hoàn thiện pháp luật về xác định cha, mẹ cho con - Pdf 30

TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT

*******

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
(Niên khoá 2011 – 2015)
ĐỀ TÀI

HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT
VỀ XÁC ĐỊNH CHA, MẸ CHO CON

Giảng viên hướng dẫn:

Sinh viên thực hiện:

HUỲNH THỊ TRÚC GIANG
BỘ MÔN TƢ PHÁP

NGUYỄN THỊ NHẬT LAN
MSSV: 5115897
Lớp: Thƣơng mại 2 – K37

Cần Thơ, tháng 11 - 2014


NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………


Hoàn thiện pháp luật về xác định cha, mẹ cho con
LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tác giả xin gửi lời cảm ơn đến Ban giám hiệu, quý thầy cô khoa Luật
trường Đại học Cần Thơ đã luôn nhiệt tình giảng dạy và truyền đạt những kiến thức bổ
ích cũng như tạo điều kiện để tác giả có thể hoàn thành luận văn này.
Và hơn hết, tác giả xin gửi lời cảm ơn đến cô Huỳnh Thị Trúc Giang đã luôn tận
tâm chỉ dẫn, góp ý và giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình thực hiện luận văn.
Cảm ơn gia đình và bạn bè đã luôn bên cạnh động viên tác giả.
Do thời gian hữu hạn và kiến thức cũng như kinh nghiệm thực tiễn còn hạn chế,
nên kết quả đạt được không tránh khỏi những thiếu sót. Tác giả hy vọng nhận được sự
lượng thứ, góp ý của quý thầy cô để luận văn được hoàn chỉnh hơn.
Cuối lời xin kính chúc quý thầy cô thật nhiều sức khỏe và hoàn thành tốt công
tác.
Cần Thơ, ngày 31 tháng 10 năm 2014
Sinh viên thực hiện

Nguyễn Thị Nhật Lan

GVHD: Huỳnh Thị Trúc Giang

SVTH: Nguyễn Thị Nhật Lan


Hoàn thiện pháp luật về xác định cha, mẹ cho con

MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU .................................................................................................................... 1
CHƢƠNG 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ XÁC ĐỊNH CHA, MẸ CHO CON ............. 3
1.1 Một số khái niệm cơ bản .......................................................................................... 3

SVTH: Nguyễn Thị Nhật Lan


Hoàn thiện pháp luật về xác định cha, mẹ cho con
2.3 Xác định cha, mẹ cho con theo phƣơng pháp khoa học ...................................... 28
2.3.1 Cơ sở pháp lý về xác định cha, mẹ cho con theo phương pháp khoa học ......... 28
2.3.2 Nguyên tắc xác định cha, mẹ cho con theo phương pháp khoa học .................. 29
2.4 Xác định cha, mẹ cho con trong trƣờng hợp mang thai hộ vì mục đích
nhân đạo ........................................................................................................................ 31
2.4.1 Cơ sở pháp lý về việc xác định cha, mẹ cho con trong trường hợp mang
thai hộ vì mục đích nhân đạo ...................................................................................... 31
2.4.2 Nguyên tắc xác định cha, mẹ cho con trong trường hợp mang thai hộ vì
mục đích nhân đạo ...................................................................................................... 31
2.5 Trình tự, thủ tục xác định cha, mẹ cho con ......................................................... 33
2.5.1 Xác định cha, mẹ cho con bằng thủ tục hành chính ........................................... 34
2.5.2 Xác định cha, mẹ cho con bằng thủ tục tư pháp ................................................ 37
CHƢƠNG 3. THỰC TRẠNG VÀ HƢỚNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ
XÁC ĐỊNH CHA, MẸ CHO CON ................................................................................. 40
3.1 Thực trạng và giải pháp về xác định cha, mẹ cho con ........................................ 40
3.1.1 Thực trạng và giải pháp về xác định cha, mẹ cho con theo thủ tục hành
chính. 40
3.1.2 Thực trạng và giải pháp về xác định cha, mẹ cho con theo thủ tục tư pháp ...... 44
3.2 Những bất cập trong quy định của pháp luật và kiến nghị hoàn thiện pháp
luật về xác định cha, mẹ cho con ................................................................................. 47
KẾT LUẬN ....................................................................................................................... 51
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

