HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
HỒ THANH HỚN
VAI TRÒ CỦA PHÁP LUẬT TRONG GIỮ GÌN,
PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
HÀ NỘI - 2018
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
HỒ THANH HỚN
VAI TRÒ CỦA PHÁP LUẬT TRONG GIỮ GÌN,
PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
Mã số: 62 38 01 01
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS,TS. TRƯƠNG HỒ HẢI
HÀ NỘI - 2018
Chương 3: THỰC TRẠNG VAI TRÒ CỦA PHÁP LUẬT TRONG GIỮ GÌN,
PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG Ở VIỆT NAM
3.1. Vai trò của pháp luật trong thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng về giữ
gìn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống
3.2. Vai trò của pháp luật trong việc tạo lập cơ sở pháp lý cho các chủ thể giữ gìn,
phát huy giá trị văn hóa truyền thống
3.3. Vai trò của pháp luật trong bảo đảm hiệu quả đối với việc giữ gìn, phát huy giá trị
văn hóa truyền thống
3.4. Vai trò của pháp luật trong giáo dục nâng cao ý thức cho các chủ thể giữ gìn, phát
huy giá trị văn hóa truyền thống
3.5. Vai trò của pháp luật trong việc chuyển tải nội dung, bảo đảm thực hiện các cam kết
quốc tế liên quan đến giá trị văn hóa truyền thống mà Việt Nam là thành viên
3.6. Nguyên nhân những kết quả đạt được và những hạn chế về vai trò của pháp luật
trong giữ gìn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống ở Việt Nam
Chương 4: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM VAI TRÒ CỦA PHÁP LUẬT
TRONG GIỮ GÌN, PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG Ở
VIỆT NAM HIỆN NAY
4.1. Các quan điểm bảo đảm vai trò của pháp luật trong giữ gìn, phát huy giá trị văn
hóa truyền thống ở Việt Nam
4.2. Giải pháp bảo đảm vai trò của pháp luật trong giữ gìn, phát huy giá trị văn hóa
truyền thống ở Việt Nam hiện nay
KẾT LUẬN
DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN
LUẬN ÁN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
1
Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, hiện đại, giàu bản sắc
dân tộc là một chính sách lớn của Đảng và Nhà nước. Chính sách này đòi hỏi phải có
bước đi thích hợp với sự tham gia của nhiều phương tiện và nhiều thiết chế khác nhau
như kinh tế, chính trị, đạo đức, pháp luật, nhà nước, các tổ chức xã hội bằng những
phương thức và biện pháp khác nhau. Trong hệ thống các thiết chế thuộc kiến trúc
thượng tầng, pháp luật có vai trò quan trọng trong việc giữ gìn, phát huy các giá trị văn
hóa truyền thống (GTVHTT) tốt đẹp của dân tộc, nhằm bảo đảm thực hiện thành công
các mục tiêu xây dựng và phát triển nền văn hóa. Để phát huy được vai trò đó, hệ thống
pháp luật phải đồng bộ, hoàn chỉnh. Từ đó pháp luật mới tạo lập được cơ sở pháp lý
vững chắc cho việc xây dựng nền văn hóa Việt Nam vừa tiên tiến phù hợp các tiêu
chuẩn, chuẩn mực mới, hiện đại nhưng cũng vừa phát huy hết các giá trị văn hóa đặc
sắc vốn có nhằm đáp ứng yêu cầu giữ vững giá trị cốt lõi của dân tộc đồng thời tiếp thu
có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại.
