1
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
––––––––––––––––––––––––
NGUYỄN MẠNH CƯỜNG
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC
CỦA VI KHUẨN STREPTOCOCCUS SUIS GÂY BỆNH Ở
LỢN TẠI TỈNH THÁI NGUYÊN VÀ CHẾ TẠO
AUTOVACCINE PHÒNG BỆNH
LUẬN ÁN TIẾN SĨ THÚ Y
THÁI NGUYÊN - 2019
2
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
––––––––––––––––––––––––
NGUYỄN MẠNH CƯỜNG
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC
CỦA VI KHUẨN STREPTOCOCCUS SUIS GÂY BỆNH Ở
LỢN TẠI TỈNH THÁI NGUYÊN VÀ CHẾ TẠO
AUTOVACCINE PHÒNG BỆNH
Ngành: Ký sinh trùng và Vi sinh vật học thú y
và gia đình.
Tôi xin trân trọng cảm ơn Khoa Chăn nuôi - Thú y, Phòng Đào tạo, Trường
đại học Nông Lâm, Viện Khoa học Sự sống - Đại học Thái Nguyên; Trung tâm
chẩn đoán Thú y trung ương - Cục Thú y, Bộ môn Vi trùng - Viện Thú y, Chi cục
Chăn nuôi - Thú y tỉnh Thái Nguyên đã nhiệt tình giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi
cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện đề tài luận án.
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các thày hướng dẫn khoa
học là: PGS.TS. Tô Long Thành - Giám đốc Trung tâm chẩn đoán Thú y trung
ương, Cục Thú y và TS. Nguyễn Văn Quang - Nguyên Trưởng Khoa Chăn nuôi Thú y, Trường đại học Nông Lâm, Đại học Thái Nguyên đã trực tiếp hướng dẫn,
giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận án.
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến Ban lãnh đạo và tập thể cán bộ Bộ môn Vi trùng Trung tâm chẩn đoán thú y trung ương - Cục Thú y, Bộ môn Vi trùng - Viện Thú y
và Bộ môn Công nghệ Vi sinh, Công nghệ Phân tử - Viện Khoa học Sự sống - Đại
học Thái Nguyên đã tạo điều kiện, giúp đỡ và hướng dẫn thực hiện các thí nghiệm của
đề tài luận án.
Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới các thày, cô, các bạn đồng
nghiệp, học viên cao học, các em sinh viên và đặc biệt là gia đình đã luôn giúp đỡ,
động viên, hỗ trợ tôi trong thời gian qua để hoàn thành luận án này.
Thái Nguyên, tháng 7 năm 2019
Tác giả
5
MỤC LỤC
6
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU
ADH
AMD
ARA
S. suis
SLY
SOR
STSS
TCCS
TCVN
TRE
TSA
TSB
TYE
: Arginine Dihydrolase
: amidon
: arabinose
: Brain Heart Infusion
: Colony Forming Unit
: Capsule polysaccharide
: cộng sự
: Extracellular factor
: Enzyme - linked Immunosorbert Assay
: Esculin
: Galactosidase
: glycogen
: Glucuronidase
: acid Hippuric
: Intercellular adhension molecule
: Indirect Haemaglunation test
: đường inulin
: Leucine AminoPeptidase
: đường lactose
: Voges Proskauer
: Vascular cell adhension molecule
: Yeast Extract
8
DANH MỤC CÁC BẢNG
9
DANH MỤC CÁC HÌNH
10
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Chăn nuôi lợn ở tỉnh Thái Nguyên trong những năm qua phát triển nhanh về
số lượng và được cải tiến nhiều về chất lượng nên đã đáp ứng với nhu cầu tiêu
dùng nội tỉnh và hướng tới xuất khẩu, góp phần giải quyết việc làm và tăng thu
nhập cho người chăn nuôi trên địa bàn. Theo thống kê của Chi cục Chăn nuôi và
Thú y tỉnh Thái Nguyên (1/10/2018) [2] năm 2018 tổng đàn lợn có trên 680.000
con, tổng sản lượng thịt hơi đạt trên 80.170 tấn, đây là nguồn cung cấp thực phẩm
chủ yếu trong ngành chăn nuôi. Vì vậy, chăn nuôi lợn đã chiếm vị thế quan trọng
trong phát triển kinh tế của tỉnh và trở thành ngành mũi nhọn được quan tâm phát
triển. Chăn nuôi lợn ở Thái Nguyên hiện tại vẫn chủ yếu là các trại quy mô nhỏ nên
gặp rất nhiều khó khăn đặc biệt là khâu kiểm soát dịch bệnh nên đã ảnh hưởng lớn
đến hiệu quả chăn nuôi. Ngoài các bệnh truyền nhiễm gây ra cho đàn lợn như lở
mồm long móng, dịch tả, tai xanh… thì viêm phổi, viêm khớp ở lợn do vi khuẩn S.