GVHD: Huỳnh Thị Trúc Giang

SVTH: Nguyễn Thị Nhật Lan

Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này nên tác giả chọn đề tài “Hoàn
thiện pháp luật về xác định cha, mẹ cho con” với mong muốn tìm hiểu về vấn đề này,
qua đó đề ra những giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật.
2. Mục đích nghiên cứu đề tài
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài “Hoàn thiện pháp luật về xác định cha,
mẹ cho con” là nhằm tìm hiểu, phân tích, làm rõ các quy định của pháp luật và thực
GVHD: Huỳnh Thị Trúc Giang

1

SVTH: Nguyễn Thị Nhật Lan


Hoàn thiện pháp luật về xác định cha, mẹ cho con
trạng về việc xác định cha, mẹ cho con. Qua đó, có sự so sánh và phát hiện những bất
cập trong quy định của pháp luật cũng như những vướng mắc trong quá trình giải quyết
các vụ việc liên quan đến vấn đề xác định cha, mẹ cho con. Trên cơ sở này, nêu lên
những nguyên nhân của các vướng mắc đó, đồng thời đưa ra một số kiến nghị nhằm
hoàn thiện hệ thống pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật vào thực tiễn.
3. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài “Hoàn thiện pháp luật về xác định cha, mẹ cho
con” là tập trung tìm hiểu, nghiên cứu các quy định của pháp luật về vấn đề xác định
cha, mẹ cho con trong nước, trên phương diện lý luận và thực tiễn. Trong khuôn khổ của
luận văn, tác giả tập trung nghiên cứu từ các tài liệu như: Luật hôn nhân và gia đình năm
1959, 1986, 2000, 2014, nghị định, nghị quyết, thông tư cùng một số nguồn tài liệu khác
có liên đến vấn đề xác định cha, mẹ cho con.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Đề tài “Hoàn thiện pháp luật về xác định cha, mẹ cho con” vận dụng phương
pháp luận chung của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, cùng
một số phương pháp nghiên cứu khác như: phương pháp so sánh, phương pháp phân

hiện hành lại không định nghĩa cụ thể khái niệm xác định cha, mẹ cho con là như thế
nào. Tuy nhiên, có thể hiểu “xác định cha, mẹ cho con” dưới nhiều góc độ khác nhau:
- Dưới góc độ sinh học – xã hội: Có thể thấy quan hệ giữa cha, mẹ, con là những
mối quan hệ có liên quan mật thiết với nhau và không thể tách rời. Trong xã hội, theo
quan niệm truyền thống và cả về mặt sinh học thì giữa những người là cha, mẹ, con với
nhau sẽ có cùng huyết thống thông qua sự kiện sinh đẻ của người phụ nữ. Và cha, mẹ
phải là những người trực tiếp sinh ra đứa trẻ và ngược lại, con phải mang huyết thống và
được sinh ra từ chính cha, mẹ của mình. Như vậy nếu xét dưới góc độ này, việc xác định
cha, mẹ cho con không phụ thuộc vào hôn nhân hợp pháp của cha mẹ, hay nói cách khác
mối quan hệ cha, mẹ, con được ràng buộc tự nhiên mà không cần phải được xác định
theo những quy định của pháp luật. Như vậy dưới góc độ sinh học – xã hội, “xác định
cha, mẹ cho con” là việc nghiên cứu, tìm kiếm, nhận diện mối quan hệ huyết thống giữa
hai thế hệ kế tiếp nhau thông qua sự kiện sinh đẻ 1.
Tuy nhiên ngày nay cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật thì yếu tố
“huyết thống” không còn được đảm bảo nữa trong trường hợp sinh con theo phương
pháp khoa học hoặc mang thai hộ. Do đó, mối quan hệ giữa những người được xác định
là cha, mẹ, con có thể có hoặc không cùng huyết thống với nhau và người con trong mối
quan hệ này có thể không được sinh ra từ những người được xác định là cha, mẹ của
mình.
- Dưới góc độ khoa học – pháp lý: Mối quan hệ cha, mẹ, con không chỉ đơn thuần
là những mối quan hệ tình cảm liên quan nội tại trong phạm vi gia đình, mà còn là một
quan hệ xã hội được pháp luật điều chỉnh. Do đó, việc xác định cha, mẹ cho con dưới
1

Nguyễn Thị Lan, Luận án tiến sĩ Luật học “Xác định cha, mẹ, con trong Pháp luật Việt Nam”,
Đại học Luật Hà Nội, năm 2008, tr. 10

