Một số giải pháp góp phần nâng cao kỹ năng sống cho học sinh trường THCS xuân cẩm qua môn ngữ văn - Pdf 56

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐẠO TẠO THƯỜNG XUÂN

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

MỘT SỐ GIẢI PHÁP GÓP PHẦN NÂNG CAO
KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TRƯỜNG THCS
XUÂN CẨM QUA MÔN NGỮ VĂN

Người thực hiện: Cầm Thị Huyền
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường THCS Xuân Cẩm
SKKN thuộc môn: Ngữ Văn

THANH HOÁ NĂM 2019


MỤC LỤC
TT Nội dung

Trang

1

Mục lục

1

2


2. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm.

4

8

2.1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm.

4

9

2.2. Thực trạng trước khi áp dụng sáng kiến.

5

10

2.3. Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề.

7

11

2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo
dục, với bản thân, đồng nghiệp và nhà trường.

19

12

Qua mỗi tiết Ngữ Văn, qua mỗi bài học cụ thể, qua mỗi tác phẩm, những bài đạo
đức, ý thức trách nhiệm, lối sống được nâng lên những tầm mới để phù hợp từng
giai đoạn phát triển tâm hồn của học sinh. Vì thế môn văn đã tác động lớn đến
việc bồi dưỡng tâm hồn, tư tưởng nhân cách của những người học nó. Từ đó các
em có khả năng ứng phó với những tình huống của cuộc sống một cách tích cực
và chủ động, góp phần xây dựng, hình thành và hoàn thiện nhân cách cho mình.
Với ý nghĩa và tầm quan trọng trên, nhằm hướng đến giáo dục toàn diện cho
học sinh tôi đã mạnh dạn trình bày một số kinh nghiệm nhỏ của mình thông qua
đề tài: “Một số giải pháp góp phần nâng cao kỹ năng sống cho học sinh
Trường THCS Xuân Cẩm qua môn Ngữ Văn”. Với kinh nghiệm có hạn, chắc
chắn đề tài sẽ còn nhiều thiếu sót. Rất mong được sự góp ý của đồng nghiệp.
1.2. Mục đích nghiên cứu.
Tổng hợp lại những kinh nghiệm cá nhân để tiếp tục áp dụng trong thực tiễn
dạy học.
Gợi ra một vấn đề về phương pháp để cùng trao đổi, đánh giá với bạn bè,
đồng nghiệp nhằm giáo dục học sinh tư tưởng, tình cảm, thái độ đúng đắn, có ý
thức trau dồi phẩm chất đạo đức, biết suy nghĩ và hành động tích cực trước mỗi
tình huống thực tế của cuộc sống; giúp học sinh trường THCS Xuân Cẩm có một
số kỹ năng sống cần thiết trước thời đại mới.
1.3. Đối tượng nghiên cứu.
2


Đối tượng nghiên cứu của đề tài là giáo dục kỹ năng sống cho học sinh
Trường THCS Xuân Cẩm thông qua môn Ngữ Văn.
1.4. Phương pháp nghiên cứu.
1.4.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu.
Nghiên cứu tài liệu, các trang mạng chính thống có nội dung liên quan đến
đề tài nghiên cứu, các đề tài về giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THCS để rút
ra những giải pháp khả quan để vận dụng vào thực tế giáo dục.