suis cũng xảy ra khá phổ biến và gây tổn thất về kinh tế cho người chăn nuôi. Bệnh
lợn tại tỉnh Thái Nguyên và chế tạo Autovaccine phòng bệnh”.
2. Mục tiêu của đề tài
- Xác định một số đặc điểm sinh học của vi khuẩn S. suis gây bệnh viêm
phổi và viêm khớp ở lợn nuôi tại tỉnh Thái Nguyên.
- Nghiên cứu chế tạo Autovaccine thử nghiệm phòng viêm phổi và viêm
khớp cho lợn từ các chủng S. suis phân lập được và thử nghiệm các phác đồ điều trị
bệnh viêm phổi và viêm khớp cho lợn do S. suis gây ra có hiệu quả cao, góp phần
thúc đẩy chăn nuôi lợn trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên phát triển.
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3.1. Ý nghĩa khoa học
- Là một công trình nghiên cứu có hệ thống về đặc điểm sinh học của các
chủng vi khuẩn S. suis ở lợn nuôi tại Thái Nguyên.
- Nghiên cứu chế tạo Autovaccine từ các chủng S. suis phân lập được để
phòng viêm phổi, viêm khớp cho lợn nuôi tại Thái Nguyên có hiệu quả và đề xuất
được phác đồ điều trị viêm phổi, viêm khớp cho lợn do S. suis cho hiệu quả cao.
-
Bổ sung và làm phong phú thêm dữ liệu khoa học, sử dụng làm tài liệu
tham khảo trong giảng dạy và nghiên cứu về vi khuẩn S. suis gây bệnh ở lợn.
12
3.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Sử dụng Autovaccine thử nghiệm tiêm phòng cho lợn nuôi tại tỉnh Thái
Nguyên đã góp phần giảm tỷ lệ lợn mắc viêm phổi, viêm khớp do vi khuẩn S. suis
gây ra.
- Áp dụng phác đồ điều trị bệnh viêm phổi, viêm khớp ở lợn cho hiệu quả
cao, góp phần tăng thu nhập cho người chăn nuôi và phát triển bền vững ngành
chăn nuôi lợn tại tỉnh Thái Nguyên.
serotype 2 cũng gây bệnh cho lứa tuổi này nhưng thường gây cho lợn trong giai
đoạn sau cai sữa và lợn thịt (4-16 tuần tuổi) với các thể bệnh như trên.
Theo Segura M. và cs. (2014a) [109] đã xác định từ 30 - 70% vi khuẩn S.
suis cư trú ở đường hô hấp trên của lợn khỏe xâm nhập vào đường hô hấp dưới gây
nhiễm trùng huyết, viêm phổi, viêm khớp, viêm ngoại tâm mạc, màng não... khi hệ
miễn dịch của lợn bị suy giảm. Bệnh thường xảy ra vào mùa xuân khi điều kiện
chăn nuôi bất lợi và thuận lợi cho sự phát triển của các loại cầu khuẩn.