GVHD: Huỳnh Thị Trúc Giang

3

và nghĩa vụ do quy định của pháp luật, cũng như làm thay đổi mối quan hệ cha, mẹ, con.
Có thể thấy, xét dưới nhiều góc độ khác nhau thì xác định cha, mẹ, con được hiểu
theo nhiều hướng khác nhau. Tuy nhiên, dù theo cách hiểu nào thì mục đích sau cùng
của việc xác định cha, mẹ, con cũng là nhằm nhận diện đúng tư cách của các chủ thể

2

Nguyễn Thị Lan, Luận án tiến sĩ Luật học “Xác định cha, mẹ, con trong Pháp luật Việt
Nam”, Đại học Luật Hà Nội, năm 2008, tr. 10
3
Nguyễn Thị Lan, Luận án tiến sĩ Luật học “Xác định cha, mẹ, con trong Pháp luật Việt Nam”,
Đại học Luật Hà Nội, năm 2008, tr. 11

GVHD: Huỳnh Thị Trúc Giang

4

SVTH: Nguyễn Thị Nhật Lan


Hoàn thiện pháp luật về xác định cha, mẹ cho con
trong mối quan hệ cha, mẹ, con. Từ đó làm căn cứ phát sinh quyền và nghĩa vụ của các
bên.
1.1.2 Khái niệm con trong giá thú
Trong hệ thống pháp luật hôn nhân và gia đình từ trước đến nay không đưa ra
định nghĩa về khái niệm “con trong giá thú” mặc dù đã có sử dụng đến thuật ngữ này.
Trước hết, theo Từ điển Luật học thì “giá thú” là văn bản có giá trị pháp lý thừa nhận
việc lấy vợ, lấy chồng hợp pháp của những người chưa có vợ hoặc chưa có chồng 4.
Như vậy có thể hiểu, con trong giá thú là con được sinh ra từ mối quan hệ vợ chồng hợp
pháp. Nói một cách cụ thể thì “con trong giá thú” là con mà cha, mẹ có quan hệ hôn


GVHD: Huỳnh Thị Trúc Giang

5

SVTH: Nguyễn Thị Nhật Lan


Hoàn thiện pháp luật về xác định cha, mẹ cho con
thú là con được sinh ra từ mối quan hệ giữa cha, mẹ không tồn tại hôn nhân hợp pháp,
tức là trước pháp luật, họ không được công nhận là vợ chồng.
Có nhiều trường hợp con sinh ra được xác định là con ngoài giá thú từ mối quan
hệ mà cha, mẹ không phải là vợ chồng trước pháp luật; hoặc tuy cha, mẹ ăn ở, chung
sống với nhau như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn, bao gồm:
- Người mẹ không có chồng mà sinh con.
- Người mẹ có chồng, nhưng ngoại tình, có con với người khác.
- Hai bên nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng, trong thời gian sống chung,
giữa hai người có con chung với nhau, nhưng cha mẹ không có đăng ký kết hôn (kể cả
trường hợp hai vợ chồng đã ly hôn, sau đó lại sống chung với nhau nhưng không đăng
ký kết hôn lại. Nếu người mẹ sinh con trong thời kỳ này thì con đó là con chung ngoài
giá thú) 9.
Như vậy, có thể thấy việc con sinh ra được xác định có phải là con ngoài giá thú
hay không, điều này phụ thuộc vào quan hệ hôn nhân của cha, mẹ trước pháp luật.
1.1.4 Khái niệm sinh con theo phương pháp khoa học
Ngày nay, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, xã hội thì nhu cầu của con
người về mọi mặt trong đời sống cũng ngày càng nâng cao, kể cả việc sinh con cũng có
thể được đáp ứng theo mong muốn. Trên thực tế, ngày càng có nhiều cặp vợ chồng vô
sinh do nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn đến việc họ không thể có con. Với sự tiến bộ
của nền y học và khoa học kỹ thuật thì việc sinh con theo phương khoa học có thể xem
là một thành tựu vượt bậc, từ đó có thể đáp ứng được nguyện vọng được làm cha, làm

