xác định cha, mẹ cho con theo pháp luật việt nam - Pdf 21


MỤC LỤC
1
Phần mở đầu
1.Tính cấp thiết của đề tài
Việc xác định quan hệ cha, mẹ cho con vừa có ý nghĩa về mặt pháp lý vừa có
ý nghĩa về mặt tự nhiên.Quan hệ cha, mẹ cho con được xác lập sẽ được pháp luật và
cộng đồng thừa nhận, là cơ sở để thực hiện quyền và nghĩa vụ giữa cha, mẹ và
con.Đồng thời còn là cơ sở để giải quyết những tranh chấp xảy ra trong thực tiễn
đối với việc xác định quan hệ cha, mẹ cho con. Hệ thống pháp luật Việt Nam đã có
những quy định về vấn đề này nhằm tạo hành lang pháp lý để xác định mối quan hệ
cha, mẹ cho con, tuy nhiên pháp luật Việt Nam về xác định cha, mẹ cho con còn
nhiều bất cập và hạn chế. Pháp luật quy định chưa thực sự rõ ràng, còn tản mản và
chưa đầy đủ, thủ tục chưa nhất quán, còn nhiều chồng chéo. Chưa có căn cứ cụ thể
để xác định cha, mẹ cho con ngoài giá thú dẫn đến tình trạng khi xảy ra tranh chấp
thì cơ quan chức năng còn lúng túng trong vấn đề áp dụng pháp luật. Do đó, cần có
những nghiên cứu, sửa đổi nhằm tạo ra các cơ sở pháp lý để giải quyết các tranh
chấp bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cha, mẹ cho con.
Vì những lý do cơ bản trên, nên em chọn vấn đề: “Xác định cha mẹ cho con theo
pháp luật Việt Nam” làm đề tài khóa luận của mình.
2.Mục đích và phạm vi nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của khóa luận là tập trung tìm hiểu, phân tích và làm
sáng tỏ việc xác định cha, mẹ, con trong hệ thống pháp luật Việt Nam, thực tiễn áp
dụng về việc xác định cha, mẹ, con, qua đó nêu lên những điểm hạn chế trong các
quy định của pháp luật hoặc những khó khăn trong giải quyết các vụ việc xác định
cha, mẹ ,con trên thực tế. Trên cơ sở đó, đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện
pháp luật và thực hiện việc xác định cha, mẹ cho con trên thực tế.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là các quy định của pháp luật về xác định cha, mẹ,
con và thực tiễn áp dụng pháp luật về việc xác định cha, mẹ, con.
3.Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau như phương

1.1.Khái niệm xác định cha, mẹ, con
Theo từ điển Tiếng Việt “Xác định” nghĩa là“qua nghiên cứu, tìm tòi, biết
được rõ ràng, chính xác”, vậy xác định cha, mẹ cho con là việc nghiên cứu, tìm tòi
để tìm ra nguồn gốc của một con người một cách rõ ràng và chính xác.
Theo từ điển Luật học, xác định cha, mẹ cho con được hiểu là:“định rõ một
người là cha hoặc một người là mẹ cho con trên cơ sở các quy định của pháp luật”,
ngoài ra còn có khái niệm xác định con cho cha, mẹ là: “định rõ một người là con
của cha hoặc mẹ trên cơ sở các quy định của pháp luật”. Tuy vậy, mối quan hệ
giữa cha, mẹ và con là mối quan hệ hai chiều và không thể tách rời, xác định cha,
mẹ cho con cũng chính là xác định xác định con cho cha, mẹ vì sau khi xác định
được ai là cha, mẹ hoặc ai là con cũng sẽ phát sinh những quyền và nghĩa vụ giữa
cha, mẹ và con.