Ở Anh, các nghiên cứu cũng cho thấy vi khuẩn S. suis serotype 2 là nguyên
nhân chính gây bại huyết, viêm não và viêm đa khớp, ít khi gây viêm phổi; trong
khi đó ở Bắc Mỹ khi lợn mắc bệnh liên cầu khuẩn thì bệnh tích ở phổi vẫn là chủ
yếu. Vi khuẩn S. suis serotype 2 có thể lây nhiễm từ đàn này sang đàn khác hoặc
trong cùng một đàn do sự tiếp xúc giữa các cá thể lợn với nhau hoặc từ chất thải
nhiễm vi khuẩn (Segura M. và cs., 2014b) [110].
Bệnh do vi khuẩn S. suis gây ra ở lợn là đa dạng gồm viêm phổi, viêm khớp,
viêm não, viêm nội tâm mạc... và thường dẫn đến chết. Ở Hàn Quốc, Han D.U. và
14
cs. (2001) [73] đã khảo sát xác định S. suis ở hạch amidan của lợn thịt khỏe là
13,8%; trong khi đó ở Trung Quốc, nghiên cứu của Rui P. và cs. (2012) [106] trong
mẫu dịch mũi của lợn khỏe có 24,67% nhiễm S. suis. Theo Goyette - Desijardins G.
và cs. (2014) [70] các nghiên cứu ở nhiều nước cho thấy S. suis serotype 2 được
tìm thấy trên lợn khỏe, có thể lây nhiễm cho người qua tiếp xúc hoặc sử dụng các
loại thực phẩm từ lợn không qua nấu chín.
Ở Trung Quốc, năm 2005 đã chế tạo vaccine vô hoạt từ các chủng S. suis
serotype 2 để kiểm soát dịch bệnh liên cầu khuẩn ở lợn theo Lun Z.R. và cs. (2007)
[94]. Nghiên cứu của Jiang X. và cs. (2016) [81] đã xác định chủng S. suis serotype
5 (XS045) độc lực thấp có thể sử dụng để sản xuất vaccine nhược độc cho an toàn
và hiệu quả trong việc bảo vệ cơ thể chống lại S. suis serotype 2 và 9 độc lực cao.
Theo Jiao J. và cs. (2017) [82] peptide NZ.2114 là một dẫn xuất từ kháng sinh
tỉnh Bắc Giang cho thấy tỷ lệ phân lập được S. suis là 51,67%. Trong đó, tỷ lệ cao
nhất ở lợn sau cai sữa từ 1,5 đến 3 tháng tuổi chiếm 59,46% và thấp nhất là ở lợn
con dưới 1,5 tháng tuổi (39,29%). Theo Lê Văn Dương và cs. (2013) [3] lợn dương
tính với PRRS tại tỉnh Bắc Giang phân lập được S. suis là 55,10%. Các chủng S.
suis phân lập được thuộc serotype 2 với tỷ lệ là 56,29%, serotype 9 là 17,03% và
serotype 7 là 5,18%, các chủng thuộc serotype 21 và 29 đều chiếm tỷ lệ thấp
(2,22%).
Cù Hữu Phú và cs. (2013) [24] nghiên cứu chọn chủng vi khuẩn A.
pleuropneumoniae, P. multocida và S. suis để chế tạo vaccine phòng bệnh viêm
phổi cho lợn cho thấy các chủng S. suis thuộc serotype 2 có gen mã hóa độc tố
được phân bố rải rác trong các kiểu tổ hợp gen là arcA, arcA/sly; arcA/mrp;
arcA/mrp/sly; arcA/mrp/sly/epf. Theo Cù Hữu Phú và cs. (2014) [25] các lô vaccine
vô hoạt có chất bổ trợ keo phèn được chế tạo từ các chủng vi khuẩn trên đều sinh
miễn dịch và có hiệu lực bảo hộ cao (90 - 100%) khi thử trên động vật thí nghiệm.
