Quyền và nghĩa vụ của cha mẹ và con theo pháp luật hôn nhân và gia đình việt nam trong mối quan hệ so sánh với pháp luật hôn nhân và gia đình của nước cộng hòa dân chủ nhân dân lào - Pdf 56

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƢ PHÁP

TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

BOUNCHANH SEARKAUHER

QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA CHA MẸ VÀ CON THEO
PHÁP LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH VIỆT NAM
TRONG MỐI QUAN HỆ SO SÁNH VỚI PHÁP LUẬT
HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH CỦA NƢỚC CỘNG HÕA
DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2018


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƢ PHÁP

TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

BOUNCHANH SEARKAUHER

QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA CHA MẸ VÀ CON THEO
PHÁP LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH VIỆT NAM
TRONG MỐI QUAN HỆ SO SÁNH VỚI PHÁP LUẬT
HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH CỦA NƢỚC CỘNG HÕA






ờ V




Đạ



L





PGS.TS.N

H Nộ



ịL

ã


ã





K

Đạ

L
Đạ

H Nộ K
L



ơ
Dân

H Nộ Đặ



q

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

BOUNCHANH SEARKAUHER

1.1.2. Khái niệm quyền và nghĩa vụ của cha mẹ và con

15

1.2. Ý nghĩa của việc pháp luật quy định quyền và nghĩa vụ của cha mẹ và con

17

1.2.1. Về mặt xã hội

17

1.2.2. Về mặt pháp lý

18

1.3. Sơ lƣợc lịch sử phát triển các quy định về quyền và nghĩa vụ của cha mẹ
và con trong pháp luật hôn nhân và gia đình của Việt Nam và Lào
1.3.1. Sơ lƣợc về sự hình thành và phát triển các quy định về quyền và nghĩa
vụ của cha mẹ và con trong pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam
1.3.2. Sơ lƣợc về sự hình thành và phát triển các quy định về quyền và nghĩa
vụ của cha mẹ và con trong pháp luật hôn nhân và gia đình Lào
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1

18

19

23
28

2.1.1.4. Quyền và nghĩa vụ của cha mẹ về việc đại diện cho con

42

2.1.2. Quyền và nghĩa vụ về tài sản của cha mẹ đối với con theo pháp luật Việt
Nam trong mối liên hệ với pháp luật CHDCND Lào

45

2.1.2.1. Nghĩa vụ và quyền của cha mẹ trong việc nuôi dƣỡng con cái

45

2.1.2.2. Nghĩa vụ và quyền của cha, mẹ trong việc cấp dƣỡng đối với con cái

48

2.1.2.3. Nghĩa vụ và quyền của cha mẹ trong việc quản lý, định đoạt tài sản
riêng của con
2.2. Quyền và nghĩa vụ của con đối với cha mẹ theo pháp luật Việt Nam trong
mối liên hệ với pháp luật Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào

55

58

KẾT LUẬN CHƢƠNG 2.
66



KẾT LUẬN CHUNG

91


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

1.BLDS

: Bộ luật dân sự

2. CHDCND

: Cộng hoà dân chủ nhân dân

3. HN&GĐ

: Hôn nhân và gia đình

4. UBND

: Uỷ ban nhân dân

5. CBCNV

: Cán bộ công nhân viên

6. DCND

: Dân chủ nhân dân

nhằm hoàn thiện lĩnh vực pháp luật này.
Từ những lý do trên, tác giả đã chọn đề tài: “Q ề
e

V


N

ĩ





q
L

” làm luận văn thạc

sĩ tốt nghiệp của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Quyền và nghĩa vụ của cha mẹ và con là một vấn đề rộng và luôn là vấn đề mang
tính thời sự. Vấn đề quyền và nghĩa vụ của cha mẹ và con đƣợc đề cập đến trong một số
công trình nghiên cứu khoa học:


2

Ở Việt Nam: Các học giả, nhà nghiên cứu luật học đã có một số công trình nghiên


3

hoàn thiện” – Trƣờng Đại học Quốc Gia Lào; Luận văn thạc sĩ của Phon Sa Đy Saiser,
năm 2010: “Hoàn thiện pháp luật về quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con cái sau ly
hôn” - một số vấn đề lý luận và thực tiễn” – Khoa Luật Học viện an ninh nhân dân Lào.
Gần đây có một số đề tài nghiên cứu cấp Nhà nƣớc đáng chú ý nhƣ “Hoàn thiện pháp
luật gia đình trƣớc yêu cầu hội nhập quốc tế trong giai đoạn từ 2015-2020” năm 2015 của
Kitisiak Boulom, Phalouda Sengsouda- Bộ Tƣ pháp Lào; “Vai trò của gia đình trong
chăm sóc và giáo dục trẻ em – một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, năm 2016, của
Symaiteng Phalouk, sách chuyên khảo, Khoa luật Đại học Quốc gia Lào.
Có thể thấy, mặc dù đã có nhiều đề tài khoa học, sách, sách chuyên khảo, các bài viết,
công trình nghiên cứu, luận văn, luận án... nhƣng những công trình này nghiên cứu ở
phạm vi hẹp, hay chuyên sâu đề cập đến những vấn đề riêng biệt về quyền và nghĩa vụ
của cha mẹ đối với con cái, chƣa có công trình so sánh pháp luật của các nhà khoa học hai
nƣớc Việt Nam và Lào về quyền và nghĩa vụ của cha mẹ và con... Tuy nhiên, các công
trình nêu trên là nguồn tài liệu tham khảo quý báu cho tác giả trong việc xây dựng các nội
dung của luận văn.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu đề tài
- Đối tƣợng nghiên cứu của đề tài là: quyền và nghĩa vụ của cha mẹ và con theo
pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam trong mối quan hệ so sánh với pháp luật hôn
nhân và gia đình của nƣớc Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào.
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Luận văn tập trung nghiên cứu một số vấn đề lý
luận tập trung đi sâu nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn pháp lý về nghĩa vụ và
quyền của cha mẹ và con theo Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2014 và Luật Gia
đình Lào năm 2008. Bên cạnh đó Luận văn phân tích và chỉ ra những điểm giống nhau và
khác biệt về nghĩa vụ và quyền của cha mẹ và con của Luật hôn nhân và gia đình Việt
Nam năm 2014 so với Luật Gia đình Lào năm 2008. Do thời gian có hạn và trong khuôn
khổ của một Luận văn thạc sỹ luật học nên đề tài chỉ tập trung nghiên cứu về thực tiễn thi
hành các quy định về quyền và nghĩa vụ của cha mẹ và con tại Lào làm cơ sở cho đề xuất,

cơ sở tham khảo kinh nghiệm của Luật HN&GĐ Việt Nam.
7. Kết cấu của Luận văn
Ngoài Lời nói đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc kết
cấu gồm ba chƣơng là :
Chƣơng 1. Khái quát chung về quyền và nghĩa vụ của cha mẹ và con trong pháp
luật Việt Nam và Lào
Chƣơng 2.Pháp luật Việt Nam hiện hành về quyền và nghĩa vụ của cha mẹ và con
trong mối liên hệ với pháp luật CHDCND Lào


5

Chƣơng 3.Thực tiễn thực hiện pháp luật về quyền và nghĩa vụ của cha mẹ và con.
Một số khuyến nghị hoàn thiện pháp luật của Việt Nam và Lào


6

CHƢƠNG 1.
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA CHA MẸ VÀ CON
TRONG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ LÀO
1.1. Khái niệm chung về quyền và nghĩa vụ của cha mẹ và con
Quyền và nghĩa vụ của cha mẹ và con là một phạm trù khoa học pháp lý và để hiểu
đƣợc bản chất của nó trƣớc tiên ta phải xác định r một ngƣời thế nào đƣợc gọi là cha, là
mẹ, là con của nhau.
1.1.1. Khái niệm cha, mẹ và con
1.1.1.1. Khái niệm cha, mẹ
Xƣng vị “cha” trong ngôn ngữ tiếng Việt bắt nguồn từ biến âm của tiếng Trung
Quốc “爹” (với phiên âm là “Diē”). Trong tiếng Việt, từ “cha” còn gần nghĩa với từ bố bắt nguồn từ “bô” (có nguồn gốc từ từ “父” với phiên âm địa phƣơng là “pē”, phiên âm
chính thống là “Fù” – tƣơng ứng với Phụ ) là một trong những từ đầu tiên ngƣời Việt