các tình huống thực tiễn có hiệu quả, qua đó giúp con người sống vui vẻ, có ý
nghĩa hơn.
Kỹ năng sống được hiểu như là khả năng tâm lý xã hội của mỗi người cho
những hành vi thích ứng và tích cực giúp cho bản thân đối phó hiệu quả với
những đòi hỏi và những thử thách của cuộc sống, kỹ năng sống giúp cho bản
thân mỗi người có được cuộc sống an toàn, khỏe mạnh và nâng cao chất lượng
cuộc sống.
2.1.2. Tầm quan trọng của giáo dục kỹ năng sống
- Đề cao những giá trị và thái độ tích cực đối với các chuẩn mực về văn hóa,
xã hội, đạo đức và sự công bằng, chính trực.
- Nâng cao lòng tự tin.
- Phát triển lòng tự trọng và tôn trọng đối với người khác, chấp nhận đặc tính
riêng của mỗi cá thể.
- Dạy cách cư xử phù hợp, có hiệu quả.
- Phân tích được những ảnh hưởng của gia đình, xã hội, kinh tế và chính trị
lên cách cư xử của con người với con người.
- Phát triển lòng thông cảm, nhân ái giữa con người với con người.
2.1.3. Lợi ích của giáo dục kỹ năng sống qua môn Ngữ văn:
4


GD KNS cho thanh thiếu niên nói chung và học sinh ở các trường THCS nói
riêng sẽ mang lại cho các em những lợi ích sau đây:
- Lợi ích về mặt giáo dục: Giaos dục kỹ năng sống sẽ có những tác động tích
cực đối với:
+ Quan hệ giữa thầy và trò, bạn và bạn.
+ Hứng thú trong học tập.
+ Để hoàn thành công việc của mỗi cá nhân một cách sáng tạo và có hiệu
quả.
- Lợi ích về mặt văn hóa xã hội

Như vậy việc Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh là rất cần thiết, phù hợp
với mục tiêu giáo dục và chủ trương của Đảng, Nhà nước ta trong bối cảnh hiện
nay.
5


2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến.
2.2.1 Thực trạng chung:
Trong những năm trở lại đây, tỷ lệ trẻ em phạm tội, trẻ em dính vào các tệ
nạn xã hội, bỏ nhà, hư hỏng ngày càng nhiều. Thật đáng buồn khi mà chúng ta
phải chứng kiến các em HS còn nhỏ tuổi đánh nhau, bỏ nhà và thậm chí là có
những hành động rất cực đoan như là tự tử. Khi bị cha mẹ, thầy cô có nhắc nhở
các em lập tức thể hiện thái độ căng thẳng, chống đối. Chúng ta không còn thấy
lạ lẫm khi đi ngang qua cổng trường thấy các em cả nam, nữ văng tục, chửi bậy,
HS hút thuốc, tóc nhuộm xanh đỏ, bỏ tiết học đi chơi... Trên một số trang báo
mạng, chúng ta bàng hoàng khi nghe con cái của mình nói: “Teen quan hệ sớm,
ai cũng biết chỉ phụ huynh không biết”, bàng hoàng với các dòng tin với nội
dung trẻ em bị xâm hại. Rõ ràng hiện nay, một bộ phận không nhỏ HS đang phát
triển nhân cách rất lệch lạc. Và thực tế cũng cho thấy, học sinh bây giờ đang rất
thiếu kỹ năng sống. Việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh ngày càng trở nên
bức thiết khi mà xã hội đang tác động tới các em từ quá nhiều phía.
Theo một số nghiên cứu của các nhà tâm lý thì ở lứa tuổi này các em luôn có
nhu cầu tìm tòi, học hỏi cái mới, điều lạ, không phân biệt nó là tốt hay xấu, điều
đó càng bị cấm càng hấp dẫn. Đây cũng là giai đoạn tuổi vị thành niên nên các
em bắt đầu phát triển tình yêu nam, nữ , tò mò, nhiều phương tiện thông tin đại
chúng như phim ảnh, internet không lành mạnh đã dẫn đến các quan hệ không
đúng mực trong quan hệ khác giới. Ở lứa tuổi này các em hay thần tượng hóa
một số ngôi sao, một số người nổi tiếng, chưa định hình được nghề nghiệp phù
hợp với năng lực của mình, vì vậy phần đa các em chưa đưa ra quyết định đúng
đắn trong việc lựa chọn nghành nghề, thích được khẳng định rằng mình đã lớn,

bộ bằng cách đưa ra các câu hỏi trắc nghiệm ngắn về các kỹ năng:
+ Kĩ năng giao tiếp.
+ Kĩ năng tự nhận thức.
+ Kĩ năng cảm thụ thẩm mĩ.
+ Kĩ năng tư duy sáng tạo.
+ Kĩ năng nghe, nói, đọc, viết.
Kết quả khảo sát như sau:
Số
lượng

