Chuyên đề văn học Lý - Trần - Lê - Pdf 56

Chuyên đề
Văn học trung đại thời Lý Trần lê
A.Thiên Đô chiếu ( Chiếu dời đô - Lý Công Uẩn)
I. Vài nét về tác giả, tác phẩm.
- Lí Công Uẩn (974 - 1028) tức Lí Thái Tổ, ngời châu Cổ Pháp, lộ Bắc Giang (nay là xã
Đình Bảng, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh).
- Ông là ngời thông minh, nhân ái, có chí lớn và lập đợc nhiều chiến công.
- Thiên đô chiếu Lý Thái Tổ viết năm 1010 niên hiệu Thuận Thiên thứ nhất nhằm bày
tỏ ý định dời đô từ Hoa L ( Ninh Bình) ra thành Đại la ( Hà Nội ngày nay)
- Chiếu là thể văn do vua dùng để ban bố mệnh lệnh. Chiếu là bài văn xuôi kết hợp với văn
biền ngẫu đợc viết bằng chữ Hán.
II. Kiến thức cơ bản.
1. Mở đầu bài chiếu Lý Công Uẩn nêu lên lý do dời đô thể hiện xây dựng đất nớc hùng c-
ờng, vững bền, đời sống nhân thanh bình, triều đại hng thịnh.
- Trớc tiên Lý Thái Tổ nói về việc dời đô của cá vua nhà Thơng, nhà Chu trong sử sách TQ:
+ Xa nhà Thơng đến vua ban Canh năm lần dời đô.
+ Nhà Chu đến vua Thành vơng cũng ba lần dời đô
- Sau đó Lý Thái Tổ nêu rõ mục đích của Việc dời đô là muốn đóng đô ở nơi trung tâm,
mu toan nghiệp lớn, tính kế muôn đời cho con cháu và từ đó khẳng định của những cuộc
dời đô là Vận nớc lâu dài, phong tục phồn thịnh
=> Lý Thái Tổ đã sử dụng những số liệu cụ thể, cách suy luận chặt chẽ đã tạo nên một tiền
đề vững chắc cho việc dời đô trong lịch sử đã có nhiều lần dời đô và nhiều cuộc dời đô có
kết quả tốt đẹp.
-Tiền đề nêu trên tiếp tục đợc tác giả soi sáng bằng dẫn chứng hai nhà Đinh- Lê không
theo mệnh trời, không theo dấu cũ của Thơng , Chu cứ đóng yên đô ở nơi đây không
chịu học cái đúng của ngời xa nên kết quả triều đại không lâu bền, số vận ngắn ngủi
=> Lí lẽ chặt chẽ, lại kết hợp với tình cảm chân thành nên càng giàu sức thuyết phục
Trẫm rất đau xót cho việc đó, không thể không dời đổi.
2. Cuối cùng Lý Thái Tổ khẳng định thành Đại la là nơi tốt nhất để chọn làm kinh đô.
- Tác giả chỉ ra một cách toàn diện những lợi thế của Đại La :
+ Về vị thế địa lý: Thành là nơi trung tâm trời đất, thế rồng cuộn hổ ngồi, đúng ngôi