3. Whose paternity has been judicially established under section 1600d or section
182(1) of the Act on the Procedure in Family Matters and in Matters of noncontentious
Jurisdiction” (Section 1592)4.
Tạm dịch sang tiếng Việt nhƣ sau: “Cha của một đứa trẻ là một ngƣời:
1. Ngƣời kết hôn với mẹ của đứa trẻ vào ngày sinh,
2. Ngƣời đã công nhận quan hệ cha-con hoặc
3. Quan hệ cha-con của ngƣời mà đã đƣợc thiết lập một cách hợp pháp theo Mục
1600d hoặc Mục 182(1) của Đạo luật về thủ tục những vấn đề gia đình và vấn đề của
thẩm quyền không tranh cãi” (Mục 1592).
Theo đó, Pháp luật Dân sự Đức sử dụng nguyên tắc suy đoán pháp lí rằng: ngƣời
đàn ông có quan hệ hôn nhân với mẹ của đứa trẻ tại thời điểm mà nó đƣợc sinh ra là cha
của đứa trẻ, thậm chí, nếu ngƣời mẹ của đứa trẻ có thai với một ngƣời đàn ông khác trƣớc
khi kết hôn với ngƣời đàn ông này nhƣng chỉ cần tại thời điểm đứa trẻ đƣợc sinh ra, ông
ấy là chồng của mẹ đứa trẻ. Tức là, vào ngày đứa trẻ đƣợc sinh ra, ngƣời đàn ông làm
chồng của mẹ đứa trẻ chính là cha của đứa trẻ.
Nhƣ vậy, các khái niệm trên đều đƣa ra định nghĩa “cha” tƣơng đối rộng nhƣng
chƣa chỉ r mặt xã hội học của khái niệm này, một ngƣời đƣợc gọi là cha của một đứa trẻ
khi đứa trẻ đó do vợ của ông ta sinh ra hoặc đƣợc nhận nuôi theo quy định của pháp luật.
Ngƣời cha có bổn phận bảo vệ và chăm sóc, nuôi dƣỡng, giáo dục,... con mình theo các
quy định pháp luật cũng nhƣ bản năng làm cha. Mặt khác, các khái niệm trên còn hạn chế
ở chỗ không quy định cụ thể về “cha đẻ”, “cha không chính thức” và “cha chính thức”. Vì
theo quy định của pháp luật thì có những ngƣời cha đƣợc pháp luật công nhận là cha
chính thức của một đứa trẻ nhƣng không có quan hệ huyết thống với đứa trẻ do ngƣời đó
có quan hệ hôn nhân hợp pháp với mẹ của đứa trẻ và công nhận đứa trẻ là con của họ.
4

Xem thêm Bộ luật dân sự Đức (German Civil Code), tr.430 tại địa chỉ: />ECTRONIC/61 880/99080/F 1903938413/D EU61880%20English.pdf, ngày truy cập 15 tháng 05 năm 2018.


8

Viện ngôn ngữ học (2003), Từ điển tiếng Việt, Nxb. Đà Nẵng, tr.626.
7
Nguyễn Thị Lan (2008), Xác định cha, mẹ, con trong pháp luật Việt Nam, luận án tiến sĩ luật học, trƣờng Đại học
Luật Hà Nội, tr.8.
8
Hoàng Yến, Thanh Long (2008),Từ điển tiếng Việt, Nhà xuất bản Văn hóa thông tin, tr. 315.
9
Xem thêm Bộ luật dân sự Đức (German Civil Code), tr.430 tại địa chỉ: />ECTRONI C/6 1 880/99080/F 1903938413/D EU61880%20English.pdf, ngày truy cập 15 tháng 05 năm 2018.