Bên cạnh đó, theo Khoản 21 Điều 3 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 gần đây
nhất cũng đưa ra khái niệm: “Sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản là việc sinh con
bằng kỹ thuật thụ tinh nhân tạo hoặc thụ tinh trong ống nghiệm”. Tuy nhiên, có thể thấy
khái niệm này về cơ bản không có sự khác biệt so với khái niệm sinh con theo phương
pháp khoa học được quy định trong Nghị định 12/2003/NĐ – CP.
1.1.5 Khái niệm mang thai hộ
Theo quan niệm truyền thống, căn cứ đầu tiên để xác định mối quan hệ giữa cha,
mẹ, con là yếu tố huyết thống. Người con được sinh ra từ một người phụ nữ sẽ đương
nhiên được thừa nhận không chỉ về mặt gia đình, xã hội mà còn được pháp luật công
nhận, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp. Ngày nay, quan niệm ấy đã có sự thay đổi về
mặt huyết thống, khi mà người phụ nữ vẫn được công nhận là mẹ của người con mà
mình không trực tiếp mang thai và sinh ra, trong khi người phụ nữ trực tiếp mang thai và
sinh ra đứa trẻ ấy lại không phải là mẹ. Đây là vấn đề còn khá mới lạ và có ảnh hưởng
rất lớn đến quan niệm truyền thống về mối quan hệ giữa cha, mẹ, con. Nguyên nhân của
hiện tượng này xuất phát từ thực tế hiện nay, khi trong xã hội ngày càng có nhiều cặp vợ
chồng mà người vợ không có khả năng mang thai và sinh đẻ. Từ đó, trong xã hội dần
phát sinh hiện tượng những cặp vợ chồng vô sinh sau khi thụ tinh trong ống nghiệm từ
tinh trùng và noãn của chính mình, thì cấy vào tử cung của một người phụ nữ khác để
mang thai hộ. Theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì “mang thai
hộ” bao gồm: “mang thai hộ vì mục đích nhân đạo” và “mang thai hộ vì mục đích
thương mại”. Tuy nhiên, pháp luật chỉ thừa nhận trường hợp mang thai hộ vì mục đích
nhân đạo 12.
Khoản 2 Điều 3 Nghị định 12/2003/NĐ – CP
Khoản 3 Điều 3 Nghị định 12/2003/NĐ – CP
12
Xem Điểm g Khoản 2 Điều 5 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014
10
11

GVHD: Huỳnh Thị Trúc Giang

người thứ ba. Tuy đây là lần đầu tiên việc mang thai hộ được pháp luật dự liệu, nhưng
có thể thấy những quy định ban đầu về vấn đề này là tương đối phù hợp.
1.2 Căn cứ phát sinh quan hệ cha, mẹ, con
Quan hệ cha, mẹ, con là mối quan hệ pháp lý giữa một người (gọi là con) và một
người khác (gọi là cha hoặc mẹ) 13. Một số trường hợp việc xác định mối quan hệ cha,
mẹ, con giữa các chủ thể rất dễ dàng nhưng cũng có một số trường hợp do nhiều nguyên
nhân khác nhau, việc xác định mối quan hệ ấy rất phức tạp. Tuỳ vào tính chất và hoàn
Nguyễn Ngọc Điện, Bình luận khoa học Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam - tập 1, NXB
Trẻ TP. Hồ Chí Minh, năm 2002, tr. 121
13

GVHD: Huỳnh Thị Trúc Giang

8

SVTH: Nguyễn Thị Nhật Lan


Hoàn thiện pháp luật về xác định cha, mẹ cho con
cảnh của từng trường hợp cụ thể mà có sự lựa chọn những căn cứ phù hợp để xác định
mối quan hệ cha, mẹ, con. Tuy nhiên, các căn cứ ấy luôn tồn tại song song và trong
nhiều trường hợp bổ trợ cho nhau.
Có hai căn cứ cơ bản để xác định mối quan hệ cha, mẹ, con, đó là: căn cứ về mặt
huyết thống và căn cứ về mặt pháp lý. Trong đó, căn cứ về mặt huyết thống thường được
ưu tiên xét đến đầu tiên khi xem xét có hay không việc phát sinh quan hệ cha, mẹ, con.
1.2.1 Căn cứ phát sinh quan hệ cha, mẹ, con về mặt huyết thống
Trong đời sống xã hội, theo quan niệm từ xưa đến nay, khi một người phụ nữ có
quan hệ sinh lý với bất kỳ người đàn ông nào, dù đó có phải là người chồng hợp pháp
hay không, mà dẫn đến việc mang thai và sinh con, thì việc xác định mối quan hệ cha,
mẹ, con được đặt ra, hay nói cách khác mối quan hệ cha, mẹ, con được phát sinh. Theo

