tù trong các trại cải tạo và còn được mở rộng đến những đối tượng
bị tạm giữ hành chính. Mặc dù là những người này ít nhiều đã gây nguy hại
cho xã hội hoặc bị tình nghi có hành vi gây nguy hại cho xã hội và hạn chế tự
do nhưng quyền của họ vẫn được ghi nhận và bảo đảm thi hành bằng biện
pháp pháp luật. Quyền của những người này chiếm một vị trí quan trọng trong
luật nhân quyền quốc tế và luật nhân quyền quốc gia.
Các quyền cơ bản của người bị tước tự do được bảo vệ tại Tuyên ngôn
quốc tế nhân quyền (1948) - (UDHR), Công ước quốc tế về các quyền dân sự
và chính trị (1966) - (ICCPR) và nhiều văn kiện khác như “Tập hợp các
nguyên tắc bảo vệ tất cả những người bị giam hay cầm tù dưới bất kỳ hình
thức nào” được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua bằng Nghị quyết
8


43/173 ngày 9/12/1988; “Các quy tắc của Liên hợp quốc về bảo vệ người
chưa thành niên bị tước tự do” được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua
bằng Nghị quyết 45/113 ngày 14/12/1990...Về cơ bản, những người bị tước tự
do được bảo đảm các quyền như: Quyền được bảo vệ không bị tra tấn, đối xử
hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục; Quyền được bảo vệ để
khỏi bị bắt, giam giữ tùy tiện; Quyền được đối xử nhân đạo và tôn trọng nhân
phẩm của những người bị tước tự do; Quyền thông tin, liên lạc với bên ngoài;
Quyền có cơ chế khiếu nại, tố cáo hữu hiệu; Quyền đối với người chưa thành
niên.
Pháp luật Việt Nam quy định quyền này tại Điều 2l, 31 Hiến pháp năm
2013 và Điều 10, 11 Bộ luật TTHS năm 2015 có sự quy định rõ ràng về các
biện pháp ngăn chặn để hạn chế tới mức thấp nhất sự tùy tiện trong việc xâm
phạm an toàn thân thể, danh dự, nhân phẩm của cá nhân. Nội dung cụ thể đó là:
không được bắt giữ người không có căn cứ, không đúng thẩm quyền, không
đúng thủ tục; Nghiêm cấm tra tấn, bức cung, dùng nhục hình hay bất cứ hình
thức đối xử nào khác xâm phạm đến thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự,

trong vụ việc phi hình sự trước cơ quan tư pháp (công an, công tố và toà án),
được pháp luật quốc gia và quốc tế ghi nhận và bảo vệ, bao gồm nhiều quyền
cụ thể (như được bảo đảm quyền bào chữa, được xét xử nhanh chóng, công
khai bởi toà án độc lập, không thiên vị...) nhằm bảo đảm cho việc xét xử được
công bằng, cũng như các quyền và lợi ích hợp pháp của mọi cá nhân. [31]
Đây thực chất là một tập hợp các đảm bảo tố tụng nhằm bảo đảm quá
trình xét xử được công bằng, gồm: Bình đẳng trước Tòa án; Được xét xử bởi

10


một Tòa án độc lập, không thiên vị, công khai; Được suy đoán vô tội; Không
bị áp dụng hồi tố; Không hình sự hóa vụ án dân sự.
Quyền này được đề cập tại Điều 10 UDHR (quyền được xét xử công
bằng và công khai) và Điều 11 UDHR (quyền được suy đoán vô tội, không
hình sự hóa vụ án dân sự, không bị áp dụng hồi tố). Hai Điều này được tái
quy định trong ICCPR tại các Điều 11 (không hình sự hóa vụ án dân sự);
Điều 14 (quyền được xét xử công bằng; quyền được suy đoán vô tội; quyền
được xét xử bởi một Tòa án độc lập, không thiên vị); Điều 15 (không bị áp
dụng hồi tố).
Trong Pháp luật Việt Nam, quyền này được thể hiện bằng nhiều quy
định trong Hiến pháp và Bộ luật TTHS, cụ thể như: khoản 1 Điều 16 Hiến
pháp năm 2013 quy định: “1. Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật”;
Khoản 2 Điều 31: “2. Người bị buộc tội phải được Tòa án xét xử kịp thời
trong thời hạn luật định, công bằng, công khai. Trường hợp xét xử kín theo
quy định của luật thì việc tuyên án phạt được công khai”. Hay Điều 9. Bảo
đảm quyền bình đẳng trước pháp luật; Điều 13. Suy đoán vô tội; Điều 25. Tòa
án xét xử kịp thời, công bằng, công khai;... của Bộ luật TTHS.
Có thể nhận thấy, pháp luật Quốc tế và Pháp luật Việt Nam đều ghi
nhận quyền xét xử công bằng là quyền cơ bản của người bị buộc tội trước cơ

phạm đến các quyền của công dân thì phải áp dụng các biện pháp để loại
trừ. Cán bộ, công chức nhà nước phải chịu trách nhiệm trước pháp luật
trong trường hợp họ không hành động để bảo vệ quyền lợi ích của công
dân. Cũng có ý kiến cho rằng, bảo đảm quyền con người là những hoạt
động, những công việc tạo ra các điều kiện, tiền đề cần thiết làm cho quyền
của chủ thể được thực hiện đầy đủ…
12