Hoàng Văn Minh và cs. (2017) [21] khi thử nghiệm vaccine vô hoạt phòng viêm
phổi cho lợn do vi khuẩn A. pleuropneumoniae, P. multocida và S. suis gây ra tại
Bắc Giang cho thấy lợn được tiêm chủng vaccine này đã sinh miễn dịch, đạt tỷ lệ
bảo hộ là 71,04%.
Nghiên cứu của Bùi Thị Hiền và cs. (2016) [8] về sự lưu hành của S. suis
trên một số địa bàn thuộc tỉnh Thừa Thiên - Huế trong vụ xuân hè năm 2015 cho
thấy tỷ lệ nhiễm S. suis trên lợn khỏe là 11,4%. Huỳnh Ngân Hà và cs. (2016) [4]
16
khảo sát mức độ nhiễm S. suis trên các sản phẩm từ lợn ở cơ sở giết mổ tại thành
phố Hồ Chí Minh cho thấy tỷ lệ mẫu tìm thấy S. suis là 72,2%, trong đó S. suis
serotype 2 là 14,8% trên tổng số mẫu khảo sát. Lê Quốc Việt và cs. (2017) [41] đã
xác định tỷ lệ nhiễm S. suis ở lợn giết mổ trên địa bàn thành phố Huế cũng cho thấy
trong 100 mẫu dịch mũi của lợn đã phát hiện có 9,0% nhiễm S. suis serotype 2 và
đã tạo dòng, biểu hiện gen mã hóa 6 - phosphogluconate - dehydrogenase protein
serotype cũng có thể gây ra các thể bệnh khác nhau do vùng địa lý mà chúng phân
bố. Một sổ serotype không có độc lực và có thể được phân lập từ lợn khỏe mạnh,
không có triệu chứng lâm sàng như các serotype 17, 18, 19 và 21. Trong khi đó, có
một số chủng có thể phân lập được từ lợn và cả các loài động vật khác nữa như
serotype 20 và 31 từ bê, serotype 33 từ cừu non (Segura M. và cs., 2017) [113].
Đỗ Ngọc Thúy và cs. (2009b) [32] khi xác định serotype của các chủng S.
suis phân lập từ lợn tại các tỉnh miền Bắc Việt Nam cho thấy số chủng thuộc
serotype 2 chiếm tỷ lệ cao nhất; tiếp sau là các serotype 7, 9; 31; 32; 7; 17; 21 và 8.
1.2.2. Hình thái và tính chất nuôi cấy của vi khuẩn S. suis
Vi khuẩn S. suis thuộc bộ: Lactobacillales, họ: Streptococcaceae, lớp:
Bacilli, giống: Streptococcus.
Vi khuẩn S. suis có hình cầu hoặc hình trứng đường kính nhỏ hơn 1,0 μm,
thường xếp thành từng chuỗi như chuỗi hạt, có độ dài ngắn khác nhau tùy thuộc
vào môi trường nuôi cấy, từ hai đến 6 - 10 cầu khuẩn và dài hơn tạo thành liên cầu
khuẩn. Chiều dài của chuỗi tuỳ thuộc vào điều kiện môi trường. Vi khuẩn bắt màu
Gram dương, không di động, không sinh nha bào. Trong bệnh phẩm vi khuẩn đứng
thành chuỗi ngắn thường có từ 2 - 8 đơn vị. Khi nuôi cấy trong môi trường lỏng, hình
thái các chuỗi được nhìn thấy rõ và vi khuẩn xếp thành chuỗi dài (Lê Văn Tạo và cs.,
2005) [28].
Trong canh trùng sau 30 giờ nuôi cấy, vi khuẩn có thể thay đổi tính chất bắt
màu, chuỗi cũng thấy dài hơn. Theo Nguyễn Quang Tuyên (2008) [39] vi khuẩn S.
suis bắt màu dễ dàng với một số loại thuốc nhuộm thông thường, ở trong canh
trùng non chúng bắt màu Gram (+), ở trong dịch viêm và canh trùng nuôi cấy trên
28 giờ thì thường bắt màu Gram (-).