người khác. Đặc biệt trong trường hợp “mang thai hộ”, sau khi có sự hỗ trợ kỹ thuật, tuy
kết quả phối hợp giữa noãn và tinh trùng là của cặp vợ chồng vô sinh, nhưng người trực
tiếp mang thai và sinh đẻ là một người phụ nữ khác. Pháp luật hiện nay đã thừa nhận cặp
vợ chồng vô sinh là cha, mẹ của đứa trẻ, người mang thai hộ chỉ đóng vai trò hỗ trợ cho
sự ra đời của đứa trẻ ấy.
Như vậy, căn cứ phát sinh quan hệ cha, mẹ, con về mặt huyết thống được nhận
diện thông qua sự kiện sinh đẻ. Đối với việc sinh sản tự nhiên, về mặt sinh học đứa con
sẽ mang huyết thống của người phụ nữ và người đàn ông có quan hệ sinh lý với nhau mà
dẫn đến việc người phụ nữ có thai và sinh ra đứa trẻ. Mối quan hệ cha, mẹ, con lúc này
được phát sinh dựa trên mối liên hệ huyết thống theo quy luật sinh học. Tuy nhiên, đối
với việc sinh sản nhân tạo thì yếu tố huyết thống làm căn cứ phát sinh mối quan hệ cha,
mẹ, con đã có sự thay đổi, có nghĩa là những người được xác định là cha, mẹ, con của
nhau có thể không đồng thời mang cùng huyết thống.
1.2.2 Căn cứ phát sinh quan hệ cha, mẹ, con về mặt pháp lý
1.2.2.1 Căn cứ phát sinh quan hệ cha, mẹ, con về mặt pháp lý dựa vào thời kỳ
hôn nhân
Hôn nhân hợp pháp là quan hệ giữa vợ, chồng được pháp luật thừa nhận, khi đã
đăng ký kết hôn và đáp ứng đầy đủ điều kiện kết hôn. Hôn nhân hợp pháp luôn gắn liền
với thời kỳ hôn nhân. Do đó, một trong những căn cứ về mặt pháp lý để xác định quan
hệ cha, mẹ, con là dựa vào thời kỳ hôn nhân. Khi xét đến thời kỳ hôn nhân cần quan tâm
đến thời điểm bắt đầu thời kỳ hôn nhân và thời điểm chấm dứt thời kỳ hôn nhân. Theo
quy định của pháp luật hiện hành thì “thời kỳ hôn nhân” là khoảng thời gian tồn tại quan
hệ vợ chồng, tính từ ngày đăng ký kết hôn đến ngày chấm dứt hôn nhân 14. Và “ly hôn”
là chấm dứt quan hệ hôn nhân do Toà án công nhận hoặc quyết định theo yêu cầu của
vợ hoặc của chồng hoặc cả hai vợ chồng 15. Từ những căn cứ này của pháp luật thì thời
điểm bắt đầu thời kỳ hôn nhân được xác định kể từ ngày đăng ký kết hôn. Đối với thời
điểm chấm dứt thời kỳ hôn nhân được xác định kể từ khi có bản án, quyết định có hiệu
lực của Toà án về việc chấm dứt quan hệ vợ chồng (ly hôn), ngay cả trong trường hợp
vợ, chồng chết. Pháp luật hiện hành đã có những quy định về trường hợp đứa trẻ được


Mối quan hệ giữa cha, mẹ, con là một trong những mối quan hệ quan trọng và
thiêng liêng trong gia đình, mà gia đình là đơn vị, tế bào cấu thành của xã hội. Từ đó có
thể thấy mối quan hệ giữa gia đình và xã hội là không thể tách rời và có mối liên hệ mật
thiết với nhau. Vì vậy, mà việc xác định cha, mẹ cho con không chỉ mang ý nghĩa đối
với từng chủ thể mà còn mang ý nghĩa xã hội sâu sắc. Xác định cha, mẹ, con là một chế
định có ý nghĩa trong pháp luật hôn nhân và gia đình, góp phần đảm bảo cho các trẻ em
có đầy đủ sự yêu thương, chăm sóc từ gia đình… Mặt khác, việc xác định cha, mẹ cho
con còn liên quan đến những mối quan hệ pháp lý khác như dân sự, hôn nhân và gia
đình… và có ý nghĩa trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể. Có
thể thấy, xác định cha, mẹ cho con không chỉ có ý nghĩa về mặt xã hội mà còn có ý
nghĩa về mặt pháp lý.
- Ý nghĩa về mặt xã hội
Từ ngàn xưa đến nay, quyền làm cha, mẹ là những quyền cao cả, thiêng liêng và
có ý nghĩa quan trọng. Hạnh phúc gia đình có thể được duy trì từ sự hiện diện của những