Hệ thống pháp luật Việt Nam bước đầu đã thể chế hóa các quan điểm của Đảng
về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, hiện đại, giàu bản sắc dân
tộc; tạo được hành lang pháp lý cơ bản cho các hoạt động giữ gìn, phát huy GTVHTT
góp phần giáo dục nâng cao ý thức cho con người cũng như góp phần nâng cao hiệu
quả quản lý nhà nước về văn hóa. Tuy nhiên, vai trò của pháp luật trong giữ gìn, phát
huy GTVHTT vẫn còn nhiều hạn chế. Cụ thể, pháp luật chưa chưa kịp thời thể chế hóa
các quan điểm, chủ trương của Đảng về giữ gìn và phát huy các GTVHTT; chưa bảo
đảm hành lang pháp lý vững chắc cho các chủ thể trong các hoạt động giữ gìn, phát
huy giá trị ấy. Pháp luật chưa trở thành một công cụ bảo đảm hiệu quả đối với việc giữ
gìn, phát huy những giá trị ấy dẫn đến những hạn chế trong việc thực hiện các mục tiêu
quốc gia về văn hóa. Bên cạnh đó, pháp luật cũng chưa làm tốt vai trò giáo dục nâng
cao ý thức con người đối với việc giữ gìn, phát huy giá trị tốt đẹp của văn hóa truyền
thống trong sự nghiệp xây dựng và phát triển nền văn hóa, con người Việt Nam trong
bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay. Từ đó đã ảnh hưởng tiêu cực đến chính sách xây
dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, hiện đại, giàu bản sắc dân tộc và không phát huy
được các GTVHTT trong việc thực hiện các mục tiêu kinh tế, văn hóa, xã hội.
Từ việc nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn vai trò pháp luật trong giữ gìn phát huy
GTVHTT, Luận án đề xuất quan điểm và các giải pháp bảo đảm phát huy vai trò của pháp luật
trong giữ gìn, phát huy GTVHTT ở Việt Nam hiện nay.
3
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
Để thực hiện mục đích nêu trên, luận án có các nhiệm vụ sau:
- Tổng quan các công trình khoa học đã được công bố liên quan đến vai trò của
pháp luật trong giữ gìn, phát huy GTVHTT, từ đó chỉ ra những vấn đề đã được nghiên
cứu và những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án.
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về vai trò của pháp luật trong giữ gìn, phát huy
GTVHTT ở Việt Nam. Cụ thể, phân tích làm rõ khái niệm, đặc trưng, nội dung, các
yếu tố ảnh hưởng đến vai trò của pháp luật trong giữ gìn, phát huy GTVHTT ở Việt
Nam; đồng thời, nghiên cứu kinh nghiệm về vai trò của pháp luật đối với giá trị truyền
thống một số quốc gia trên thế giới và rút ra giá trị tham khảo cho Việt Nam.
- Nghiên cứu, đánh giá thực trạng vai trò của pháp luật để làm rõ những kết quả
đạt được, những hạn chế và nguyên nhân dẫn đến thực trạng vai trò của pháp luật trong
giữ gìn, phát huy GTVHTT.
- Đề xuất quan điểm, giải pháp nhằm bảo đảm vai trò của pháp luật trong giữ
gìn, phát huy GTVHTT ở Việt Nam hiện nay.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1. Đối tượng nghiên cứu của luận án
Đối tượng nghiên cứu của luận án là những vấn đề lý luận và thực tiễn về vai trò
của pháp luật trong giữ gìn, phát huy các GTVHTT ở Việt Nam dưới góc độ lý luận và
lịch sử nhà nước và pháp luật.
3.2. Phạm vi nghiên cứu của luận án
Là đề tài thuộc chuyên ngành lý luận về nhà nước và pháp luật, nên việc nghiên
cứu không đi vào nghiên cứu vai trò của một ngành luật cụ thể, mà luận án chỉ tài tập
trung nghiên cứu trong phạm vi:
Ở Chương 4: Sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, quy nạp - diễn dịch để
luận giải và đề xuất các quan điểm, giải pháp bảo đảm vai trò của pháp luật trong giữ
gìn, phát huy GTVHTT ở Việt Nam hiện nay.
5. Đóng góp mới trong của luận án
Luận án là chuyên khảo đầu tiên nghiên cứu tương đối toàn diện cả phương diện
lý luận lẫn thực tiễn về vai trò của pháp luật trong giữ gìn, phát huy GTVHTT ở Việt
Nam nên có những đóng góp mới như sau:
- Luận giải, đưa ra được khái niệm và xác định được nội dung vai trò của pháp
luật trong giữ gìn, phát huy GTVHTT ở Việt Nam; đồng thời xác định được các yếu tố
ảnh hưởng đến vai trò đó của pháp luật.
- Luận án chỉ ra được những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của thực trạng
vai trò của pháp luật trong giữ gìn, phát huy GTVHTT ở Việt Nam.
5
- Luận án đề xuất được các quan điểm, giải pháp nhằm bảo đảm vai trò của
pháp luật trong giữ gìn, phát huy GTVHTT ở Việt Nam hiện nay.