9

khái niệm mẹ, con luôn gắn liền với những sự kiện pháp lý nhất định. Quan hệ giữa mẹ và
con về mặt pháp lý chỉ đƣợc phát sinh khi đƣợc sự chứng nhận của cơ quan nhà nƣớc có
thẩm quyền. Xét về nguyên tắc, ngƣời mẹ, ngƣời con về mặt sinh học sẽ đƣơng nhiên
trùng với ngƣời mẹ về mặt pháp lý vì mối quan hệ này có xuất phát điểm là sự kiện sinh
đẻ để nhằm đảm bảo tính huyết hệ tự nhiên giữa hai thế hệ sinh ra kế tiếp nhau. Tuy nhiên
với trƣờng hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản thì ngƣời mẹ, ngƣời con về mặt
sinh học có thể không trùng với ngƣời mẹ, ngƣời con về mặt pháp lý.Một vấn đề đặt ra là
hệ thống pháp luật cần thiết phải có cơ chế điều chỉnh phù hợp để ngƣời mẹ, ngƣời con về
mặt pháp lý gần nhất với ngƣời mẹ, ngƣời con về mặt sinh học.
Do đó, một câu hỏi đƣợc đặt ra là: “Có phải tất cả những ngƣời phụ nữ sinh ra
mình đều có thể đƣợc gọi là mẹ không?”. Có nhiều khả năng xảy ra nhƣ:
Pháp luật một số nƣớc cho phép mang thai hộ nên ngƣời mang thai và sinh ra đứa
trẻ lại không phải là mẹ của đứa trẻ mà thực chất là ngƣời phụ nữ khác.
Có những trƣờng hợp ngƣời mẹ sinh ra đứa trẻ nhƣng xét nghiệm ADN cho thấy
đứa trẻ có nhóm máu không phù hợp với cả mẹ lẫn bố đứa trẻ. Y học đã chứng minh đƣợc
những trƣờng hợp này do ngƣời mẹ mắc chứng chimerism – trƣờng hợp mà ngƣời mẹ khi
mang bầu đã bắt đầu với đa thai. Sau đó, tế bào của một thai khỏe hơn sẽ hấp thụ tế bào
của thai song sinh và chiếm lấy, mang nó trở thành một phần cơ thể mình và có hai mã di

đứa con hoặc đƣợc pháp luật công nhận”.
1.1.1.2. Khái niệm con
Từ điển tiếng Việt định nghĩa: “


”12. Khái niệm “

gắn liền với sự kiện sinh đẻ nghĩa là “





q

”theo từ điển tiếng Việt tiếp cận theo hƣớng


”. Ngƣời trực tiếp

sinh ra đứa con có thể hiểu là bố mẹ đẻ hay bố mẹ ruột của đứa con. Tuy nhiên, theo quan
điểm lập pháp của các nƣớc trên thế giới đã ghi nhận việc mang thai hộ vì mục đích nhân
đạo thì “ngƣời trực tiếp sinh ra” lại không phải là bố mẹ đẻ hay bố mẹ ruột của đứa con.
Mặt khác, con là khái niệm còn bao hàm cả con nuôi tƣơng ứng với bố nuôi, mẹ nuôi
nghĩa là bố nuôi, mẹ nuôi tuy không phải là bố, mẹ đẻ của đứa con nhƣng là ngƣời trực
tiếp nuôi dƣỡng, yêu thƣơng và chăm sóc đứa con. Nhƣ vậy, khái niệm trên có hạn chế ở
chỗ đã loại bớt các trƣờng hợp khác: mang thai hộ và cha nuôi, mẹ nuôi của đứa con…

11




é








ổ ”13.
Khác với khái niệm của từ điển tiếng Việt, khái niệm trên tiếp cận theo quan điểm
giới, có nghĩa là khái niệm đã có sự phân biệt một đứa trẻ là con trai hoặc con gái và mở
rộng quan hệ cha, mẹ và con hơn bao gồm: một cậu bé hoặc một cô gái có thể là con có
quan hệ huyết thống với cha, mẹ hoặc cũng có thể là con nuôi của cha nuôi, mẹ nuôi…Do
đó, ta có thể tham khảo tính hợp lý của khái niệm đứa trẻ ở chỗ: tính hợp lý về sự phân
biệt giới tính cụ thể, tính hợp lý về không giới hạn quan hệ cha, mẹ và con để từ đó xây
dựng khái niệm “con” trong luận văn. Tiếp cận theo hƣớng này, Từ điển Cambridge
Advanced Learner's Dictionary & Thesaurus của Nhà xuất bản trƣờng Đại học Cambridge
định nghĩa “con trai”: “một đứa con trai liên quan đến bố mẹ của mình”14; “con gái”:
“một đứa con gái liên quan đến bố mẹ của mình”15.
Dƣới góc độ pháp lý, khái niệm con thƣờng đƣợc đề cập đến là: con trong giá thú,
con ngoài giá thú, con chung và con riêng, cụ thể nhƣ sau:
Luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam năm 2000 và năm 2014 chỉ quy định con
chung của vợ chồng chứ không đƣa ra ba khái niệm còn lại. Theo đó, con chung là “con
sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do ngƣời vợ có thai trong thời kỳ đó là con chung của
vợ chồng. Con sinh ra trƣớc ngày đăng ký kết hôn và đƣợc cha mẹ thừa nhận cũng là con
chung của vợ chồng” (Khoản 1 Điều 63 Luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam năm 2000
và Khoản 1, Điều 88 Luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam năm 2014). Đây là một khái