Nguyễn Thị Lan, Luận án tiến sĩ Luật học “Xác định cha, mẹ, con trong Pháp luật Việt
Nam”, Đại học Luật Hà Nội, năm 2008, tr. 13
16

GVHD: Huỳnh Thị Trúc Giang

11

SVTH: Nguyễn Thị Nhật Lan


Hoàn thiện pháp luật về xác định cha, mẹ cho con
đứa con thân yêu. Việc xác định cha, mẹ cho con tạo điều kiện cho trẻ em được phát
triển một cách toàn diện và an toàn trong chính mái ấm gia đình và sự yêu thương của
cha, mẹ, đặc biệt là đối với những trẻ em mồ côi, bị bỏ rơi…

GVHD: Huỳnh Thị Trúc Giang

12

SVTH: Nguyễn Thị Nhật Lan


Hoàn thiện pháp luật về xác định cha, mẹ cho con
“3. Xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc; các thành viên gia đình có
nghĩa vụ tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; không phân biệt đối xử giữa các
con.”
“4. Nhà nước, xã hội và gia đình có trách nhiệm bảo vệ, hỗ trợ trẻ em…, giúp đỡ
các bà mẹ thực hiện tốt chức năng cao quý của người mẹ; thực hiện kế hoạch hóa gia
đình.”
1.4 Lịch sử phát triển về xác định cha, mẹ cho con trong pháp luật Việt Nam
1.4.1 Xác định cha, mẹ cho con trong pháp luật Việt Nam trước năm 1945
Pháp luật thời phong kiến Việt Nam giai đoạn trước năm 1945 nhìn chung chưa
có sự phân biệt rõ ràng giữa các ngành luật, mọi quan hệ pháp luật đều được quy định
chung trong các bộ luật. Trong thời kỳ này, tiêu biểu cho chế độ hôn nhân và gia đình là
hai bộ luật: Quốc triều hình luật (hay còn gọi là Bộ luật Hồng Đức) được ban hành vào
thế kỷ XV dưới thời Lê, và Hoàng Việt luật lệ (hay còn gọi là Bộ luật Gia Long) được
ban hành vào thế kỷ XIX dưới thời Nguyễn. Đây được xem là hai bộ luật nổi bật quy
định về nhiều lĩnh vực pháp luật khác nhau như: hôn nhân và gia đình, dân sự, hình
sự…, mà cả những chế độ sau đó vẫn còn dựa vào hai bộ luật này để giải quyết các tranh
chấp xảy ra. Tuy nhiên, lại không tìm thấy những quy định về việc xác định cha, mẹ cho
con.
Trong giai đoạn này, pháp luật nước ta chịu nhiều ảnh hưởng của hệ thống pháp
luật phong kiến Trung Quốc, đặc biệt bị ảnh hưởng sâu sắc bởi những tư tưởng Nho
giáo. Thời này, xã hội đề cao vai trò của người gia trưởng, coi trọng các mối quan hệ
trong gia đình và có hình phạt rất nặng đối với những ai xâm phạm đến mối quan hệ này,