+ Dưới góc độ sinh học- xã hội:
Xác định cha, mẹ cho con là việc nghiên cứu, tìm kiếm, nhận diện mối quan
hệ huyết thống giữa hai thế hệ kế tiếp nhau thông qua sự kiện sinh đẻ [12.Tr20]
+ Dưới góc độ pháp lý:
Xác định cha, mẹ cho con là một chế định pháp lý bao gồm các quy phạm
pháp luật, quy định về căn cứ pháp lý, thủ tục pháp lý xác định cha, mẹ, con, cơ sở
để hình thành ở các chủ thể quyền và nghĩa vụ theo luật định. [12.Tr23]
Với ý nghĩa là một quan hệ pháp luật: xác định cha, mẹ, con là quan hệ xã
hội phát sinh trong quá trình tìm kiếm, nhận diện tư cách cha, mẹ, con về mặt huyết
thống của các chủ thể được các quy phạm pháp luật điều chỉnh. [12.Tr26]
1.2.Ý nghĩa của việc xác định cha, mẹ, con
Việc xác định cha, mẹ, con là một vấn đề phức tạp và nhạy cảm song lại rất
cần thiết, việc xác định đó không chỉ có ý nghĩa đối với cá nhân từng chủ thể mà
còn mang ý nghĩa pháp luật và xã hội sâu sắc. Do đó, việc xác định cha, mẹ, con
chứa đựng nhiều ý nghĩa về mặt xã hội và pháp lý:
+ Ý nghĩa về mặt xã hội:
Mối quan hệ giữa cha, mẹ và con là mối quan hệ thiêng liêng. Do đó xác
định rõ mối quan hệ cha, mẹ, con có ý nghĩa đặc biệt quan trong đối với đời sống

1.3.1.Xác định cha, mẹ, con trong pháp luật Việt Nam thời kỳ phong kiến
Hệ thống pháp luật thời kỳ này phản ánh rõ tư tưởng Nho giáo. Mối quan hệ
cha, mẹ và con theo quan niệm đạo đức và pháp lý là tuyệt đối định đoạt và tuyệt
5
đối phục tùng, những đứa con sinh ra từ cuộc hôn nhân phong kiến đương nhiên trở
thành thành viên của gia đình và theo phụ hệ. Việc xác định này hầu như là chắc
chắn chính xác bởi phong tục tập quán, đạo đức truyền thồng và các nguyên tắc do
Luật định. Nếu một người phụ nữ không đoan chính và gây ra hậu quả thì theo
phong tục và luật định họ sẽ phải chịu những hình phạt hà khắc. Chính những
khuôn giáo khắt khe và những hình phạt nghiêm khắc này mà đương nhiên khi
người vợ sinh con ra thì đứa trẻ đó mặc nhiên được thừa nhận là con chung của vợ
chồng. Tuy nhiên, người chồng có thể không thừa nhận đứa trẻ đó nếu phát hiện vợ
mình không chính chuyên hoặc thông gian với người khác. Để chứng minh, theo
phong tục tập quán thì trước sự chứng kiến của các chức sắc trong làng, họ sẽ lấy
hai giọt máu của đứa trẻ và người chồng hòa vào một bát nước lã, nếu thấy hai giọt
máu không hòa đồng màu sắc thì đứa trẻ đó được coi là con riêng của vợ và người
khác, khi đó người chồng không phải có trách nhiệm gì với đứa trẻ và có quyền bỏ
vợ, còn người vợ thì bị coi là phạm một trong bảy tội lớn. Như vậy dù với cách
hành xử của phong tục tập quán hay các quy định về hình phạt của pháp luật phong
kiến đều nhằm hạn chế tình trạng có con ngoài giá thú, giữ vững trật tự gia đình,
đảm bảo đứa con do người vợ sinh ra là con chung của vợ chồng.
Xã hội phong kiến thực hiện chính sách phân biệt đối xử giữa các con trong
gia đình và sự phân biệt sâu sắc nhất chính là giữa con trong giá thú (con chính
thức) với con ngoài giá thú (con tư sinh hay con ngoại hôn). Pháp luật chỉ quy định
hành vi tự nhìn nhận con của người cha và người mẹ đứa trẻ, còn đứa con không thể
nhận cha. Vì thế con tư sinh chỉ được coi là con chính thức khi được sự thừa nhận
của người cha.
Như vậy, hệ thống pháp luật thời kỳ này không đề cập một cách cụ thể và chi
tiết về việc xác định cha, mẹ, con. Mối quan hệ cha, mẹ, con là mối quan hệ tuyệt
đối định đoạt và phục tùng. Đây được xem là một điểm hạn chế của pháp luật.Chính

Đứa con chỉ được thừa nhận là “con chính thức” khi người mẹ thụ thai trong
thời kỳ giá thú, đó là khoảng thời gian mang thai tối thiểu và tối đa của người phụ
nữ kể từ thời điểm thụ thai đến thời điểm sinh con, các nhà làm luật đã đưa ra khái
niệm tại Điều 151 BDLBK như sau: “thụ thai trong thời kỳ giá thú, tức là kể từ sau
khi đã làm lễ cưới cách ngoại một trăm tám mươi ngày sinh con, hay là kể từ sau
khi đã tiêu hôn mà trong khoảng ba trăm ngày sinh con”. Đây được coi là nguyên
tắc suy đoán pháp lý xác định cha cho con (trong giá thú- còn gọi là con chính
7
thức). Tức là những đứa trẻ chỉ được công nhận là “con chính thức” khi được sinh
ra sau 180 ngày kể từ ngày có hôn thú hoặc là trong vòng 300 ngày sau khi hôn thú
đoạn tiêu. Do vậy, nếu đứa trẻ đó sinh ra khi chưa đủ 180 ngày kể từ ngày bố mẹ lập
hôn thú thì người cha có quyền khởi kiện không nhận con theo Điều 153 BDLBK.