điều kiện kết hôn mà Luật HN&GĐ quy định, dựa theo các khái niệm tại Điều 3 Luật
HN&GĐ thì: “Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi kết hôn” (khoản 1) và “Kết
hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của Luật này về
điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn” (khoản 5).
Hiện nay, hệ thống pháp luật hôn nhân và gia đình của Việt Nam vẫn thừa nhận
quan hệ vợ chồng đối với trƣờng hợp nam nữ chung sống với nhau nhƣ vợ chồng mà
không đăng ký kết hôn trƣớc ngày 3-1-1987 (ngày Luật HN&GĐ năm 1986 có hiệu lực).
Vì vậy, hôn nhân đƣợc thừa nhận trƣớc pháp luật có hai loại:
- Có giấy đăng ký kết hôn
- Không có giấy đăng ký kết hôn nhƣng đƣợc công nhận là vợ chồng trƣớc pháp
luật.

16

Bùi Văn Thấm (2006), Hỏ
83.
17
Viện ngôn ngữ học (2003), ừ ể
18
Hoàng Yến, Thanh Long (2008), ừ
19
Viện ngôn ngữ học (2003), ừ ể
20
Viện ngôn ngữ học (2003), ừ ể


V

V
V


tác giả Bùi Vân Thấm đƣa gia khái niệm: Con trong giá thú là “

ý


ý



”21. Quy định trên không những dài mà còn thiếu vì có những trƣờng hợp cha

mẹ của đứa trẻ không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nhƣng đứa trẻ đó vẫn
đƣợc pháp luật công nhận là con trong giá thú theo quy định của Nghị quyết số
35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội Việt Nam về việc thi hành Luật hôn nhân và
gia đình năm 2000 và Thông tƣ số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày
03/01/2001 hƣớng dẫn thi hành Nghị quyết số 35/2000/QH10.
Do đó, theo quan điểm của tác giả luận văn, “con trong giá thú” là con mà cha mẹ
là vợ chồng trƣớc pháp luật (cha mẹ của đứa con đó có đăng ký kết hôn theo pháp luật
hoặc quan hệ vợ chồng của cha mẹ đứa con đó đƣợc pháp luật thừa nhận).
Con ngoài giá thú là “con mà cha mẹ không phải là vợ chồng trƣớc pháp luật hoặc
cha mẹ ăn ở, chung sống với nhau nhƣ vợ chồng nhƣng việc kết hôn chƣa đƣợc uỷ ban
nhân dân công nhận, ghi vào sổ kết hôn”22. Nhƣ vậy, trƣờng hợp sinh con ngoài giá thú có
thể là ngƣời mẹ không có chồng mà sinh con; ngƣời mẹ có chồng nhƣng đã ngoại tình và
thụ thai với ngƣời khác mà sinh con; hoặc hai bên nam nữ ăn ở, chung sống với nhau nhƣ
vợ chồng và có con với nhau; cũng có thể là trƣờng hợp hai vợ chồng đã li hôn, phán
quyết li hôn của tòa án đã có hiệu lực pháp luật, sau đó họ lại “tái hợp” chung sống với
nhau mà chƣa đăng kí kết hôn lại theo thủ tục luật định, nếu ngƣời phụ nữ sinh con trong
trƣờng hợp này thì đó là con chung ngoài giá thú của hai ngƣời không phải là vợ chồng
trƣớc pháp luật. Con ngoài giá thú có thể là “con chung”, cũng có thể là con riêng của một