Từ những phân tích trên đây có thể hiểu: bảo đảm cũng là trách nhiệm
của một chủ thể (cá nhân, tổ chức) phải làm cho quyền và lợi ích của chủ thể
bên kia chắc chắn thực hiện được, được giữ gìn, nếu xảy ra thiệt hại thì phải
bồi thường.
Bảo đảm quyền con người trong hoạt động xét sơ thẩm xử vụ án hình
sự là trách nhiệm của Nhà nước, thông qua các cơ quan nhà nước như Quốc
hội, Chính phủ, Tòa án, Viện kiểm sát và các cơ quan nhà nước khác trong
đó Tòa án có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng. Điều 102, Hiến pháp năm
2013 khẳng định:
“1. TAND là cơ quan xét xử của nước Cộng hoà XHCN Việt Nam,
thực hiện quyền tư pháp.
2. TAND ở nước ta hiện nay gồm TAND tối cao và các Tòa án khác do
luật định.
3. TAND có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền
công dân, bảo vệ chế độ XHCN, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền là lợi
ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.” [21]
Việc quy định Tòa án là cơ quan duy nhất có quyền xét xử các vụ án
trong đó có án hình sự là nhằm đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của
công dân, tránh những việc làm tùy tiện, bởi vì không phải bất cứ ai hay bất
cứ tổ chức nào cũng có quyền kết tội một công dân. Chỉ có Tòa án là cơ quan
được pháp luật của nhà nước quy định có quyền thay mặt nhà nước ra phán

1.1.2.2. Đặc điểm bảo đảm quyền con người trong hoạt động xét sơ thẩm
xử vụ án hình sự

14


Trong quá trình xét xử, tòa án có trách nhiệm bảo đảm quyền con
người bên cạnh những chức năng, nhiệm vụ khác của mình. Bảo đảm quyền
con người trong hoạt động xét xử có những đặc điểm sau:
- Bảo đảm quyền con người trong hoạt động xét xử là một trong những
hợp phần có tính chất đặc thù của bảo đảm quyền con người trong TTHS. Ở
mức độ khái quát nhất, bảo đảm quyền con người trong trong hoạt động xét
xử sơ thẩm vụ án hình sự là những yếu tố để quyền con người được ghi nhận,
thực thi trong quá trình giải quyết vụ án nhằm tôn trọng phẩm giá con người
trong mọi hoàn cảnh và được xét xử công bằng. Thực hiện tốt bảo đảm quyền
con người trong hoạt động xét xử là đóng góp tích cực có hiệu quả trong việc
bảo đảm quyền con người nói chung trong TTHS.
- Bảo đảm quyền con người trong hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình
sự là chức năng của nhà nước với cơ chế phù hợp trong điều kiện kinh tế - xã
hội, pháp lý của mình.
- Bảo đảm quyền con người trong hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình
sự có vai trò quan trọng trong việc biến những nỗ lực, những ý tưởng tiến bộ
của nhân loại ở các điều luật trở thành hiện thực trong thực tiễn giải quyết vụ
án. Nói cách khác, bản thân các qui phạm pháp luật về quyền con người trong
hoạt động xét xử đã là một thành tố quan trọng trong việc bảo đảm quyền con
người nhưng chỉ dừng lại ở đó quyền con người trong tố tụng hình sự sẽ
không có trong thực tế và những qui phạm pháp luật sẽ trở thành vô nghĩa. Vì
vậy, hình thành cơ chế bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự là đòi
hỏi khách quan mang tính chất quyết định mà nhà nước nào cũng cần quan
tâm.

giai đoạn xét xử. Do đó, việc quy định quyền và cơ chế thực thi quyền cho
16


người cáo buộc phạm tội trong giai đoạn xét xử có ý nghĩa quan trọng trong
việc bảo đảm quyền cho họ, chống lại các hành vi xâm hại tới quyền của họ
do các chủ thể khác thực hiện.
Thứ hai, góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền
Nhà nước pháp quyền là một hiện tượng chính trị - pháp lý phức tạp,
được hiểu và nhìn nhận ở nhiều góc độ khác nhau, song chúng ta có thể hiểu
nhà nước pháp quyền theo cách đơn giản, đó là một nhà nước quản lý kinh tế
- xã hội bằng pháp luật và nhà nước được tổ chức, hoạt động theo pháp luật.
Pháp luật đó được các chủ thể thực hiện một cách tự giác chứ không ép buộc.
Bởi lẽ đó là pháp luật vì quyền con người, phục vụ con người, là pháp luật
của dân chủ, bình đẳng và văn minh. Đó là nhà nước bảo đảm quyền con
người tốt nhất trong lịch sử loài người.
Trong một nền dân chủ hiện đại, không thể thiếu vắng vai trò của việc
đề cao pháp luật, xem pháp luật là nguyên tắc tối thượng; đồng thời, có những
cơ chế để kiềm chế xu hướng tha hóa, lạm dụng quyền lực nhà nước của bất
cứ nhánh quyền lực nào cũng như của từng cá nhân – công chức và quan chức
nhà nước – là những người đại diện cho nhân dân. Hơn thế nữa pháp luật đó
phải được xây dựng theo một quy trình dân chủ, minh bạch và công khai.
Hiến pháp và pháp luật luôn giữ vai trò điều chỉnh cơ bản đối với toàn bộ hoạt
động Nhà nước và hoạt động xã hội, quyết định tính hợp hiến và hợp pháp
của mọi tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước. Tuy nhiên không phải
mọi chế độ lập Hiến, mọi hệ thống pháp luật đều có thể đưa lại khả năng xây
dựng nhà nước pháp quyền, mà chỉ có Hiến pháp và hệ thống pháp luật dân
chủ, công bằng mới có thể làm cơ sở cho chế độ pháp quyền trong nhà nước
và xã hội.
17



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status