- Luận án đã luận chứng được sự tác động, ảnh hưởng của những khuôn khổ và
quy tắc pháp lý trong thực hiện các mục tiêu về giữ gìn, phát huy GTVHTT ở Việt
Nam hiện nay.
6. Ý nghĩa khoa học
+ Về mặt lý luận: Kết quả của luận án làm sáng tỏ thêm vấn đề lý luận về vai trò
của pháp luật nói chung, vai trò của pháp luật về giữ gìn, phát huy GTVHTT nói riêng
và làm phong phú thêm kho tàng lý luận chung về nhà nước và pháp luật.
+ Về mặt thực tiễn:
- Kết quả đề tài góp phần nâng cao nhận thức pháp luật cho các cơ quan, tổ chức
và cá nhân về việc giữ gìn, phát huy GTVHTT trong quá trình thực hiện các mục tiêu
về kinh tế xã hội.
- Kết quả của đề tài là tài liệu cung cấp luận cứ khoa học giúp các cơ quan và tổ
chức những cơ sở để hoạch định chủ trương, chính sách, pháp luật hợp lý nhằm xây
mình về những vấn đề có liên quan đến con người Việt Nam hiện tại với các giá trị
truyền thống.
- Sách về giá trị văn hoá tinh thần Việt Nam của tập thể tác giả [149]. Trong
công trình này các tác giả khẳng định những tính cách dân tộc, những giá trị tinh thần
như lòng yêu nước, thương người là truyền thống vô cùng quý báu của con người Việt
Nam, dân tộc Việt Nam. Qua đó, đặt vấn đề phải kế thừa và phát huy những giá trị tinh
thần này trong việc xây dựng nền văn hoá Việt Nam.
- Trong cuốn Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam của Trần Văn
Giàu [70], tác giả đã đưa ra những kiến giải sâu sắc về các giá trị truyền thống đặc thù
của dân tộc Việt Nam và đã khái quát cơ bản về các khái niệm giá trị tinh thần truyền
thống của dân tộc, ảnh hưởng của lịch sử đối với việc phát triển các giá trị truyền
thống. Tác giả cũng đã tập trung phân tích các đức tính tốt đẹp của dân tộc Việt Nam
7
bao gồm: yêu nước, cần cù, anh hùng, sáng tạo, lạc quan, thương người, vì nghĩa; các
phạm trù được trình bày một cách có hệ thống và khoa học với ý nghĩa giống như một
“bảng giá trị tinh thần” của người Việt. Đặc biệt, tác giả nhấn mạnh trong bảng giá trị
tinh thần, yêu nước là giá trị đầu tiên và quan trọng nhất, là thước đo tiêu chuẩn cho
mọi thước đo trong cuộc sống của con người.
- Sách Tìm hiểu giá trị văn hóa truyền thống trong quá trình công nghiệp hóa,
hiện đại hóa của Nguyễn Trọng Chuẩn, Phạm Văn Đức và Hồ Sĩ Quý [30]. Trong
công trình này các tác giả đã đề cập mấy vấn đề về giá trị, giá trị truyền thống, giá trị
văn hóa truyền thống và sự chuyển biến của chúng sang hiện đại. Cuốn sách cũng đã đề
cập đến vấn đề khai thác, giữ gìn và phát huy các giá trị truyền thống trong quá trình
phát triển đất nước hiện nay
- Sách Giá trị truyền thống trước những thách thức của toàn cầu hóa của
Nguyễn Trọng Chuẩn, Nguyễn Văn Huyên [31]. Cuốn sách đề cập đến vai trò của giá
trị truyền thống trong sự phát triển văn hóa Việt Nam trong quá khứ, cũng như trong sự
phát triển nền văn hóa mới Việt Nam. Qua công trình này, các tác giả muốn đề cập đến
của người dân, đó là tinh hoa của dân tộc.
- Tác giả Nguyễn Văn Dân có quyển sách Văn hóa và phát triển trong bối cảnh
toàn cầu hóa của [37]. Ở công trình này tác giả tập trung làm rõ một số vấn đề như
khái niệm về văn hóa; bản sắc văn hóa và bản sắc dân tộc; toàn cầu hóa văn hóa và đa
dạng văn hóa; toàn cầu hóa văn hóa và văn hóa toàn cầu; toàn cầu hóa và xung đột văn
hóa; vai trò của văn hóa trong đổi với phát triển bền vững, trong bối cảnh toàn cầu hóa
và một số vấn đề cơ sở văn hóa của phát triển bền vững.