Theo Quin P. và cs. (2005) [102] S. suis là những vi khuẩn hiếu khí hay yếm
khí tùy tiện, thích hợp ở nhiệt độ 37 oC. Trong môi trường nước thịt: lúc đầu phát
18
triển làm đục đều môi trường, sau 24 giờ nuôi cấy vi khuẩn hình thành các hạt hoặc
19
sinh hóa thường được sử dụng để giám định vi khuẩn S. suis phân lập được là phản
ứng amylase dương tính và Voges Proskauer âm tính (Tiêu chuẩn Quốc gia : TCVN
8400-2 :2010) [36].
1.2.4. Cấu trúc kháng nguyên của vi khuẩn S. suis
Vi khuẩn S. suis có cấu trúc kháng nguyên rất phức tạp, một số kháng nguyên
đã được tìm thấy là:
Kháng nguyên thân (Somatic antigen): Kháng nguyên thân có vai trò quan
trọng trong việc quyết định các yếu tố dịch tễ và độc lực của vi khuẩn. Kháng
nguyên thân nằm ở thành vi khuẩn (Cell wall) và được cấu tạo bởi các phân tử
peptidoglycan ở lớp trong cùng (N - acetylglucosamine và N - acetylmuramic acid), tiếp
đến là lớp giữa gồm các polysaccharide (N - acetylglucosamine và rhamnose) và lớp
ngoài cùng là các protein gồm M protein, lipoteichoic acid, R và T protein (Baums C.G.
và c., 2009) [45].
Kháng nguyên giáp mô (Capsule antigen): Kháng nguyên giáp mô có vai trò
quan trọng trong việc bảo vệ vi khuẩn, chống lại thực bào của cơ thể vật chủ. Nhiều
nghiên cứu cũng đã cho thấy các chủng S. suis có giáp mô thì có độc lực và khả
năng gây bệnh, còn các chủng không có giáp mô thì không có khả năng này. Thành
phần của kháng nguyên giáp mô khác nhau tùy thuộc vào loại vi khuẩn, cảc chủng
S. suis thuộc nhóm A thì giáp mô được tạo thành bởi các hyaluronic acid, còn các
chủng S. suis thuộc nhóm O thì thành phần của giáp mô là polysaccharide (Van
Calsteren M. R. và cs., 2010) [123].
Kháng nguyên bám dính (Fimbriae antigen): Vai trò của kháng nguyên bám
dính của S. suis còn chưa được biết đến một cách rõ ràng, nhưng có ý kiến cho rằng
chúng đóng vai trò quan trọng trong việc giúp vi khuẩn bám dính vào tế bào biểu
mô. Vi khuẩn S.suis là một trong số ít các loại vi khuẩn Gram dương có mang cấu
trúc này. So với các loại vi khuẩn khác thì kháng nguyên bám dính của S. suis có
cấu trúc mỏng, ngắn, đường kính khoảng 2 nm và dài có khi tới 200 nm (Kouki A.
và cs., 2013) [85].
riêng là 0,7 x 106 Units/mg. Suilysin (SLY) thuộc về nhóm độc tố với những đặc
điểm chung là dễ bị oxy hoá, dễ bị hoạt hóa bởi một số hóa chất khử, dễ bị ức chế
bởi cholesterol với nồng độ loãng, ức chế tính hoạt động của một số lượng ít, gốc N
- của chuỗi amino acid của suilysin giống vởi perfringolysin O, streptolysin O,
listeriolysin O, alveolysin, pneumolysin (Takeuchi D và cs., 2013) [120]. Trong
21
điều kiện invivo, chuột và lợn đã được chứng minh là có khả năng tạo ra miễn dịch
khi được tiêm vaccine chứa suilysin để kháng lại S. suis serotype 2 gây bệnh.