80

HS có kĩ năng tốt

HS có hình thành
được kĩ năng

HS có kĩ năng chưa tốt

Số lượng

Tỉ lệ

Số lượng

Tỉ lệ

Số lượng

Tỉ lệ

thế công tác vận dụng các biện pháp và hình thức tổ chức giáo dục kỹ năng sống
cho học sinh là việc làm cần thiết, thông qua các hoạt động cũng như các hình
thức giáo dục mà các kỹ năng sống của học sinh sẽ được hình thành và phát
triển. Đó là một trong những lý do thúc đẩy tôi mạnh dạn nghiên cứu đề tài này.
2.3. Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề.
Văn học với tư cách là môn khoa học xã hội và nhân văn, nó không chỉ giúp
7


học sinh hiểu biết về văn hóa, xã hội, lịch sử, con người mà còn giúp mỗi người
tự hiểu hơn về chính mình; với tính chất là môn học công cụ, nó giúp học sinh
có năng lực ngôn ngữ để tư duy, để học tập, để giao tiếp, để nhận thức. Vì thế,
Ngữ văn là môn học có những khả năng đặc biệt trong việc giáo dục các kỹ năng
sống cho học sinh nhằm góp phần nâng cao khả năng ứng xử hợp lý với các tình
huống trong cuộc sống, đồng thời giúp các em học sinh rèn khả năng ứng xử văn
hóa, không sa các tệ nạn xã hội.
Với vai trò đó đồng thời căn cứ vào thực trạng kỹ năng sống của học sinh tại
đơn vị, khi dạy môn Ngữ Văn, thông qua một số tiết dạy, tôi lồng ghép giáo dục
cho học sinh trường THCS Xuân Cẩm những kỹ năng sống cơ bản sau:
2.3.1. Kỹ năng giao tiếp:
Mục đích của giao tiếp là truyền được các thông điệp, những điều muốn nói
(qua suy nghĩ, ý tưởng, cảm nhận...) đến với người nghe, người tiếp nhận, giúp
cho quá trình tương tác giữa các cá nhân trong nhóm với tập thể đông đảo hơn,
giúp cá nhân bày tỏ suy nghĩ, cảm xúc và tâm trạng của mình, giúp người khác
hiểu mình rõ hơn. Nếu không, những ý tưởng ấy không thể phản ánh, thậm chí
gây hiểu lầm, tạo ra những rào cản khiến ta không đạt được mục tiêu.
Học sinh THCS là lứa tuổi có nhiều biến động về tâm sinh lý với hoạt động
chủ đạo là giao tiếp bạn bè. Ở lứa tuổi đó, ngay từ khi mới đến trường, em nào
có kỹ năng giao tiếp tốt sẽ nhanh chóng xóa đi những bỡ ngỡ ban đầu và sẽ thiết
lập được mối quan hệ gần gũi với bạn bè, thầy cô giúp cho mình tự tin hơn trong