không quá ba trăm ngày. Con riêng gồm con trong giá thú và con ngoài giá thú (nếu có)”
(Điều 1 phần III).
Pháp luật Lào nói chung và Luật Gia đình Lào không đƣa ra các định nghĩa về con
nói chung mà chỉ ghi nhận các trƣờng hợp là con sinh ra từ hôn nhân: “đứa con sinh ra từ
cha mẹ đã kết hôn với nhau” hay đƣợc sinh ra do “cha mẹ không cƣới hỏi nhau” hoặc đứa
con đƣợc cha, mẹ nhận là cha, mẹ thật sự và đƣợc chấp nhận theo sự phán quyết của tòa
án24. Theo quy định của pháp luật Gia đình Lào: đôi trai gái đăng ký kết hôn phải đƣợc
đăng ký và phải đƣợc thông báo cho chính quyền địa phƣơng bản làng nơi nam nữ cƣ trú
trƣớc khi trình lên phòng đăng ký kết hôn huyện, thành phố thực hiện, việc kết hôn không
đƣợc đăng ký thì không có giá trị pháp lý25. Nhƣ vậy, theo lý luận khoa học pháp lý thì
đứa trẻ sinh ra mà ngƣời cha và ngƣời mẹ không có quan hệ hôn nhân, không đƣợc đăng
ký kết hôn theo quy định của pháp luật Gia đình Lào đƣợc coi là con ngoài giá thú.
Mặt khác tại Điều 37, Luật Gia đình Lào năm 2008 quy định về việc nhận đứa trẻ
làm con nuôi: “Việc đem đứa con của ngƣời khác về làm con nuôi…” và phải tuân thủ
theo các điều kiện về nhận nuôi con nuôi tại Điều 38; trình tự thủ tục để nhận đứa trẻ làm
con nuôi tại Điều 39, 40 Luật Gia đình Lào năm 2008.
Pháp luật Lào nói chung và các công trình nghiên cứu về gia đình Lào không đƣa
ra khái niệm về “con” là một thiếu sót bởi “con” là một chủ thể quan trọng trong quan hệ
hôn nhân và gia đình, trong mối quan hệ với cha, mẹ. Tuy nhiên căn cứ vào các quy định
của Luật Gia đình Lào năm 2008 ta có thể đƣa ra khái niệm về “con”: “đứa con sinh ra do
cha mẹ đã kết hôn với nhau hay đƣợc sinh ra do cha mẹ không cƣới hỏi nhau nhƣng cha,
24

12.(Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội Lào (2010), L

G

25

5. (Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội Lào (2010), L

1.1.2. Khái niệm quyền và nghĩa vụ của cha mẹ và con
Theo từ điển luật học: “Quyền là khái niệm khoa học pháp lý dùng để chỉ những
điều mà pháp luật công nhận và bảo đảm thực hiện đối với cá nhân, tổ chức để theo đó cá
nhân, tổ chức đƣợc hƣởng, đƣợc làm, đƣợc đòi hỏi mà không ai đƣợc ngăn cản, hạn
chế”26 còn “Nghĩa vụ là việc phải làm theo bổn phận của mình”27.
Dƣới góc độ khoa học pháp lý, quyền và nghĩa vụ của cha mẹ và con là chế định
đặc biệt quan trọng do Luật hôn nhân và gia đình, Luật dân sự điều chỉnh. Theo đó,
Quyền của con cái trong gia đình là nội dung quan hệ giữa cha mẹ và con.Còn quyền và
nghĩa vụ của cha mẹ hàm chứa toàn bộ các quyền và nghĩa vụ về nhân thân và tài sản của
họ với tƣ cách là những chủ thể của các quan hệ pháp luật cha mẹ và con.Hầu hết các
quyền và nghĩa vụ đó thuộc những mối liên hệ tƣơng ứng giữa cha mẹ và con.
Tuy nhiên quyền của cha mẹ và quyền của các con không phải luôn luôn tƣơng
ứng với nhau. Khái niệm quyền của các con rộng hơn nội hàm khái niệm quyền của cha
mẹ. Một phần quyền của các con do pháp luật hôn nhân và gia đình quy định (quyền đối
với tên, thể hiện ý kiến của mình) là các quyền mang tính tuyệt đối. Tƣơng ứng (đối lập)
với các con là chủ thể của các quyền đó không chỉ có những ngƣời làm cha, làm mẹ, mà
còn là bất kỳ cá nhân, ngƣời có thẩm quyền giải quyết các vấn đề liên quan đến lợi ích
của các con. Quyền của trẻ em đƣợc bảo vệ cũng đƣợc áp dụng tƣơng tự.Nó đƣợc sử dụng
để bảo vệ trẻ em trong trƣờng hợp cha mẹ lạm dụng quyền của họ đối với các con.