Suilysin là yếu tố độc lực quan trọng của S.suis vì sự trung hoà của yếu tố này đủ
dể bảo vệ chuột thí nghiệm chống lại các tác động có hại của S. suis type 2
(Gottschalk M và cs., 2013) [69]. Tuy nhiên, yếu tố gây dung huyết dường như
không phải là yếu tố độc lực quan trọng đối với các chủng phân lập được ở Bắc
Mỹ, ngược lại rất nhiều chủng có nguồn gốc từ Lợn mắc ở châu Âu lại có hoạt tính
này. Hoạt tính của suilysin không thể phân biệt được bằng các phương pháp sinh
hoá và miễn dịch thông thường, vì vậy, một số nghiên cứu đã cho rằng suilysin có
thể là yếu tố độc lực quan trọng của một số chủng vi khuẩn. Mặc dù vậy, một số
chủng S. suis serotype 2 không có khả năng dung huyết vẫn đã được chứng minh
rằng có độc lực cao (Tenenbaum T. và cs., 2016) [119].
Hai loại protein: protein giải phóng muramidase MRP có trọng lượng phân
tử 136 kDa và protein giải phóng yếu tổ ngoại bào EF đã được xác định là các yếu
tố độc lực quan trọng trong sinh bệnh học của S. suis type 2 gây bệnh ở lợn và
người. Các nghiên cứu về gây bệnh thực nghiệm trên lợn cũng đã cho thấy các
chủng vi khuẩn có mang 2 yếu tố gây bệnh này (MRP - EF -) đã được phân lập từ
các phủ tạng của lợn sau khi gây nhiễm với các triệu chứng điển hình của bệnh,
trong khi đó các chủng không mang các yếu tố gây bệnh này (MRP - EF -) có thể
phân lập được thưòng xuyên trong amidan của lợn khỏe và không có khả năng gây
bệnh cho lợn thí nghiệm (Feng Y. và cs., 2010) [64]. Tuy nhiên, quy luật này lại
không đúng với trường họp các chủng S. suis serotype 2 phân lập được từ lợn và
biến nhất ở Australia, trong khi đó ở Anh, serotype 14 chiếm ưu thế (25%), chỉ sau
serotype 2 (62%) (Higgins R. và Gottschalk M., 2006) [77].
Nhiều công trình nghiên cứu đã kết luận rằng các chủng vi khuẩn gây bệnh
cho lợn chủ yếu thuộc về một nhóm serotype nhất định có ký hiệu từ 1 - 8
(Gottschalk M. và cs., 2010) [67]. Trong khi đó, có một vài serotype, đáng chú ý
nhất là serotype 21, và ít phổ biến hơn là serotype 17, 18 và 19 chủ yếu chỉ được
tìm thấy ở lợn khoẻ và không có triệu chứng lâm sàng.
Vi khuẩn S. suis serotype 2 cũng phân lập được từ lợn khoẻ nhưng với tỷ lệ
thấp. Ở Anh, khi tiến hành điều tra tỷ lệ nhiễm ở 4 đàn lợn khoẻ, cho thấy hai đàn
không có serotype 2, một đàn mang serotype 2 với tỷ lệ 1,5% và đàn còn lại với tỷ
23
lệ 20%. Kết quả này cũng phù hợp với các nghiên cứu khác được tiến hành tại
Canada cho kết quả là serotype 2 có trong 12% đàn không có triệu chứng lâm sàng
và trong 4% sổ lợn của các đàn này; ở Canada, đã phân lập được serotype 2 ở 8/19
đàn lợn khoẻ, trong đó serotype 2 có trong xoang mũi của 1,5% số lợn, còn serotype
19 là 24% và serotype 21 là 19% (Gottschalk M., 2012) [68].