Tuy nhiên cũng theo Điều 152 BDLBK thì người chồng đương nhiên phải nhận con
sinh ra trước khi lập hôn thú 189 ngày là “con chính thức” khi: “1. Trước khi lập
giá thú đã biết người đàn bà ấy có thai; 2. Đã chứng kiến việc khai sinh và ký vào
chứng thư khai sinh, hay là trong chứng thư ấy đã biên lời khái rằng không biết ký
tên”.
Việc phân biệt đối xử giữa các loại con trong gia đình được thừa nhận, đặc
biệt đối với con ngoài giá thú: “nếu là con loạn luân hay con ngoại tình của người
me thì hộ lại không được đăng ký sự khai nhận đứa con hoang ấy. Nếu hộ đã trót
khai nhận thì coi như không và vô hiệu” (Điều 168BDLBK). Con ngoài giá thú
không được hưởng các quyền lợi như con trong giá thú cả về quyền nhân thân và
quyền tài sản, chúng không có quyền mang họ của cha đẻ và đương nhiên không có
quyền thừa kế tài sản của người cha đó và ngay cả quyền xin xác nhận một người là
cha đẻ của mình mà pháp luật cũng không cho phép “con ngoài giá thú không được
xin truy nhận cha, mẹ của mình trước tòa án”. Tuy nhiên, pháp luật thời kỳ này có
sự tiến bộ khi quy định các trường hợp thừa nhận “con hoang” thành “con chính
thức” tại các Điều 169 và Điều 170 BDLBK.Trong BDLBK cũng quy định một số
trường hợp có thể xác định một người nào đó là cha đứa con hoang.
Như vậy có thể thấy rằng, vấn đề xác định cha, mẹ, con đã được quy định

người vợ góa cũng có thể tái giá nếu chứng minh được rằng mình không có thai
hoặc đã có thai với người chồng trước để tránh sự lẫn lộn về con cái”. Đối với
những người ly hôn, Sắc lệnh đã dự liệu: “người đàn bà ly dị có thể lấy chồng khác
ngay sau khi có án tuyên ly dị nếu dẫn chứng được rằng mình không có thai hoặc
đang có thai” [34.Điều 4]. Những quy định đó nhằm xác định chính xác cha của
đứa trẻ đó sau này và thời kỳ thai nghén tối đa của người phụ nữ theo tinh thần của
sắc lệnh này là 10 tháng (300 ngày) kể từ ngày thụ thai đứa trẻ đó. Trong thời kỳ
này người vợ có thể bị hạn chế quyền tái giá nhằm tránh sự lẫn lộn về con cái giữa
người chống trước và người chồng sau. Việc phân biệt con hoang, con loạn luân hay
con ngoại tình không được đặt ra trong sắc lệnh này và đặt biệt lần đầu tiên trong
lịch sử pháp luật của Việt Nam, nhà làm luật đã quy định:“người con hoang vô thừa
nhận được phép thưa trước tòa án để truy nhận cha hoặc mẹ cho mình” [34.Điều
9]. Có thể thấy đây là một điểm vô cùng tiến bộ của pháp luật thời kỳ này.
9
* Giai đoạn 1954-1975
Năm 1959, bản Hiến pháp thứ hai của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra
đời đã ghi nhận những nguyên tắc cơ bản quan trọng của Luật Hôn nhân gia đình
như quyền bình đẳng nam nữ về mọi mặt, bảo vệ quyền lợi của phụ nữ và trẻ
em tạo nền tảng cho việc xây dựng chế độ hôn nhân gia đình mới. Luật HN&GĐ
năm 1959 đã được Quốc hội khóa I, kỳ họp thứ 11 chính thức thông qua ngày
29/12/1959, với sáu chương, trong đó quan hệ cha, mẹ và con được quy định tại
chương VI. Các quy định này tuy chưa đầy đủ nhưng cũng có sự tiến bộ đáng kể về
cách nhìn nhận các loại con.