1.1.2. Nhóm công trình liên quan đến giữ gìn, phát huy giá trị văn hóa
truyền thống
- Bản sắc dân tộc và hiện đại hóa văn hóa Việt Nam- mấy vấn đề lý luận và
thực tiễn của Thành Duy [44]. Ở công trình này tác giả khẳng định mối quan hệ
giữa bản sắc dân tộc với hiện đại hóa văn hóa Việt Nam là mối quan hệ biện chứng,
phát triển, nghĩa là hiện đại hóa chỉ có thể thành công nếu bản sắc dân tộc được coi
trọng như một động lực. Đồng thời khẳng định bản sắc dân tộc của văn hóa cũng
chỉ có thể được phát huy trong một đất nước được hiện đại hóa, do đó phát triển
kinh tế và văn hóa phải đồng bộ với nhau, chú trọng phát triển văn hóa làm nền tảng
tinh thần của xã hội.
- Sự biến đổi các giá trị văn hóa trong bối cảnh xây dựng nền kinh tế thị trường
ở Việt Nam hiện nay của Nguyễn Duy Bắc [11]. Công trình này đã xây dựng được hệ
thống lý luận cơ bản về văn hóa, giá trị văn hóa và biến đổi giá trị văn hóa. Công trình
cũng đã chỉ ra thực trạng biến đổi các giá trị văn hóa, phát triển văn hóa ở nước ta trong
điều kiện hiện nay.
- Bảo tồn, làm giàu và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam trong
đổi mới và hội nhập của Ngô Đức Thịnh [169]. Cuốn sách đề cập đến hệ giá trị tổng
9
quát truyền thống Việt Nam, ngoài nghiên cứu hệ giá trị tổng quát, cuốn sách còn phân
tích các giá trị văn hóa thể hiện trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội của
dân tộc. Tác giả đã lựa chọn ra năm giá trị hàng đầu và tiêu biểu của dân tộc Việt Nam
10
chỉ rõ phẩm chất tốt đẹp của người Việt Nam như: tính mực thước, lạc quan, vui vẻ,
yêu đời, lòng biết ơn, trọng thể diện, trọng nữ. Đồng thời cuốn sách cũng bàn về
"Những biến động của hệ giá trị Việt Nam truyền thống trong giai đoạn hiện đại", theo
đó trước những thay đổi nhanh chóng, mạnh mẽ của không gian, thời gian, bối cảnh xã
hội, tốc độ thay đổi của nền kinh tế... đã khiến cho nhiều tính cách "xấu xí" của người
Việt bộc lộ rõ rệt.
Ngoài ra, sách cũng nói về "Con đường đi đến hệ giá trị Việt Nam mới", đề cao
vai trò của văn hóa trong mục tiêu phát triển bền vững đất nước. Theo đó, văn hóa dân
tộc được tác giả khẳng định chính là được hình thành nên từ văn hóa của mỗi cá nhân,
sau đó nới rộng ra gia đình, cộng đồng, xã hội; các yếu tố như chính trị, kinh tế, giáo
dục đều giữ vai trò trong việc nhào nặn, định hình nền văn hóa.
- Quản lý nhà nước và vai trò của cộng đồng trong bảo vệ và phát huy giá trị di
sản văn hóa phi vật thể của tác giả Nguyễn Thị Hiền [79]. Công trình này tác giả khẳng
định để bảo vệ và phát huy giá trị kho tàng di sản văn hóa phi vật thể, việc nâng cao vai
trò chủ động, tích cực của cộng đồng cùng với vai trò định hướng, đề ra các chính sách
của nhà nước là hướng đi đúng, cần triển khai tốt trong thực tế. Tuy nhiên, định hướng
này chưa được thực hiện tốt trong thực tiễn. Các địa phương trong chỉ đạo, quản lý về
di sản văn hóa chưa thống nhất và còn chồng chéo. Qua đánh giá thực trạng quản lý
nhà nước và vai trò của cộng đồng trong bảo vệ, phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật
thể thông qua một vài trường hợp nghiên cứu di sản văn hóa tiêu biểu, tác giả đề xuất
một số phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và vai trò của
cộng đồng trong bảo vệ, phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể ở Việt Nam.