1. Tố cáo sự ngang ngợc và tội ác của giặc:
"Ngó thấy sứ giặc đi lại nghênh ngang ngoài đờng, uốn lỡi cú diều mà sỉ mắng triều
đình, đem thân dê chó mà bắt nạt tể phụ, thác mệnh Hốt Tất Liệt mà đòi ngọc lụa, để
thoả lòng tham không cùng, giả hiệu Vân Nam Vơng mà thu vàng bạc, để vét của kho có
hạn. Thật khác nào nh đem thịt mà nuôi hổ đói, sao cho khỏi để tai vạ về sau !"
- Bộ mặt của quân giặc đợc phơi bày bằng những sự việc trong thực tế : đi lại nghênh
ngang, sỉ mắng triều đình, bắt nạt tể phụ, đòi ngọc lụa, thu vàng bạc, vét của kho có hạn...
- Để lột tả sự ngang ngợc và tội ác tham tàn của giặc, đồng thời bày tỏ thái độ căm thù,
khinh bỉ cực độ, tác giả đã dùng lối nói hình ảnh so sánh, ẩn dụ:
+ Hình ảnh chỉ quân giặc: lỡi cú diều, thân dê chó, hổ đói,
+ Các hình ảnh đợc đặt trong thế đối sánh để tỏ rõ thái độ căm thù, khinh bỉ: uốn lỡi cú
diều - sỉ mắng triều đình, đem thân dê chó - bắt nạt tể phụ.
- Tố cáo tội ác của giặc, tác giả đã khơi gợi lòng tự trọng dân tộc, khắc sâu lòng căm
thù ngoại xâm ở tớng sĩ.
2. Nỗi lòng của Trần Quốc Tuấn.
Sau khi tố cáo tội ác của giặc, Trần Quốc Tuấn đã bày tỏ lòng yêu nớc, căm thù giặc của
mình, có thể xem đây là đoạn văn hay nhất của bài hịch: "Ta thờng tới bữa quên ăn, nửa
đêm vỗ gối; ruột đau nh cắt, nớc mắt đầm đìa; chỉ căm tức cha đợc xả thịt lột da, nuốt
gan uống máu quân thù. Dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói
trong da ngựa, ta cũng vui lòng."
- Nỗi đau trớc cảnh nớc mất nhà tan đợc diễn tả thống thiết: quên ăn, mất ngủ, lòng đau
nh dao cắt, nớc mắt đầm đìa. Uất hận trào dâng đến cực điểm khi tác giả bộc lộ thái độ của
mình đối với kẻ thù: chỉ căm tức cha đợc xả thịt lột da, nuốt gan uống máu quân thù.
- Vị tớng đã tự xác định một tinh thần hi sinh hết mình cho đất nớc: Dẫu cho trăm
thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa, ta cũng vui lòng.
- Qua đoạn văn này, hình tợng ngời anh hùng yêu nớc, sẵn sàng xả thân vì đất nớc đợc
khắc hoạ rõ nét. Những lời tâm huyết, gan ruột của vị tớng có sức lay động mạnh mẽ,
truyền cho tớng sĩ tinh thần yêu nớc nồng nàn, lòng căm thù giặc sục sôi và một thái độ xả
thân, chấp nhận hi sinh vì non sông xã tắc.
3. Mối quan hệ ân tình, vị chủ soái phân tích phải trái, chỉ rõ đúng sai của tớng sĩ.

dứt khoát rõ ràng Nếu các ngơi biết chuyên tập sách này, theo lời dạy của ta thì phải
đạo thần chủ, nhợc bằng khinh bỏ sách nàỳ, trái lời dạy của ta, tức là kẻ nghịch thù
=> Thái độ đó tác động vào tình cảm ân nghĩa thuỷ chung của tớng sĩ, động viên những
ngời còn do dự hãy đứng hẵn vào đội ngũ của những ngời quyết chiến quyết thắng.
C. nớc đại việt ta
(Trích Bình Ngô đại cáo Nguyễn Trãi)
I. Về tác giả và tác phẩm
1. Tác giả
Nguyễn Trãi (1380-1442), trở thành nhân vật lịch sử lỗi lạc, hiếm có. Ông đợc UNE SCO công nhận
là danh nhân văn hoá thế giới.
Nguyễn Trãi để lại một sự nghiệp văn chơng đồ sộ, phong phú, trong đó có Bình Ngô đại cáo, ức
Trai thi tập, Quốc âm thi tập, Quân trung từ mệnh tập,...
2. Hoàn cảnh ra đời của bài Cáo
Đầu năm 1428, sau khi quân ta đại thắng (tiêu diệt và làm tan rã 15 vạn viện binh của giặc, buộc V-
ơng Thông phải rút quân về nớc), Nguyễn Trãi đã thừa lệnh vua Lê Thái Tổ (Lê Lợi) soạn thảo Bình
Ngô đại cáo để bố cáo với toàn dân về sự kiện có ý nghĩa trọng đại này.
3. Thể loại
Cáo là một thể loại văn bản hành chính của nhà nớc quân chủ, thờng đợc dùng cho các phát ngôn
chính thức, hệ trọng của vua chúa hoặc thủ lĩnh, nhằm tổng kết một công việc, trình bày một chủ trơng
xã hội chính trị cho dân chúng biết. Cáo đã có ở Trung Quốc từ thời Tam Đại.
Cáo có thể đợc viết bằng văn xuôi, nhng thờng là đợc viết bằng biền văn. Đợc biết đến nhiều nhất
trong thể loại này ở văn học chữ Hán của Việt Nam là Bình Ngô đại cáo (1428) do Nguyễn Trãi soạn,
nhân danh vua Lê Thái Tổ tuyên cáo với thiên hạ về thắng lợi của cuộc kháng chiến chống quân Minh,
đợc viết theo thể văn tứ lục". (Theo Từ điển văn học Việt Nam từ nguồn gốc đến hết thế kỉ XIX, NXB Đại
học Quốc gia Hà Nội, 2001).
4. Đoạn trích
Văn bản này rút từ phần mở đầu bài Bình Ngô đại cáo
(1)
nổi tiếng, Nguyễn Trãi viết để tổng kết mời
năm kháng chiến chống quân Minh xâm lợc.