Luật HN&GĐ năm 1959 quy định quyền xin nhận cha, mẹ, con ngoài giá thú
trước Ủy ban hành chính cơ sở (Điều 21) hoặc kiện trước Tòa án (Điều 22). Cũng
như theo quy định tại Điều 21 Luật HN&GĐ năm 1959 các chủ thể có quyền khởi
kiện xác định cha, mẹ, con ngoài giá thú bao gồm: người con ngoài giá thú đã thành
niên, người mẹ của người con ngoài giá thú, người thay mặt cho đứa trẻ ngoài giá
thú chưa thành niên. Việc con ngoài giá thú được cha, mẹ nhận hoặc được Tòa án
nhân dân cho nhận cha, mẹ có quyền và nghĩa vụ như con chính thức (Điều 23).

180 ngày sau khi lập hôn thú thì có được coi là con chính thức hay không? Điều 208
Bộ luật Sài Gòn đã quy định các trường hợp đứa trẻ đó được coi là con chính thức
khi: “đứa trẻ sinh ra chưa đủ 180 ngày sau khi kết hôn cũng được coi là con của
người chồng, trừ khi bị người này khước từ. Sự khước từ đương nhiên được chấp
nhận ngoại trừ trường hợp người chồng:
+ Trước khi kết hôn biết rằng người đàn bà đã thụ thai
+ Có mặt khi lập giấy khai sinh cho đứa trẻ hay đã tự mình đứng khai sinh cho
đứa trẻ”.
Nhưng nếu có sự khước từ của người chồng thì cũng phải có chứng cứ chứng
minh rằng trong thời gian từ 180 ngày đến 300 ngày trước khi sinh, vợ chồng không
thể gần gũi nhau vì xa cách hoặc vì tai nạn rủi ro làm cho người chồng bất lực hoặc
nếu sự sinh đẻ lại giấu diếm và có sự kiện chứng minh người chồng không thể là
cha của đứa trẻ [20.Điều 209]
Đối với những đứa trẻ sinh quá 300 ngày sau khi hôn thú đoạn tiêu, theo quy
định của Bộ luật Dân sự năm 1972 đứa trẻ được sinh ra sau 300 ngày kể từ ngày
hôn thú của cha, mẹ đoạn tiêu thì không được coi là con chính thức.
Ngoài ra, pháp luật thời kỳ này đã có điểm tiến bộ trước khi quy định về
việc chính thức hóa con ngoại hôn, thừa nhận con ngoại hôn, truy tìm phụ hệ ngoại
hôn
11
Tương tự như pháp luật thời kỳ trước, con ngoại hôn được phép thừa nhận và
việc thừa nhận này chỉ phụ thuộc vào ý chí của người thừa nhận, tuy nhiên đối với
con loạn luân hay con ngoại tình thì không được phép khai nhận (Điều 99 và Điều
102 Luật gia đình năm 1959). Đồng thời các nhà làm luật cũng đưa ra thế nào là con
ngoại tình hay con loạn luân trong Bộ Dân luật Sài Gòn:
+ Con loạn luân là con của một người đàn ông và một người đàn bà có họ hàng vào
trường hợp cấm kết hôn;
+ Con ngoại tình là con của một người đàn ông đã có vợ với một người đàn bà đã
có chồng hoặc một trong hai bên đã có vợ, có chồng.
Về truy tìm phụ hệ tư sinh, theo Điều 107 Luật gia đình năm 1959, Điều số 24

*Giai đoạn từ năm 1975 đến nay
Thời kỳ này, bản Hiến pháp thứ ba của nước ta đã ra đời, làm nền tảng cho
bước phát triển mới của Luật HN&GĐ.Luật HN&GĐ năm 1986 đã được Quốc hội
khóa VII kỳ họp thứ 12 thông qua ngày 29/12/1987 và được hội đồng nhà nước
công bố ngày 3/1/1987. Luật HN&GĐ năm 1986 đã dành hẳn chương V với sáu
điều luật quy định về việc xác định cha, mẹ, con. Đây là một bước tiến mới thể hiện
sự hoàn thiện của Luật hôn nhân và gia đình. Đặc biệt Điều 28 Luật HN&GĐ năm
1986 đã quy định: “con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai
trong thời kỳ đó là con chung của vợ chồng. Trong trường hợp có yêu cầu xác định
lại vấn đề này thì phải có chứng cứ khác”. “chứng cứ khác” được giải thích tại Mục
5 Nghị quyết số 01/NQ-HĐTP ngày 20/1/1988 đó là: người vợ công nhận là mình
có thai với người khác từ trước khi kết hôn; người chồng chứng minh rằng mình đã
đi công tác xa trong thời gian mà người vợ có thể có thai đứa trẻ Ngoài ra tại Điều
31 Luật HN&GĐ năm 1986 đã quy định quyền xin nhận cha, mẹ của con ngoài giá
thú ngay cả khi cha, mẹ đã chết. Về hậu quả pháp lý của việc xác định cha, mẹ, con
ngoài giá thú, Luật đã quy định: “con ngoài giá thú được cha, mẹ nhận hoặc được
Tòa án nhân dân cho nhận cha, mẹ có mọi quyền và nghĩa vụ như con trong giá
thú” [21.Điều 31], quy định này nhằm xóa bỏ sự phân biệt đối xử giữa các con.