- Kế thừa và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống dân tộc trong việc xây
dựng lối sống ở Việt Nam hiện nay của Võ Văn Thắng [158]. Công trình này tác giả đã
làm rõ vai trò và phân tích, đánh giá thực trạng của việc kế thừa, phát huy các
GTVHTT của dân tộc trong xây dựng lối sống ở nước ta thời gian qua, đồng thời đề
xuất một số phương hướng và giải pháp kế thừa, phát huy tốt hơn các GTVHTT để xây
- Kế thừa các giá trị đạo đức truyền thống trong xây dựng nhân cách con người
Việt Nam hiện nay của tác giả Cao Thu Hằng [76]. Công trình này tác giả khẳng định
các giá trị đạo đức truyền thống có vai trò rất quan trọng trong việc hình thành nhân
cách con người Việt Nam, nhất là trong giai đoạn hiện nay. Từ việc phân tích và luận
giải về giá trị đạo đức truyền thống cũng như nhân cách và tính tất yếu của việc kế thừa
các giá trị của đạo đức truyền thống, tác giả đưa ra các giải pháp trong việc xây dựng
nhân cách con người Việt Nam hiện nay sao cho hiệu quả hơn.
- Mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa
các dân tộc thiểu số ở miền núi phía Bắc nước ta hiện nay của Hoàng Thị Hương [98].
Công trình này tác giả tập trung làm rõ một số vấn đề lý luận về mối quan hệ giữa phát
triển kinh tế với giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số ở nước ta.
Qua việc đánh giá thực trạng mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với giữ gìn và phát
12
huy bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số ở miền núi phía Bắc, công trình đã đưa ra một
số phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết mối quan hệ giữa
phát triển kinh tế với giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số ở miền
núi phía Bắc.
- Di sản văn hóa người Việt ở thành phố Hồ Chí Minh và vấn đề bảo tồn, phát
huy trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Hồ Văn Tường [190]. Công trình
này tác giả trình bày khái quát về đất và người thành phố Hồ Chí Minh; đặc điểm di
sản văn hóa vật thể của người Việt tại thành phố Hồ Chí Minh qua các công trình kiến
trúc nghệ thuật tiêu biểu. Qua đó, tác giả đặt ra vấn đề bảo tồn và phát huy các di sản
văn hóa của người Việt ở thành phố Hồ Chí Minh qua các công trình nghệ thuật tiêu
biểu trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay.
- Phát triển bền vững với việc giữ gìn giá trị truyền thống các dân tộc thiểu số
bản địa tỉnh Đăk Nông trong giai đoạn hiện nay của Bùi Thi Hòa [86]. Tác giả luận án
đã tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận và đánh giá trực tiễn của phát triển bền vững và
mối quan hệ giữa phát triển bền vững với việc giữ gìn giá trị truyền thống các dân tộc
luật cũng như đề xuất phương hướng, giải pháp đổi mới và hoàn thiện pháp luật trong
phòng, chống văn hóa độc hại và tệ nạn xã hội.
- Tăng cường quản lý nhà nước bằng pháp luật về trật tự an toàn xã hội trong
hoạt động của lực lượng cảnh sát nhân dân ở nước ta hiện nay của tác giả Lê Thế
Tiệm [178]. Ở công trình này tác giả đã tập trung làm rõ những phạm trù cơ bản của
quản lý nhà nước bằng pháp luật về trật tự an toàn xã hội, về vai trò của pháp luật trong
quản lý nhà nước về trật tự an toàn xã hội nói chung và trong hoạt động của lực lượng
cảnh sát nhân dân. Trên cơ sở đánh giá thực trạng công tác quản lý nhà nước về trật tự
an toàn xã hội, tác giả đề xuất những phương hướng và giải pháp tăng cường quản lý
nhà nước bằng pháp luật về trật tự an toàn xã hội trong hoạt động của lực lượng cảnh
sát nhân dân.
- Tăng cường đấu tranh phòng, chống tệ nạn xã hội bằng pháp luật ở Việt Nam
hiện nay của Phan Đình Khánh [106]. Luận án này được tác giả tập trung nghiên cứu
cơ sở lý luận và thực tiễn của việc đấu tranh phòng chống tệ nạn xã hội bằng pháp luật
trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam. Tác giả tập trung làm rõ vai trò và
phương tiện của pháp luật trong đấu tranh phòng, chống tệ nạn xã hội. Từ đó khẳng
định pháp luật có vai trò quan trọng trong đấu tranh phòng, chống tệ nạn xã hội. Trên
cơ sở đó luận án đề xuất phương hướng và giải pháp tăng cường đấu tranh phòng,
chống tệ nạn xã hội bằng pháp luật ở Việt Nam.