thống, thì lời thơ nói về sự vô tình và giật mình của con người trước trăng có ý
nhắc nhở ta điều gì trong cuộc sống ?” (Phải trân trọng, giữ gìn vẻ đẹp
và những giá trị truyền thống, lãng quên quá khứ tốt đẹp là phản bội lại chính
bản thân mình….).
- Ở bài “Lặng lẽ Sa Pa”, ở cuối bài cho học sinh thảo luận câu: “Vì sao tác
giả không đặt tên cụ thể cho từng nhân vật của mình mà chỉ gọi theo giới tính,
tuổi tác, nghề nghiệp ?” (Để ca ngợi những con người có phẩm chất tốt đẹp ở
mọi lứa tuổi, mọi ngành nghề, những con người âm thầm lặng lẽ cống hiến cho
Tổ quốc, làm tăng thêm sức khái quát của truyện…..).
Hay: “Từ nhân vật anh thanh niên trong truyện ngắn Lặng lẽ Sa Pa vừa
học, em suy nghĩ như thế nào về lý tưởng sống và trách nhiệm của thanh niên
trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước?”
- Bài “Bến quê” tôi cho học sinh thảo luận câu hỏi: “Truyện ngắn “Bến quê”
của Nguyễn Minh Châu đã gợi cho em suy nghĩ gì về con người và cuộc đời”
- Bài: “Bức tranh của em gái tôi” (Lớp 6), giáo viên có thể cho học sinh
hoạt động nhóm với yêu cầu như sau: Em hãy tranh luận và cho biết người anh
cảm thấy mình dằn vặt điều gì nhất khi đứng trước bức tranh em gái vẽ mình rất
giống và đẹp?
Ngoài ra, các bài học Tiếng Việt (Lớp 9) như: “Các phương châm hội
thoại”. “Nghĩa tường minh và hàm ý”, “Đối thoại, độc thoại, độc thoại nội tâm
trong văn bản tự sự” (Tập làm văn) cũng là những văn bản có lợi thế để giáo
viên khai thác rèn kĩ năng giao tiếp một cách có hiệu quả.
Với những câu hỏi có tính chất tình huống hoặc khái quát, tổng hợp vấn đề
cảm thụ văn học như trên đòi hỏi các em có tinh thần hợp tác .Và chính sự hợp
tác đó sẽ giúp các em giao tiếp một cách tự tin hơn.
- Đóng vai nhân vật để xử lí tình huống:
Khi dạy bài Chương trình địa phương- Tiết 122 ở chương trình Ngữ văn lớp
8, tôi tổ chức cho học sinh thực hành, “làm thử” một số cách ứng xử khi gặp tình
huống cần xử lí bằng cách cho học sinh thử đóng vai.
- Ví dụ:

một cách chính xác về cảm xúc của mình ngay khi nó xảy ra và hiểu mình có
khuynh hướng làm gì trong tình huống đó…
Tự nhận thức bản thân có nghĩa là bạn có sự hiểu biết chính xác về bản thân
mình, bao gồm ưu điểm và khuyết điểm của bạn, tư duy và niềm tin của bạn,
cảm xúc và những động lực thúc đẩy bạn trong cuộc đời. Nhận thức ở đây là
nhận thức chính mình và nhận thức qua bài học; nhận thức về con người và xã
hội. Cần biết mình là ai, đang đứng ở đâu, đang và sẽ làm gì cho bản thân, cho
gia đình và cho xã hội...
Để giúp học sinh rèn luyện kĩ năng này, trong quá trình giảng dạy, tôi luôn
tìm cách khơi gợi, xác định trách nhiệm của mỗi cá nhân đối với bản thân và đối
với mọi người, từ đó giúp các em hình thành những hành động thiết thực, hữu
ích góp phần vào cuộc sống tốt đẹp hơn. Bằng cách kết hợp với bài học và thực
tế cuộc sống, tôi đưa ra những tấm gương vượt khó học tạo; gương cứu người
quên mình với một tinh thần nhân ái đáng trân trọng và khâm phục, thậm chí có
cả những “tấm gương” xấu, mặt trái của xã hội, những nhân vật phản diện trong
tác phẩm...để qua đó các em có ý thức tự nhìn và tự đánh giá bản thân mình đã
“sống” đến đâu, tự thấy nhứng ưu điểm, nhược điểm của mình nhằm tự soi rọi
lại mình mà có thái độ và hành động sống tích cực hơn nữa. Đặc biệt với những
em HS cá biệt, yếu kém cũng sẽ dần chuyển biến theo kiểu “mưa dầm thấm
lâu”, ít nhất là trong nhận thức còn non trẻ của các em.
Chẳng hạn, khi hướng dẫn học sinh tìm hiểu văn bản: “Bức thư của thủ lĩnh
da đỏ”- (Lớp 6), tôi yêu cầu các em đọc kĩ nội dung văn bản, phần chú thích và
trả lời các câu hỏi trong sách giáo khoa, sau đó đưa ra câu hỏi:
? Văn bản Bức thư của thủ lĩnh da đỏ đem đến cho chúng ta những giá trị
thiết thực nào với cuộc sống?
10