Tóm lại, trong giai đoạn này pháp luật đã quy định khá đầy đủ về vấn đề xác
định cha, mẹ, con phù hợp với thời kỳ đổi mới của đất nước.Tuy nhiên, trong thời
kỳ đổi mới của đất nước Luật HN&GĐ năm 1986 còn nhiều điểm hạn chế cần phải
sửa đổi.Căn cứ trên những nguyên tắc cơ bản của Hiến pháp năm 1992 và BLDS
năm 1995, Luật HN&GĐ năm 2000 được Quốc hội khóa X, kỳ họp thứ 7 thông qua
ngày 9/6/2000 và có hiệu lực thi hành ngày 1/1/2001. Luật gồm 13 chương, 110
điều, trong đó vấn đề xác định cha, mẹ, con được quy định ở một chương riêng đó
13
là chương VII, từ Điều 63 đến Điều 66. Về cơ bản, việc xác định cha, mẹ cho con
vẫn dựa trên những quy định của Luật HN&GĐ năm 1986 như các quy định về
nguyên tắc suy đoán pháp lý xác định cha, mẹ, con trong giá thú, quyền nhận cha,
mẹ, con Luật HN&GĐ đã thể hiện được điểm mới tại Điều 63 quy định về việc

chung của vợ chồng.
2.Trong trường hợp cha, mẹ không thừa nhận con thì phải có chứng cứ và phải
được Tòa án xác định
Việc xác định cha, mẹ cho con được sinh ra theo phương pháp khoa học do Chính
phủ quy định”
Đồng thời theo hướng dẫn tại mục 5 Nghị quyết 02/2000/NQ-HDTP ngày
23/12/2000 của Hội đồng thẩm phán TANDTC hướng dẫn áp dụng một số quy định
của Luật HN&GĐ thì trong các trường hợp sau đây phải được coi là con chung của
vợ chồng:
-Con sinh ra sau khi đã tổ chức đăng ký kết hôn cho đến trước khi chấm dứt quan
hệ hôn nhân do Tòa án công nhận hoặc quyết định theo yêu cầu của vợ hoặc chồng
hoặc của cả hai vợ chồng;
15
-Con sinh ra sau khi chấm dứt quan hệ hôn nhân do Tòa án công nhận hoặc quyết
định theo yêu cầu của vợ hoặc chồng hoặc cả hai vợ chồng, nhưng người vợ đã có
thai trong thời kỳ hôn nhân (trong thời kỳ từ khi đã tổ chức đăng ký kết hôn cho đến
trước khi chấm dứt quan hệ hôn nhân).
-Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn (ngày tổ chức đăng ký kết hôn) nhưng
được cả hai vợ chồng thừa nhận.
Tại Điều 21 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP ngày 03/10/2001 của Chính phủ quy
định chi tiết thi hành Luật HN&GĐ năm 2000 đã xác định con chung của vợ chồng:
“1. Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn
nhân theo quy định tại khoản 1 Điều 63 của Luật hôn nhân và gia đình được xác
định là con chung của vợ chồng.
Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận cùng là con
chung của vợ chồng.
2.Con sinh ra trong vòng 300 ngày, kể từ ngày người chồng chết hoặc kể từ ngày
bản án, quyết định của Tòa án xử cho vợ chồng ly hôn có hiệu lực pháp luật, thì
được xác định là con chung của hai người”.
Theo quy định trên thì căn cứ suy đoán mối quan hệ cha, mẹ, con trong giá thú bao

chồng (ngày họ tổ chức lễ cưới, ngày họ về ở với nhau được tổ chức chứng kiến )
chứ không phải là ngày họ đăng ký kết hôn. Do vậy, khi họ đăng ký kết hôn, thời
điểm bắt đầu thời kỳ hôn nhân sẽ được xác định từ ngày họ bắt đầu chung sống
trong quan hệ vợ chồng (được ghi rõ trong giấy chứng nhận kết hôn. [13.tr84].