- Tăng cường quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với hoạt động bảo hiểm xã
hội ở Việt Nam hiện nay của Nguyễn Kim Thái [156]. Qua công trình này tác giả
khẳng định vai trò quan trọng của pháp luật trong hoạt động quản lý nhà nước, do đó
cần phải tăng cường hoạt động quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với hoạt động bảo
hiểm xã hội ở Việt Nam. Trên cơ sở đánh giá thực trạng về quản lý nhà nước đối với
14
bảo hiểm xã hội, luận án đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường quản lý nhà nước
bằng pháp luật đối với bảo hiểm xã hội nhằm phát huy vai trò của pháp luật trong quản
lý nhà nước trong đó có quản lý hoạt động bảo hiểm xã hội.
15
nghĩa đế quốc. Trên cơ sở đó, tác giả luận chứng đề xuất các phương hướng và giải
pháp hoàn thiện pháp luật trong đấu tranh lợi dụng nhân quyền nhằm bạo vệ an ninh
quốc gia ở nước ta.
- Tác giả Đỗ Ngọc Thịnh trong luận án Vai trò của pháp luật trong quá trình
chuyển đổi nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường
[168] đã nghiên cứu một cách có hệ thống và tổng quát vai trò của pháp luật trong quá
trình chuyển đổi cơ chế kinh tế nước ta. Qua đó khẳng định vai trò của pháp luật đối
với sự phát triển kinh tế, đồng thời làm sáng tỏ nguyên nhân pháp luật mất vai trò hoặc
trở nên hình thức trong kinh tế kế hoạch hóa tập trung- bao cấp trước đây ở Việt Nam.
Trên cơ sở luận chứng về cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò cụ thể của pháp luật trong
nhiều lĩnh vực của nền kinh tế thị trường, tác giả đề xuất những kiến nghị về các
phương hướng hoàn thiện pháp luật trong việc tăng cường vai trò của pháp luật trong
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
- Tác giả Vũ Anh Tuấn trong luận án tiến sĩ luật học Vai trò của pháp luật trong
việc bảo đảm công bằng xã hội ở Việt Nam hiện nay [189] đã xây dựng cơ sở lý luận
và điều kiện để khẳng định vai trò quan trọng của pháp luật trong việc đảm bảo công
bằng xã hội trong việc tiếp cận và hưởng thụ những thành quả của quá trình phát triển,
đó là mục tiêu mà trong quá trình quản lý nhà nước luôn hướng tới. Qua việc đánh giá
thực trạng pháp luật về vấn đề bảo đảm công bằng xã hội ở Việt Nam, tác giả đề xuất
các giải pháp nhằm tăng cường vai trò của pháp luật trong việc bản đảm công bằng xã
hội ở Việt Nam hiện nay.
- Luận án tiến sĩ luật học Vai trò của pháp luật đối với sự phát triển bền vững ở
nước ta trong giai đoạn hiện nay của tác giả Võ Hãi Long [115] đã xây dựng những
luận cứ khoa học và thực tiễn, tìm kiếm giải pháp hữu ích cho việc phát huy vai trò của
pháp luật đối với sự phát triển bền vững ở nước ta trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện
đại hóa, phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế.
- Vai trò của pháp luật trong việc xây dựng đạo đức cho cán bộ lãnh đạo chính
sách cũng phân tích vai trò của nhà nước và cộng đồng xã hội trong việc nhận diện di sản
văn hóa phi vật thể và đề ra chính sách cùng bảo vệ, giữ gìn và phát triển giá trị di sản.
- Cuốn sách Indigenous Heritage and Intellectual Property: Genetic Resourcer,
Traditional Knowledge and Folklore [Di sản văn hóa bản địa và quyền sở hữu trí tuệ:
Nguồn lực phát sinh, trí thức truyền thống và văn hóa dân gian] [210], do Lewinskin
Von Silke làm chủ biên đã phân tích sâu về quyền của những tộc người bản địa, các
nguồn lực địa phương trong sáng tạo, duy trì các loại hình văn hóa truyền thống, trong
đó nhấn mạnh quyền của các dân tộc bản địa về di sản văn hóa còn được pháp luật của
các quốc gia bảo vệ.