Sau khi học sinh suy nghĩ, giáo viên gọi 1-2 em trả lời. Các em sẽ trình bày
suy nghĩ, ý tưởng, cảm nhận của bản thân về những giá trị của bức thư. Khi trả

quá trình người học tiếp nhận tác phẩm văn chương năng lực cảm xúc được thể
hiện ở những phương diện sau:
- Cảm nhận vẻ đẹp của ngôn ngữ văn học, biết rung động trước những hình
ảnh, hình tượng được khơi gợi trong tác phẩm về thiên nhiên, con người, cuộc
sống qua ngôn ngữ nghệ thuật.
- Nhận ra được những giá trị thẩm mĩ được thể hiện trong tác phẩm văn học:
cái đẹp, cái xấu, cái hài, cái bi, cái cao cả, cái thấp hèn,….từ đó cảm nhận được
những giá trị tư tưởng và cảm hứng nghệ thuật của nhà văn được thể hiện qua
tác phẩm.
- Cảm hiểu được những giá trị của bản thân qua việc cảm hiểu tác phẩm văn
học; hình thành và nâng cao nhận thức và xúc cảm thẩm mĩ của cá nhân; biết
11


cảm nhận và rung động trước vẻ đẹp của thiên nhiên, con người, cuộc sống; có
những hành vi đẹp đối với bản thân và các mối quan hệ xã hội; hình thành thế
giới quan thẩm mĩ cho bản thân qua việc tiếp nhận tác phẩm văn chương.
- Từ việc tiếp xúc với các văn bản văn học, học sinh sẽ biết rung động trước
cái đẹp, biết sống và hành động vì cái đẹp, nhận ra cái xấu và phê phán những
hình tượng, biểu hiện xấu trong cuộc sống, biết đam mê và mơ ước cho cuộc
sống tốt đẹp hơn.
Vì vậy, trong các tiết giảng dạy, tôi cố gắng xây dựng, củng cố và định
hướng thị hiếu, năng lực thẩm mĩ của các em qua từng bài học.
* Ví dụ:
- Ở bài “Lặng lẽ Sa pa” (lớp 9), khi bình giá về chi tiết anh thanh niên vì
“thèm người” nên ngáng gỗ dọc đường không cho xe đi qua để gặp và trò
chuyện cùng những người qua đường, giáo viên có thể hỏi học sinh: “Có thể
hiểu thèm người là cảm giác mà ai cũng có khi phải ở hoàn cảnh một mình hay
cô đơn không? Tại sao tác giả không nói anh rất cô đơn, rất muốn gặp ai đó để
nói chuyện mà lại nói là “thèm người”? Và các em đã bao giờ trải qua cảm