+ Căn cứ dựa trên cơ sở thụ thai và sự kiện sinh đẻ của người mẹ đứa trẻ:
“Có thai” là đang mang thai trong bụng, thụ thai là bắt đầu có thai. [12.Tr85]. Được
coi là con sinh ra do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân nếu “con sinh ra trong
vòng 300 ngày kể từ ngày chồng chết hoặc kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa
án xử cho vợ chồng ly hôn có hiệu lực pháp luật” [21.Điều 23]. Theo đó, những đứa
trẻ được sinh ra trong vòng 300 ngày kể từ khi hôn nhân chấm dứt trước pháp luật,
đứa trẻ mặc nhiên được xác định là con do người vợ có thai với người chồng khi
người chồng còn sống hoặc khi vợ chồng chưa ly hôn. Như vậy, việc mở rộng căn
cứ suy đoán pháp lý này có ý nghĩa sâu sắc với việc xác định cha, mẹ, con, góp
phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của những người liên quan. Đặc biệt là
quyền lợi chính đáng của người phụ nữ và trẻ em.
+ Căn cứ vào sự thừa nhận của cha, mẹ:
Đây được xem là căn cứ đặc biệt vì chỉ áp dụng với trường hợp con sinh ra trước
ngày đăng ký kết hôn. Điều kiện để xác định đứa trẻ là con trong giá thú của vợ
17
chồng là dựa vào việc đăng ký kết hôn của cha, mẹ đứa trẻ và sự thừa nhận đứa trẻ
đó là con chung của vợ chồng.
Điều 63 Luật HN&GĐ năm 2000 quy định “trong trường hợp cha, mẹ không nhận
con thì phải có chứng cứ và phải được Tòa án xác định”. Thực tế cho thấy, khi
người vợ sinh con, người chồng đã làm giấy khai sinh cho đứa trẻ, lấy họ tên mình
là họ tên cha của đứa trẻ. Thậm chí, đứa trẻ đó về mặt sinh học không phải con của
người chồng nhưng về nguyên tắc trước tiên người chồng vẫn được xác định là cha
của đứa trẻ, sự im lặng của người chồng chính là sự mặc nhiên mối quan hệ cha
con. Pháp luật không can thiệp sâu vào mối quan hệ này.
Nếu người chồng thấy nghi ngờ người vợ đã ngoại tình với người khác; sau khi
người vợ sinh con mà không “thừa nhận” đứa trẻ đó là con của mình thì phải có

quan hệ hôn nhân hiện nay. Đứa con đó cũng được coi là con chung của vợ chồng.
Luật HN&GĐ không quy định về thời gian mang thai tối thiểu sau khi kết hôn mà
chỉ quy định đứa con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng, vậy
nên người mẹ sinh ra ở bất kỳ thời điểm nào sau khi kết hôn đều được thừa nhận là
con chung của vợ chồng. Quy định này phù hợp với tình hình xã hội hiện nay nhằm
bảo vệ quyền lợi cho bà mẹ và trẻ em, khi mà thực trạng vấn đề hôn nhân và gia
đình ngày nay, nam nữ được tự do yêu đương và tìm hiểu nhau trước khi đăng ký
kết hôn.
+ Trường hợp thứ ba, con do người vợ thụ thai và sinh ra trong thời kỳ hôn nhân
Đây là trường hợp đương nhiên, phù hơp với thực tế về hôn nhân và gia đình.
+ Trường hợp thứ tư, con do người vợ thụ thai trong thời kỳ hôn nhân và sinh ra
sau khi hôn nhân chấm dứt trong thời hạn luật định tối đa là 300 ngày: được coi là
con của người chồng trong quan hệ hôn nhân trước khi đứa trẻ được sinh ra. Theo
nghiên cứu khoa học và cả kinh nghiệm dân gian, thời gian mang thai tối đa của
người phụ nữ khoảng 300 ngày, điều này phù hợp với thai gian mang thai tối đa quy
định tại Điều 21 Nghị định 70/2001/NĐ-CP của chính phủ quy định chi tiết Luật
HN&GĐ năm 2000: “con sinh ra trong vòng 300 ngày, kể từ ngày người chống chết
hoặc kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án xử cho vợ chồng ly hôn có hiệu lực
pháp luật, thì được xác định là con chung của hai người”. Trên cơ sở thời gian
mang thai tối đa này, Luật HN&GĐ năm 2000 đã dự liệu trường hợp đứa trẻ được
sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ ngày hôn nhân chấm dứt vẫn được coi là con
chung của vợ chồng, nghĩa là không loại trừ trường hợp đứa trẻ được thụ thai vào
đúng ngày hôn nhân chấm dứt.