- Blake, Janet có các công trình tiêu biểu như Commentary on the 2003
UNESCO Convention on the Safeguarding of the Intangible Cultural Heritage [Nhận
xét về Công ước 2003 của UNESCO về bảo vệ văn hóa phi vật thể] [206]. Công trình
này tác giả đã cung cấp một phần chung giới thiệu về Công ước 2003 và lịch sử phát
17
triển của nó, đồng thời tác giả cũng phân tích kỹ các điều khoản của Công ước xem
như là tư liệu quý giá giải thích về khái niệm, nội dung, quan điểm và tinh thần của
Công ước. Còn ở công trình Safeguarding Intangible Cultural Heritage- Challenges
and Approaches [Bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể- Thách thức và cách tiếp cận]
[207], tác giả đã tập hợp các bài viết từ các ngành khoa học khác nhau như nhân học,
luật pháp, lịch sử và những ngành liên quan khác đến lĩnh vực di sản văn hóa phi vật
thể. Qua công trình này, tác giả muốn khẳng định việc bảo vệ di sản văn hóa là vấn đề
thu hút sự quan tâm của nhiều quốc gia, các nhà nghiên cứu cũng như những người
thực hành trên thế giới và cũng còn nhiều cách hiểu, quan niệm khác nhau. Do đó, theo
tác giả cần có sự quan tâm sâu sắc hơn và chia sẽ những ý tưởng, trải nghiệm để thực
sự có chính sách về bảo vệ giá trị di sản phù hợp và hiệu quả hơn.
- Heritage Management in Korea and Japan. The Politics of Antiquity and
identily [Quản lý di sản ở Hàn Quốc và Nhật Bản. Chính trị hóa về cổ tục và bản
sắc] của Hyung II Pai [209]. Ở công trình này, tác giả đã phân tích di sản văn hóa
văn hóa phi vật thể, khám phá cách tiếp cận toàn diện và tích hợp để bảo vệ văn hóa
phi vật thể. Các tác giả chứng minh rằng các phương pháp và thái độ thay thế thường
xuyên tồn tại ở cấp địa phương có thể là cách hiệu quả nhất để bảo vệ văn hóa phi vật
thể. Các quan điểm quản lý được thể hiện trong sách không chỉ từ phía nhà nước mà
còn từ những quyền lực tạo nên; và từ các nhà chuyên môn và những người thực hành.
Cuốn sách đề xuất một quan điểm trong quản lý di sản bao gồm nhiều quyền lực của cả
nhà nước, cộng đồng.
- Boswell, Rosabelle với công trình Challenges to Identifying and Managing
Intangible Cultural Heritage in Mauritius, Zanzibar and Seychelles [Thách thức nhận
diện và quản lý di sản văn hóa phi vật thể ở Mauritius, Zanzibar and Seychelles] [208].
Cuốn sách đã cung cấp một cuộc thảo luận sơ bộ về các yếu tố thách thức việc quản lý
di sản văn hóa phi vật thể trong các cộng đồng châu Phi của Zanzibar, Mauritius và
Seychelles. Tác giả cho rằng, quản lý di sản thiếu sự chỉ đạo, quan tâm của chính phủ
và không có sự đầu tư về nguồn lực, vật lực và tài lực thì di sản ít được trao truyền và
phát huy hiệu quả. Từ đó kết luận rằng cần có nhiều nguồn tài trợ và sự chú ý hơn cho
việc quản lý di sản ở châu Phi và cộng đồng người di cư của nó. Vì rằng, nếu không có
sự quan tâm của chính phủ kịp thời cũng như việc khuyến khích cộng đồng thực hành
di sản thì di sản sẽ bị kiệt quệ và khó có thể khôi phục lại được.
- Lewis, J, với công trình Designing a Cultural Polity [Phác thảo về chính sách
văn hóa] [211], đã đưa ra định hướng chung về chính sách văn hóa và sự phát huy
quyền lực nhà nước trong quản lý di sản văn hóa. Đồng thời, làm rõ vai trò của người
dân trong việc tham gia vào việc hoạch định và trực tiếp thực hiện các chính sách.