Đối với những văn bản thơ đã được phổ nhạc như Mùa xuân nho nhỏ của
Thanh Hải, Đồng chí của Chính Hữu, Viếng lăng Bác của Viễn Phương, tôi cho
HS thưởng thức những ca khúc này, chúng sẽ có tác dụng rất lớn trong việc tạo
nên những xúc động mạnh mẽ của các em về văn bản. Công việc này cùng với
đọc diễn cảm có khả năng đánh thức cảm giác về nhịp điệu, giai điệu cho các em
và cũng từ đó cảm nhận những cung bậc của tâm hồn đang hát lên trong những
giai điệu đó.
Qua đó, ta thấy rõ ràng rằng: Văn học nuôi dưỡng tâm hồn các em, định
hướng cho các em cách sống đẹp.
2.3.4. Kĩ năng tư duy sáng tạo.
Có thể không quá lời khi nói rằng, nếu không có tư duy sáng tạo thì không
thể có một xã hội phát triển như ngày nay. Chính nhờ có sáng tạo mà con người
qua từng thời đại chế tạo ra biết bao nhiêu thiết bị để “nối dài” khả năng của con
người. Trong công việc cũng vậy, nếu không có tư duy sáng tạo thì con người
không thể giải quyết được những vấn đề nan giải đòi hỏi phải có những giải
pháp mang tính đột phá và hoàn toàn mới lạ.
Đối với các em học sinh, tư duy sáng tạo là một phẩm chất năng động cũng
như sức sống của tuổi trẻ, khẳng định được vị thế của mình trong thời đại mới
và góp phần xây dựng xã hội ngày một phát triển hơn. Làm sao rèn luyện được
kỹ năng tư duy sáng tạo?
Với kĩ năng này, đối với bộ môn Ngữ Văn, tôi thường rèn luyện qua phân
môn Tập làm văn, đặc biệt là văn tự sự và văn nghị luận bởi Tập làm văn là môn
tổng hợp kiến thức, đòi hỏi khả năng tư duy và sáng tạo rất cao. Thông thường,
các em làm bài theo một “lối mòn” có sắn, trong khi đó, đã là văn nghị luận thì
phải bày tỏ quan điểm, suy nghĩ, tư tưởng và trình bày những nhận xét, đánh giá
của cá nhân trước một vấn đề nào đó, nên nếu thiếu khả năng tư duy sáng tạo thì
sẽ khó đạt yêu cầu của một bài làm trọn vẹn, chặt chẽ.
Ví dụ:
- Khi dạy văn bản: Bức tranh của em gái tôi (Lớp 6) ở phần Tổng kết Luyện tập, tôi đưa tình huống: “Khi bố mẹ vắng nhà, anh trai (hoặc chị gái ) cứ

ta quan tâm đến việc tập rèn nói năng, nếu không muốn bị chê là “ăn không nên
đọi, nói không nên lời”.
Vì thế, dạy học không phải chỉ dạy cho học sinh kiến thức mà còn cần hình
thành cho học sinh 4 kỹ năng nghe - nói - đọc - viết một cách thành thạo. Nghe
tốt các em mới có khả năng suy luận, hiểu đúng vấn đề từ đó giúp các em biết
cách giao tiếp, ứng xử. Nói là giúp học sinh phát triển ngôn ngữ nói, rèn luyện
nói tốt tức là cơ sở nền móng cho việc phát triển ngôn ngữ nói. Ngoài ra luyện
nói cho học sinh sẽ giúp các em mạnh dạn, tự tin hơn trong giao tiếp. Đọc tốt
các em nhận biết được mặt chữ nhanh, đọc tốt thì các em sẽ viết tốt, viết đúng,
viết nhanh, viết thành thạo.
Đặc thù của học sinh trường THCS Xuân Cẩm là các em rất ngại nói trong
giờ học, có tâm lý ngượng ngùng, dè dặt vì sợ mình nói sai. Hơn nữa do ảnh
hưởng của tiếng mẹ đẻ và do thói quen nên một số từ các em phát âm không
chuẩn, lẫn lộn giữa các từ b/v, l/đ ... Ví dụ: “Con bò” thành “Con vò”; “Đang
học bài” thành “lang học vài”...các em thường chỉ diễn đạt một vấn đề bằng
cách nói từng tiếng thay vì nói cả câu khi đối thoại với người đối diện. Ví dụ:
Giáo viên hỏi nhà em có mấy người? Các em chỉ nói “bốn” thay vì phải trả lời:
“Nhà em có bốn người”; hay “Các em đã làm bài tập ở nhà chưa?” các em chỉ
trả lời được “rồi”, trong khi đó, học sinh bình thường phải trả lời được “Thưa
cô (thầy), chúng em làm rồi ạ!”. Ngoài ra, sự hạn chế về vốn sống, vốn hiểu biết
và kinh nghiệm giao tiếp dẫn đến học sinh thiếu sự đa dạng, linh hoạt trong việc
thực hiện các chủ đề, hình thức nói năng. Đó là một trong những điểm yếu của
học sinh trường THCS Xuân Cẩm.
Trước thực trạng đó, trong quá trình dạy học, thông qua các tiết dạy, tôi cố
gắng giúp các em rèn luyện kỹ năng này.
Ở mỗi bài học thì kỹ năng nghe - nói - đọc - viết được vận dụng khác nhau.
Tùy theo nội dung bài học mà các kỹ năng này được vận dụng hợp lý.
* Kỹ năng nghe:
Với HS, mục đích nghe phải được xác định rõ ràng nếu không các em sẽ
14