19
+ Trường hợp thứ năm, con do người vợ thụ thai trước thời kỳ hôn nhân và sinh ra
sau khi hôn nhân chấm dứt trong một khoảng thời gian luật định: cũng được coi là
con chung của vợ chồng. Đây là một trường hợp đặc biệt của nguyên tắc suy đoán
pháp lý xác định cha, mẹ, con. Điều 63 Luật HN&GĐ năm 2000 quy định: “ con do
người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng” nên có thể hiểu
là người vợ chỉ cần có thai trong thời kỳ hôn nhân (thời điểm thụ thai có thể trước

giải quyết?
Trong thực tế cũng có nhiều nơi sinh con theo phong tục tập quán như tập quán cư
trú trên núi cao của một số dân tộc ít người, tập quán thủy cư, tục gửi rể ba năm mới
tổ chức lễ cưới Vì vậy, việc xác định cha, mẹ, con còn gặp nhiều khó khăn. Nhiều
địa bàn được coi là điểm trắng về đăng kí khai sinh, hoặc nếu đi đăng kí khai sinh
thì không xuất trình được giấy chứng sinh, những trường hợp này UBND vẫn làm
giấy khai sinh cho trẻ em đó, khi có giấy cam đoan về việc sinh là có thực của
người đi khai sinh cho trẻ em, nếu như không có người làm chứng. Điều này có thể
dẫn tới việc xác định cha, mẹ, con là không chính xác [13.Tr97].
Về tranh chấp trong việc xác định lại quan hệ cha mẹ và con trong thực tiễn thường
ít hơn đối với những tranh chấp trong việc xác định quan hệ cha, mẹ, con ngoài giá
thú.Xét một cách khái quát thì những vụ việc về HN&GĐ hiện nay ngày càng gia
tăng.Trong đó những vụ việc về ly hôn chiếm tỉ lệ cao nhất. Đối với những tranh
chấp về cha, mẹ, con trong thực tiễn hiện nay so với các vụ việc về HN&GĐ là
không nhiều. Những tranh chấp về quan hệ cha, mẹ, con nhiều khi liên quan đến các
vụ việc khác như ly hôn, tranh chấp về tài sản và con cái khi ly hôn, hủy việc kết
hôn trái pháp luật, thừa kế.
2.1.2. Xác định cha, mẹ, con ngoài giá thú
Khái niệm con ngoài giá thú được Luật HN&GĐ năm 2000 sử dụng nhưng lại
không đưa ra định nghĩa cụ thể thế nào là con ngoài giá thú. Có thể thấy, đây là khái
niệm mà hầu hết pháp luật các nước sử dụng để chỉ những đứa con được sinh ra khi
cha mẹ chúng không có hôn nhân hợp pháp. Con ngoài giá thú là “con của cha mẹ
không có hôn nhân hợp pháp”.[12.Tr45]
Từ khái niệm này có thể hiểu con ngoài giá thú là đứa con được sinh ra khi ở vào
một trong các trường hợp sau:
-Người phụ nữ không có chồng nhưng có quan hệ sinh lý với một người đàn ông
dẫn đến có thai và sinh con;
- Người phụ nữ có chồng nhưng ngoại tình, có thai với người đàn ông khác và sinh
con;
21

không cưới xin gì nữa;
22
3. Người mẹ đã bị người này hiếp dâm, cưỡng dâm trong thời gian có thể thụ thai
đứa con;
4. Sau khi sinh đứa con, người này đã thăm nom, chăm sóc đứa con như là con của
mình;
5. Có những thư từ mà người này viết xác nhận đứa con đó do người phụ nữ đó
sinh ra là con của họ”.
Theo hướng dẫn trên thì vấn đề suy đoán quan hệ cha-con ngoài giá thú sẽ tính từ
ngày người mẹ sinh con ngoài giá thú, suy ngược trở về thời kỳ mà người mẹ có
khả năng thụ thai đứa con (khoảng từ 180 ngày đến 300 ngày trước ngày người mẹ
sinh con). Người phụ nữ đó có quan hệ với người đàn ông nào vào thời gian người
phụ nữ có thể thụ thai, người đó sẽ bị nghi vấn là cha của đứa trẻ. Chúng tôi thấy
rằng, với các chứng cứ quy định trên, tuy khả năng chứng minh chỉ mang tính tương
đối, nhưng để đảm bảo quyền lợi của hai mẹ con đứa trẻ trước pháp luật thì những
chứng cứ này là cơ sở cần thiết để chứng minh quan hệ cha-con là có thực.