- Ở Nam kỳ áp dụng bộ Dân luật giản yếu được ban hành vào năm 1883 là một
sắc lệnh của Tổng thống Pháp.
- Ở Trung kỳ áp dụng bộ Dân luật Trung (tên chính thức là Hoàng Việt Trung Kỳ
hộ luật) được ban hành từ năm 1936 đến năm 1939.
- Ở Bắc kỳ áp dụng bộ Dân luật Bắc (tên chính thức là “Bộ dân luật thi hành tại
các toà Nam án Bắc Kỳ”) được ban hành vào năm 1931.
Pháp luật thời kỳ này bắt đầu có sự phân biệt đối xử sâu sắc giữa các con trong
gia đình, giữa con trai với con gái, giữa con chung với con riêng, giữa con trong giá thú
(hay còn gọi là con chính thức) với con ngoài giá thú (hay còn gọi là con ngoại hôn, con
hoang, con tư sinh, con loạn luân). Việc xác định cha, mẹ cho con chủ yếu được đặt ra
đối với mối quan hệ cha – con, còn người phụ nữ sinh ra đứa trẻ sẽ đương nhiên được
xác định là mẹ đứa trẻ. Điều 151 Bộ Dân luật Bắc kỳ quy định: “Phàm thụ thai trong
thời kỳ giá thú thì cha đứa con sinh ra là người chồng”. Có thể thấy, việc xác định
người cha cho đứa trẻ sẽ căn cứ vào giá thú với người mẹ. Đồng thời, tại Điều 151 Bộ
Dân luật Bắc kỳ còn quy định: “Thụ thai trong thời kỳ giá thú, tức là kể từ sau khi đã
làm lễ cưới cách ngoại một trăm tám mươi ngày sinh con, hay là kể từ sau khi đã tiêu
hôn mà trong khoảng ba trăm ngày sinh con”. Như vậy, đứa con được thụ thai trong
thời kỳ giá thú và được sinh ra tính từ khi thụ thai đến khi ra đời trong khoảng thời gian
tối thiểu 180 ngày và tối đa 300 ngày thì sẽ được xác định là con chính thức. Đối với con
ngoài giá thú, con loạn luân hay ngoại tình thường sẽ không được thừa nhận và bị phân
biệt đối xử, kể cả quyền xin được xác định cha, mẹ, sự thừa nhận nếu có thì sẽ bị vô
hiệu. Cụ thể tại Điều 168 Bộ Dân luật Bắc kỳ quy định: “Nếu là con loạn luân hay con
GVHD: Huỳnh Thị Trúc Giang

14

SVTH: Nguyễn Thị Nhật Lan


Hoàn thiện pháp luật về xác định cha, mẹ cho con

quyền được nhận cha, mẹ, con ngoài giá thú, như tại Điều 22 quy định: “Người con
ngoài giá thú được xin nhận cha hoặc mẹ trước Toà án nhân dân. Người mẹ cũng có
quyền xin nhận cha thay cho đứa trẻ chưa thành niên. Người thay mặt cũng có quyền xin
GVHD: Huỳnh Thị Trúc Giang

15

SVTH: Nguyễn Thị Nhật Lan


Hoàn thiện pháp luật về xác định cha, mẹ cho con
nhận cha hoặc mẹ thay cho đứa trẻ chưa thành niên” và Điều 23 quy định: “Con ngoài
giá thú được cha, mẹ nhận hoặc được Toà án nhân dân cho nhận cha, mẹ, có quyền lợi
và nghĩa vụ như con chính thức”. Về thẩm quyền giải quyết tranh chấp khi cha, mẹ nhận
con ngoài giá thú cũng đã được quy định tại Điều 21, cụ thể: “Cha hoặc mẹ nhận con
ngoài giá thú phải khai trước Ủy ban hành chính cơ sở. Nếu có tranh chấp, Tòa án nhân
dân sẽ quyết định”.
Như vậy có thể thấy Luật hôn nhân và gia đình năm 1959 ra đời góp phần điều
chỉnh tình hình thực tiễn trong giai đoạn này, đã có những quy định ghi nhận quyền
được nhận cha, mẹ, con và thẩm quyền giải quyết khi có tranh chấp xảy ra. Tuy nhiên,
những quy định về xác định cha, mẹ cho con chưa đầy đủ và hoàn thiện.
1.4.2.2 Xác định cha, mẹ cho con theo Luật hôn nhân và gia đình năm 1986
Sau khi đất nước được hoàn toàn thống nhất từ ngày 30/4/1975, mở ra một giai
đoạn mới đòi hỏi nước ta cần phải có sự cải thiện và phát triển hơn trên tất cả các lĩnh
vực, kể cả pháp luật, để điều chỉnh kịp thời các mối quan hệ pháp luật phát sinh trong xã
hội. Do đó, Luật hôn nhân và gia đình năm 1959 trong thời kỳ này đã không thể đáp ứng
kịp thời nhu cầu của xã hội, nên đòi hỏi phải có một văn bản khác thay thế. Vì vậy, Luật
hôn nhân và gia đình năm 1986 được ban hành vào ngày 29/12/1986 dưới sự thông qua
của Quốc hội khoá VII, và chính thức có hiêu lực vào ngày 3/01/1987. Nội dung luật
bao gồm 10 chương, 57 điều, trong đó chế định xác định cha, mẹ, con được quy định tại