Hay trong một tiết học Ngữ văn thường sẽ có từ 2-3 câu hỏi thảo luận nhóm,
thời gian thảo luận từ 2-3 phút, dưới dạng câu hỏi mở. Tôi thường cho các em
thảo luận nhóm với những câu hỏi ngắn, học sinh tư duy trả lời. Ưu điểm của
hoạt động này là trong quá trình thảo luận, cá nhân các em được trình bày quan
điểm của mình trước nhóm. Hết thời gian thảo luận đại diện nhóm trả lời, trình
bày ý kiến của nhóm trước lớp. Các nhóm còn lại sẽ nhận xét ý kiến về phần
trình bày của nhóm bạn, sau đó giáo viên nhận xét.
* Kỹ năng đọc.
Ở cấp THCS không có tiết tập đọc riêng như Tiểu học; nhưng muốn lôi cuốn
học sinh, truyền cảm cho học sinh ở giai đoạn cảm tính là việc hết sức
quan trọng. Có tác dụng kích thích hứng thú học tập của học sinh trong cả tiết
học, thì trong tiết giảng văn phải đảm bảo một thời gian đọc thích hợp, cho có
chất lượng, tránh lối làm qua loa, đại khái, đọc để mà đọc vì sợ thiếu giờ giảng.
Đối với học sinh THCS đọc không chỉ là một hoạt động đơn thuần, mà đọc ở
đây là một trong những hình thức hoạt động nhận thức của con người, phản ánh
15


năng lực tư duy bằng ngôn ngữ và thông qua ngôn ngữ.
Để giúp học sinh có kỹ năng đọc tốt, tôi thường hướng dẫn học sinh cách
đọc, tôi lưu ý đặc biệt đến cách phát âm, cách ngắt hơi, đến thanh điệu và đặc
biệt tôi đòi hỏi các em phải đọc đúng từ.
- Rèn cho học sinh đọc đúng:
+ Muốn học sinh phát âm đúng thì mỗi giáo viên khi luyện phát âm phải có
sự vận dụng mềm dẻo, trong phần luyện tập có chia ra nội dung bắt buộc và nội
dung lựa chọn. Giáo viên nên lựa chọn chuẩn phát âm gần nhất với giọng địa
phương của mình đồng thời nắm chắc biện pháp chữa lỗi phát âm cho học sinh.
+ Giáo viên phải luôn có sự hướng dẫn nhiệt tình, đặc biệt là biết động viên
tinh thần, thương yêu giúp đỡ học sinh để các em hứng thú rèn phát âm đúng.
Đồng thời giáo viên cũng cần tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến học sinh phát âm