Tại khoản 2 Điều 63 và Điều 64 Luật HN&GĐ năm 2000 có quy định khi có yêu
cầu Tòa án xác định một người nào đó là con của họ hay không phải là con của họ
thì phải có chứng cứ. Vấn đề này cũng được Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP
hướng dẫn như sau “khi người yêu cầu Tòa án xác định một người nào đó là con
của họ hay không phải là con của họ thì phải có chứng cứ. Trong trường hợp cần
thiết thì giám định gien, người có yêu cầu giám định gien phải nộp lệ phí giám định
gien”. Tại khoản 3 Điều 21 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP cũng quy định trong
trường hợp vợ hoặc chồng không nhận đứa trẻ là con chung thì phải có chứng cứ và
phải được Tòa án xác định. Như vậy, về nguyên tắc khi khởi kiện các đương sự phải
đưa ra được các chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình là có cơ sở. Tuy nhiên
những chứng cứ mà đương sự dựa vào đó để chứng minh mối quan hệ cha, mẹ, con
và được Tòa án chấp nhận bao gồm những chứng cứ nào thì pháp luật vẫn chưa có
quy định cụ thể.
Cho tới nay thông tư số 15/DS không còn hiệu lực, pháp luật hiện hành lại không

trong giấy khai sinh của đứa trẻ (nếu đứa trẻ đã được đăng kí khai sinh trước đó)
theo đúng tinh thần của Điều 9-NĐ70, mà không cần phải thông qua thủ tục đăng
ký nhận con nữa. Nếu sau khi đăng ký kết hôn, vợ chồng mới tiến hành đăng ký
khai sinh cho đứa con đã sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn thì sẽ tiến hành thủ tục
đăng ký khai sinh cho đứa trẻ với tư cách là con trong giá thú, miễn rằng vợ chồng
không phản đối. Nếu người đó không đăng kí kết hôn với người mẹ đứa trẻ, thì khi
24
đó mới tiến hành thủ tục nhận con. Trong khi đó, một số UBND lại tiến hành thông
qua thủ tục đăng ký nhận con cho dù người đàn ông đó đã đăng ký kết hôn với
người mẹ đứa trẻ trước đó. Bởi vì như vậy mới đảm bảo đúng tinh thần của Điều
63- Luật HN&GĐ năm 2000 “con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha
mẹ thừa nhận cũng là con chung của vợ chồng” kể cả đối với trường hợp cha mẹ
đứa trẻ đó đã sống chung như vợ chồng được coi là có giá trị pháp lý.
+ Theo biểu mẫu đăng ký hộ tịch thì việc đăng ký nhận cha, mẹ, con chỉ có hai biểu
mẫu đó là đăng ký khai nhận cha, mẹ (dùng cho trường hợp con đã thành niên nhận
cha, mẹ) và tờ khai đăng ký nhận con. Vì vậy, trên thực tế có trường hợp xảy ra là
người cha, người mẹ chưa thành niên muốn nhận con có được chấp nhận không?Đa
số các UBND vẫn tiến hành thủ tục đăng ký vì vẫn đảm bảo sự phù hợp với biểu
mẫu về tờ khai đăng ký nhận con.Nhưng có UBND lại không giải quyết vì khi
người đó là người chưa thành niên thì chưa đủ năng lực hành vi dân sự để tự mình
đăng ký nhận con hay ủy quyền cho người khác. Hơn nữa, đối với việc đăng ký
nhận cha, mẹ, con không thuộc trường hợp được ủy quyền cho người khác đăng ký
thay. Mặt khác, người con thành niên mới được tự mình đăng ký nhận con thì người
cha, người mẹ chưa thành niên không thể đăng ký nhận con được. Nếu giải quyết
theo thủ tục tại Tòa án thì cũng không có cơ sở pháp lý vì Điều 66-Luật HN&GĐ
năm 2000 không đề cập đến người cha, người mẹ chưa thành niên sẽ được ai yêu
cầu xác định con cho họ.
+ Thực tế đã và đang xảy ra hiện tượng người mẹ của đứa trẻ đã thông tin không
đúng sự thật về nhân thân của mình khi sinh con tại cơ sở y tế. Từ đó dẫn đến việc
giấy chứng sinh cũng không có những thông tin chính xác về họ tên người mẹ, nơi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status