Điều đáng chú ý là lợn bị bệnh có thể mang một hoặc vài serotype khác nhau
trong cùng một cơ thể. Cụ thể, 31% lợn có mang một serotype củạ S. suis ở xoang
mũi, 38% mang 2 hoặc 3 serotype, và 6% có mang trên 4 serotype. Kết quả này có
vai trò rất quan trọng trong chẩn đoán bệnh vì cần phải xác định chính xác serotype
gây bệnh chính. Ở Anh, bệnh do serotype 2 gây ra chủ yếu là gây bại huyết và viêm
não ở lợn đã cai sữa. Ở Hà lan, S. suis serotype 2 là nguyên nhân chính gây viêm
phổi (42%), viêm não (18%), viêm nội tâm mạc (18%) và viêm đa thanh mạc (10%).
Ngoài serotype 2, S. suis thuộc các serotype khác cũng đã phân lập được từ lợn bị viêm
phổi - màng phổi ở Đan Mạch, Hà Lan, Bỉ, Phần Lan, Australia, Canada và Mỹ (Feng Y.
và cs., 2014) [65].
Trong ổ dịch do S. suis serotype 9 gây ra tại Canada, thấy 100% lợn chết có
biểu hiện viêm khớp, 91% có viêm não, 73% có viêm phổi kẽ, 42% có viêm nội
giữa lợn khỏe và lợn bệnh, lợn mẹ mắc bệnh sẽ truyền sang cho đàn lợn con. Bệnh
còn có thể lây qua đường hô hấp, đây là đường truyền lây có ý nghĩa quan trọng do
số lượng vi khuẩn ở môi trường rất lớn. Ngoài ra, bệnh có thể truyền lây qua dụng
cụ chăn nuôi và một số yếu tố trung gian như ruồi, một số loài chim, chuột... và vật
mang khác.
Theo Hồ Thị Kim Hoa (2016) [9] nhiễm trùng ở lợn hầu hết là sự kết hợp
giữa vi sinh vật gây bệnh và môi trường ô nhiễm làm giảm sức đề kháng của vật
nuôi, tạo điều kiện cho quá trình nhiễm trùng. Ngoài các virus gây bệnh phổ biến
cho lợn còn có một số vi khuẩn khác trong đó có S. suis.
1.3.2. Cơ chế sinh bệnh
Theo Lê Văn Tạo (2007) [29] khoảng 30 - 70% con vật khoẻ mạnh phân lập
được Streptococcus spp. từ đường hô hấp trên. Khi hàng rào bảo vệ của cơ thể bị
suy giảm hoặc phá vỡ thì vi khuẩn sẽ xâm nhập vào đường hô hấp dưới và gây
viêm phổi, vi khuẩn theo hệ thống tuần hoàn gây nhiễm trùng huyết, sau đó tràn
vào nội và ngoại tâm mạc, màng não, xoang khớp để gây ra các thể bệnh ở đó.
Theo Trần Văn Bình (2008) [1] vi khuẩn Streptococcus spp. gây dung huyết kiểu
25
alpha, khi vào máu và đến các cơ quan sẽ gây ra các ổ áp xe thứ phát, dẫn đến viêm
tủy xương, viêm khớp, viêm van tim, viêm nội tâm mạc, thận, gan, hạch lympho và
đường sinh dục.
Trong cơ thể lợn, vi khuẩn S. suis thường tồn tại ở hạch amidan, mũi, đường
sinh dục, tiêu hóa và chúng có thể được phát hiện ở lợn mọi lứa tuổi. Nơi cư trú
thích hợp của vi khuẩn S. suis ở lợn cũng như ở người là đưòng hô hấp trên, đặc
biệt là hạch amidan và xoang mũi (Gottschalk M và cs., 2012) [68]. Từ đó, vi
khuẩn di chuyển theo hệ lâm ba tới hạch dưới hàm, cư trú ở các mô, nhưng lúc đó
cơ thể chưa có dấu hiệu lâm sàng gì của bệnh, ở các tổ chức cư trú, vi khuẩn sống
và nhân lên trong các tế bào thích hợp (monocyte), rồi di chuyển vào xoang dịch
não tuỷ, kích thích các tế bào đơn nhân (monocyte) và đại thực bào (macrophage)