- Đánh giá về Công ước 2003 ở Hàn Quốc của Dawnhee Yim [36]. Ở công
trình này tác giả nhấn mạnh đến vai trò của nhà nước và yếu tố cộng đồng trong việc
19
bảo vệ và phát triển các giá trị văn hóa phi vật thể. Để thực hiện chương trình bảo tồn
di sản văn hóa phi vật thể, cơ sở pháp lý quan trọng vẫn là đạo Luật Bảo vệ di sản văn
hóa do Chính phủ Hàn Quốc thông qua năm 1962. Theo đó các cơ quan quản lý của
20
Hiến pháp này cho thấy đó là một nghĩa vụ đối với chính phủ Mexico để thực hiện
các hành động cho phép thực hiện đầy đủ mọi quy tắc và nghĩa vụ được quy định
trong Công ước Bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể.
- Khi cái vô hình gặp cái hữu hình: 10 năm thực hiện việc bảo tồn và phát huy
di sản văn hóa phi vật thể: kinh nghiệm, bài học của Nigeria và định hướng toàn cầu
trong tương lai của Augustus B. Ajibola [5]. Tác giả cho rằng Nigeria có một kho tàng
di sản văn hóa phi vật thể vô cùng phong phú trên tất cả các lĩnh vực khác nhau như
truyền thống truyền miệng và các loại hình biểu hiện văn hóa, bao gồm ngôn ngữ như
là một phương tiện của di sản văn hóa phi vật thể. Tác giả khẳng định Chính phủ
Nigeria xác định tầm quan trọng của mối quan hệ giữa văn hóa và phát triển, cụ thể di
sản văn hóa phi vật thể như là sự bảo đảm cho sự phát triển bền vững. Nhà nước đã cho
triển khai chương trình tư liệu hóa các di sản văn hóa phi vật thể và đã thiết lập một hệ
thống kho báu nhân văn sống.
1.3. ĐÁNH GIÁ CHUNG CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG
VẤN ĐỀ ĐẶT RA CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN
1.3.1. Đánh giá chung
Một là, các công trình nghiên cứu về văn hóa truyền thống đều rất sâu sắc
nhưng được nghiên cứu dưới góc độ ngành khoa học khác không thuộc khoa học pháp
lý, nên mục đích, nhiệm vụ đặt ra và kết quả đạt được không đánh giá được thực trạng
pháp luật với tư cách là công cụ tạo lập cơ sở pháp lý cho các chủ thể và bảo đảm hiệu
quả giữ gìn, phát huy các GTVHTT ở Việt Nam.
Các khái niệm về văn hóa, giá trị, GTVHTT, bản sắc văn hóa được các tác giả
nhìn nhận hết sức đa dạng với nhiều góc độ khác nhau. Tuy nhiên, các khái niệm này
được xem là những cứ liệu quan trọng qua đó giúp tác giả luận án xác định các khái
niệm công cụ có liên quan đến những vấn đề lý luận GTVHTT dưới góc độ lý luận
chung về pháp luật. Đồng thời các quan điểm, giải pháp về bảo tồn, giữ gìn và phát huy
pháp luật nói chung có thể kế thừa một phần từ những công trình khác như các khái
niệm công cụ tiếp cận vấn đề dưới góc độ khoa học pháp lý; phương pháp đánh giá
thực trạng vai trò của pháp luật, thì những nội dung về cơ sở lý luận, thực trạng vai trò
của pháp luật trong giữ gìn, phát huy GTVHTT ở Việt Nam; các quan điểm, giải pháp
thể hiện sự đóng góp mới của đề tài cho vấn đề nghiên cứu.
Với nhận định như vậy, có thể khẳng định đề tài luận án “Vai trò của pháp luật
trong giữ gìn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống ở Việt Nam hiện nay” hoàn toàn
mới, không trùng lặp với bất cứ công trình khoa học nào đã công bố.
Để đạt được mục tiêu của luận án là nghiên cứu toàn diện, sâu sắc về vai trò của
pháp luật trong giữ gìn, phát huy GTVHTT dưới góc độ của chuyên ngành lý luận và
lịch sử về nhà nước và pháp luật, luận án kế thừa có chọn lọc các kết quả nghiên cứu
của các công trình khoa học nêu trên và tiếp tục làm rõ một số vấn đề