tộc Đại Việt.
2. Cốt lõi t tởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi là yên dân, trừ bạo. Yên dân là làm cho dân đợc
hởng thái bình, hạnh phúc. Mà muốn yên dân thì trớc hết phải diệt trừ bọn tàn bạo.
Ngời dân mà tác giả nói đến ở đây là những ngời dân Đại Việt đang phải chịu bao đau khổ dới ách
thống trị của giặc Minh. Nh vậy khái niệm nhân nghĩa của Nguyễn Trãi gắn liền với lòng yêu nớc, gắn
liền với quốc gia, dân tộc.
Những kẻ bạo ngợc mà tác giả nói đến ở đây không phải ai khác, đó chính là bọn giặc Minh.
3. Để khẳng định chủ quyền độc lập của dân tộc, Nguyễn Trãi đã dựa vào các yếu tố nh: nền văn
hiến lâu đời, cơng vực lãnh thổ, phong tục tập quán, lịch sử riêng, chế độ riêng. Với những yếu tố căn
bản này, tác giả đã đa ra một khái niệm khá hoàn chỉnh về quốc gia, dân tộc.
So với ý thức về quốc gia dân tộc trong bài thơ Sông núi nớc Nam, thì ở Nguyễn Trãi, ta thấy nó vừa
có sự kế thừa lại vừa có sự phát huy và hoàn thiện. ý thức về nền độc lập của dân tộc thể hiện trong bài
Sông núi nớc Nam đợc xác định ở hai phơng diện: lãnh thổ và chủ quyền; còn trong bài Nớc Đại Việt ta,
ý thức dân tộc đã phát triển cao, sâu sắc và toàn diện. Ngoài lãnh thổ và chủ quyền, ý thức về độc lập
dân tộc còn đợc mở rộng, bổ sung thành các yếu tố mới: đó là nền văn hiến lâu đời, đó là phong tục tập
quán riêng, truyền thống lịch sử anh hùng. Có thể nói, ý thức dân tộc đến thế kỉ XV đã phát triển sâu
sắc, toàn diện hơn nhiều so với thế kỉ X.
4. Những nét đặc sắc về nghệ thuật trong đoạn trích:
- Tác giả sử dụng nhiều lớp từ ngữ diễn đạt tính chất hiển nhiên, vốn có lâu đời của nớc Đại Việt ta.
Các từ nh: từ trớc, vốn xng, đã lâu, đã chia, cũng khác,
- Biện pháp so sánh kết hợp với liệt kê cũng tạo cho đoạn văn hiệu quả cao trong lập luận (tác giả
đặt nớc ta ngang hàng với Trung Hoa về nhiều phơng diện nh: trình độ chính trị, văn hoá, ).
- Những câu văn biền ngẫu chạy song song liên tiếp với nhau cũng giúp cho nội dung nghệ thật và
chân lí mà tác giả muốn khẳng định chắc chắn và rõ ràng hơn.
5*. Sức thuyết phục của văn chính luận Nguyễn Trãi là ở chỗ kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và thực tiễn.
Quả đúng nh vậy! Ngời anh hùng Nguyễn Trãi đã tự tin khẳng định truyền thống văn hiến lâu đời của n-
ớc Việt ta. Và quả thực chúng ta rất tự hào bởi trên thực tế:
Núi sông bờ cõi đã chia
Phong tục Bắc Nam cũng khác
Nhân dân ta có chủ quyền, có thuần phong mỹ tục riêng làm nên hai phơng Bắc - Nam khác biệt. Ta


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status