hiện tại. Do đó việc ra đời luật mới để thay thế Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 là
thật sự cần thiết. Ngày 9/6/2000 Quốc hội chính thức thông qua Luật hôn nhân và gia
đình năm 2000 và chính thức có hiệu lực vào ngày 01/01/2001. Luật gồm 13 chương,
110 điều, trong đó chế định “Xác định cha, mẹ, con” được quy định tại chương VII từ
Điều 63 đến Điều 66. Nhìn chung, so với Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 thì Luật
hôn nhân và gia đình năm 2000 không có nhiều sự thay đổi trong những quy định về
việc xác định cha, mẹ cho con. Nội dung quy định xoay quanh nguyên tắc xác định cha,
mẹ, con; quyền và các chủ thể có quyền yêu cầu xác định cha, mẹ, con… Tuy nhiên, có
một điểm hoàn toàn mới được quy định tại Điều 63: “Việc xác định cha, mẹ cho con
được sinh ra theo phương pháp khoa học do Chính phủ quy định”. Đây là lần đầu tiên
vấn đề sinh con theo phương pháp khoa học được luật hóa. Và tại Điều 66 quy định về
người có quyền yêu cầu xác định cha, mẹ cho con chưa thành niên, con đã thành niên
mất năng lực hành vi dân sự hoặc xác định con cho cha, mẹ mất năng lực hành vi dân
sự.
Có thể thấy Luật hôn nhân và gia đình 2000 ra đời cũng đã có sự tiến bộ hơn khi
kịp thời có những quy định mới phù hợp với tình hình xã hội. Riêng những quy định làm
căn cứ để xác định cha, mẹ cho con về căn bản vẫn không có sự thay đổi so với những
quy định trong văn bản luật hôn nhân và gia đình trước đó.

17

Điều 32 Luật hôn nhân và gia đình năm 1986

GVHD: Huỳnh Thị Trúc Giang

17

SVTH: Nguyễn Thị Nhật Lan



mang thai và sinh con được quyền làm cha, làm mẹ như những người bình thường khác.
Nhìn chung, pháp luật hôn nhân và gia đình nói chung và việc xác định, cha, mẹ,
con nói riêng đã được quy định từ rất sớm và không ngừng được hoàn thiện. Có thể thấy
tùy vào từng giai đoạn mà nhà nước bổ sung, sửa đổi và ban hành những quy định pháp
GVHD: Huỳnh Thị Trúc Giang

18

SVTH: Nguyễn Thị Nhật Lan


Hoàn thiện pháp luật về xác định cha, mẹ cho con
luật phù hợp để điều chỉnh tình hình thực tế. Tuy nhiên, xã hội vẫn không ngừng phát
triển nên khó tránh khỏi sự thiếu sót và bất cập trong việc áp dụng những quy định của
pháp luật vào thực tiễn, trong đó có cả chế định xác định cha, mẹ, con. Vì thế, nhà nước
cần phải theo dõi và quan tâm đến vấn đề này để kịp thời có những quy định phù hợp,
góp phần hoàn thiện pháp luật.

GVHD: Huỳnh Thị Trúc Giang

19

SVTH: Nguyễn Thị Nhật Lan


Hoàn thiện pháp luật về xác định cha, mẹ cho con
CHƢƠNG 2
QUY CHẾ PHÁP LÝ VỀ XÁC ĐỊNH CHA, MẸ CHO CON
2.1 Xác định cha, mẹ cho con trong giá thú
2.1.1 Cơ sở pháp lý về xác định cha, mẹ cho con trong giá thú


SVTH: Nguyễn Thị Nhật Lan


Trích đoạn Trình tự, thủ tục xác định cha, mẹ cho con Xác định cha, mẹ cho con bằng thủ tục hành chính Xác định cha, mẹ cho con bằng thủ tục tư pháp Thực trạng và giải pháp về xác định cha, mẹ cho con theo thủ tục hành Những bất cập trong quy định của pháp luật và kiến nghị hoàn thiện pháp
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status