26
27

Bộ Tƣ Pháp, Viện Khoa học pháp lý (2006), Từ điển luật học, NXB Bách Khoa, NXB tƣ pháp, Hà Nội, tr.648.
Bộ Tƣ Pháp, Viện Khoa học pháp lý (2006), Từ điển luật học, NXB Bách Khoa, NXB tƣ pháp, Hà Nội, tr.560.


16

Một số quyền khác mang tính chất tƣơng đối và tồn tại trong phạm vi các quan hệ

ã ộ

ử” và nguyên tắc “


ẻ e ”; thứ hai, việc pháp luật


17

quy định nghĩa vụ và quyền của cha mẹ và con phải đảm bảo các yêu cầu: vừa thể hiện sự
tôn trọng quyền của các bên trên nguyên tắc thoả thuận nhƣng vẫn phải đảm bảo theo một
quy tắc thống nhất theo sự điều chỉnh của pháp luật - đặc trƣng của “Luật tƣ” (Luật dân
sự); đồng thời sự hiện hữu của yếu tố “công luật” nhằm bảo vệ lợi ích của các con, trẻ em
là cần thiết28; thứ ba, con cái vừa có quyền đƣợc cha mẹ yêu thƣơng, nuôi dƣỡng, chăm
sóc vừa có nghĩa vụ phải chăm sóc, nuôi dƣỡng cha mẹ, đặc biệt khi cha mẹ ốm đau, già
yếu, tàn tật.
Từ những phân tích trên đây, có thể hiểu: “N


q



q ề
q ề





1.2.1. Về mặt xã hội
Việc quy định nghĩa vụ và quyền của cha mẹ và con có những ý nghĩa xã hội to
lớn. Bởi vì, gia đình là tế bào của xã hội, muốn cho xã hội ổn định và phát triển trƣớc hết
ta phải giữ vững sự ổn định của gia đình. Trong khi đó quan hệ giữa cha mẹ và con là một
trong những quan hệ chủ yếu của quan hệ hôn nhân và gia đình. Việc luật hóa nghĩa vụ và
quyền của cha mẹ đối với con tạo ra quy tắc ứng xử của cha mẹ đối với con.Không những
thế, việc quy định nghĩa vụ và quyền của cha mẹ đối với con là biện pháp để bảo vệ đối
tƣợng đặc biệt trong xã hội, đó là “trẻ em”.Không ai có thể phủ nhận vai trò của trẻ em những chủ nhân tƣơng lai của đất nƣớc; là đối tƣợng cần sự quan tâm cả về vật chất lẫn
tinh thần từ phía gia đình, nhà trƣờng và xã hội.Trong đó gia đình, cụ thể là cha mẹ là
nhân tố quyết định trực tiếp đến sự phát triển toàn diện của trẻ em.Hiện nay, khi quy định
về nghĩa vụ và quyền của cha mẹ và con, Luật hôn nhân và gia đình ghi nhận nguyên tắc
bảo vệ trẻ em, bảo vệ quyền lợi của con. Do đó, quy định nghĩa vụ và quyền của cha mẹ
và con là cần thiết nhằm nâng cao trách nhiệm của cha mẹ bảo đảm quyền và nghĩa vụ cơ
bản của trẻ em cũng nhƣ mối quan hệ và nghĩa vụ của con cái trong phụng dƣỡng cha,
mẹ.

28

Trƣờng Đại học Huế (2004), G

L

H

G

V

N


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status