16


đẹp mà còn rèn luyện đức tính kiên trì, nhẫn nại, không bỏ cuộc giữ chừng cho
các em. Đó là đức tình mà mỗi con người muốn thành công không thể không có.
Hơn thế nữa, một học sinh khi ra đời, làm bất cứ một công việc gì cũng cần đến
công việc viết lách. Trong cuộc sống hiện đại ngày nay, khi công nghệ thông tin
phát triển không ngừng các em có thể nói rằng chữ xấu thì có thể đánh máy,
song không thể viết đúng nếu như các em không hiểu luật, và các quy tắc chính
tả.
Bởi vậy, trong quá trình giảng dạy, đặc biệt là trong các tiết Tiếng Việt và khi
chấm bài, tôi luôn sát sao một cách chặt chẽ về việc các em viết sai lỗi chính tả.
Việc này tôi thường kết hợp chữa lỗi cho các em ở những tiết ngoài giờ, tiết tự
chọn và cả trong giờ học chính khoá trên lớp. Từ đó, các em dần sẽ có ý thức
viết đúng rồi dần sang viết đẹp.
Rèn luyện kĩ năng sống trong nhà trường là một nội dung hết sức quan trọng,
giúp các em học sinh tự tin hơn, ứng xử có văn hóa, ý thức chung sống trong
cộng đồng thực sự thân thiện. Qua đó, các em sẽ chủ động nhiều hơn trong cuộc
sống của chính mình.
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục,
với bản thân, đồng nghiệp và nhà trường.
Rèn luyện KNS có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với học sinh, vì khi có
KNS các em có thể đương đầu với mọi thử thách trong cuộc sống và hoàn thiện
bản thân mình hơn. Sau khi áp dụng các giải pháp trên vào quá trình dạy – học,
đồng thời kết hợp với việc hướng dẫn học sinh cách khắc phục, sửa chữa những
lỗi mình thường mắc của học sinh trường THCS Xuân Cẩm, tôi đã thu được kết
quả như sau:
2.4.1. Đối với bản thân giáo viên.
Qua quá trình thực nghiệm, tôi có thêm được những kinh nghiệm cá nhân
quý báu để áp dụng trong thực tiễn dạy học trong sự nghiệp giảng dạy học sinh


HS có kĩ năng chưa tốt

Số lượng

Tỉ lệ

Số lượng

Tỉ lệ

Số lượng

Tỉ lệ

53

31,25%

13

17,5%

14

51,25%

Số liệu thống kê chất lượng qua bài trắc nghiệm ngắn về kỹ năng sống
của học sinh sau khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm


3.2 Kiến nghị.
Để nâng cao chất lượng giáo dục kĩ năng sống cho học sinh, tôi xin kiến
nghị:
Với Phòng Giáo dục và Đào tạo: Tổ chức chuyên đề, hội thảo về tiết dạy có
lồng ghép, tích hợp kỹ năng sống cho học sinh để giáo viên có tiếng nói chung
về phương pháp và có điều kiện giao lưu, học hỏi kinh nghiệm của nhau.
Với Nhà trường: Nhà trường kiểm tra sát sao hơn giáo án bộ môn có lồng
ghép kỹ năng sống, Liên Đội tổ chức thêm giờ hoạt động ngoại khóa để các em
được rèn luyện thêm các kỹ năng sống cần thiết.
Trên đây chỉ là một vài kinh nghiệm nhỏ mà tôi đã áp dụng dạy HS trường
THCS Xuân Cẩm trong năm học 2018 - 2019. Những điều tôi viết ra chỉ là kinh
nghiệm của bản thân, còn mang tính chủ quan, vì vậy sẽ không tránh khỏi những
khiếm khuyết, hạn chế. Rất mong sự đóng góp, chỉ bảo của lãnh đạo chuyên
19


môn, các bạn bè, đồng nghiệp để sáng kiến kinh nghiệm của tôi được hoàn thiện
hơn, hiệu quả hơn trong những năm dạy sau.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
XÁC NHẬN
CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ

Thanh Hóa, ngày 06 tháng 03 năm 2019
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết,
không sao chép nội dung của người khác.
Người viết:

Cầm Thị Huyền
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- SGK, SGV Ngữ Văn lớp 6, lớp 7, lớp 8 và lớp 9.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status