BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HCM
ĐÀO CÔNG HAI
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ TRỢ GIÚP VIÊN PHÁP LÝ
DỰA TRÊN MÔ HÌNH LUẬT SƯ CÔNG TỪ THỰC TIỄN
TẠI TỈNH BẾN TRE
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Tp. Hồ Chí Minh – Năm 2018
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HCM
ĐÀO CÔNG HAI
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ TRỢ GIÚP VIÊN PHÁP LÝ
DỰA TRÊN MÔ HÌNH LUẬT SƯ CÔNG TỪ THỰC TIỄN
TẠI TỈNH BẾN TRE
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số : 8380107
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. TRẦN VĂN LONG
Tp. Hồ Chí Minh – Năm 2018
4. Phương pháp nghiên cứu .....................................................................................8
5. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa ứng dụng của đề tài ...............................................8
5.1.Ý nghĩa về mặt khoa học ................................................................................8
5.2. Ý nghĩa về mặt ứng dụng ..............................................................................9
CHƯƠNG 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGHỀ LUẬT SƯ CÔNG VÀ MÔ HÌNH
LUẬT SƯ CÔNG Ở MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI ..................................10
1.1. KHÁI NIỆM NGHỀ LUẬT SƯ VÀ LUẬT SƯ CÔNG ................................10
1.1.1. Nghề luật sư ..............................................................................................10
1.1.2. Luật sư công .............................................................................................12
1.2. VAI TRÒ CHẾ ĐỊNH CỦA LUẬT SƯ CÔNG TRONG HOẠT ĐỘNG TƯ
PHÁP .....................................................................................................................12
1.3. MÔ HÌNH LUẬT SƯ CÔNG MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI ..............14
1.3.1. Luật sư công tại Israel .............................................................................14
1.3.1.1. Lĩnh vực hình sự ................................................................................14
1.3.1.2. Lĩnh vực dân sự..................................................................................15
1.3.2. Luật sư công ở Argentina .........................................................................16
1.3.3. Luật sư công ở Canada .............................................................................18
1.3.3.1. Kinh phí cho luật sư công thực hiện trợ giúp pháp lý luôn tốn ít ......18
1.3.3.2. Luật sư công thực hiện trợ giúp pháp lý tốn ít thời gian....................19
1.3.3.3. Chất lượng vụ việc luật sư công cao .................................................20
1.4. SO SÁNH GIỮA MÔ HÌNH LUẬT SƯ CÔNG VÀ TRỢ GIÚP VIÊN
PHÁP LÝ Ở VIỆT NAM ......................................................................................21
1.4.1 Giống nhau ................................................................................................21
1.4.2 Khác nhau ..................................................................................................22
CHƯƠNG 2. QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ TRỢ GIÚP VIÊN PHÁP LÝ VÀ
HOẠT ĐỘNG TRỢ GIÚP PHÁP LÝ TẠI VIỆT NAM .....................................23
2.1. QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ TRỢ GIÚP VIÊN PHÁP LÝ ........................23
2.1.1. Sự ra đời văn bản pháp luật quy định trong hoạt động trợ giúp pháp lý ..23
4.1. MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ TRỢ GIÚP VIÊN
PHÁP LÝ ...............................................................................................................47
4.1.1. Tên gọi chức danh Trợ giúp viên pháp lý ................................................47
4.1.2. Tiêu chuẩn, điều kiện Trợ giúp viên pháp lý ...........................................48
4.1.3. Quy định hoàn thành chỉ tiêu vụ việc tham gia tố tụng ...........................50
4.1.4. Đối tượng được trợ giúp pháp lý ..............................................................51
4.1.5. Trách nhiệm các cơ quan có liên quan hoạt động trợ giúp pháp lý .........53
4.2. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ
TRỢ GIÚP VIÊN PHÁP LÝ .................................................................................55
4.2.1 Hình thức đào tạo nghề luật sư cho nguồn bổ nhiệm Trợ giúp viên pháp
lý .........................................................................................................................55
4.2.2. Xây dựng hành lang pháp lý.....................................................................57
4.3. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT TRỢ GIÚP VIÊN
PHÁP LÝ ...............................................................................................................59
KẾT LUẬN ..............................................................................................................60
TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC VĂN BẢN PHÁP LUẬT
1
TÓM TẮT LUẬN VĂN
Trợ giúp pháp lý là hoạt động từ thiện mục đích nhằm hỗ trợ pháp lý miễn phí
cho các đối tượng thuộc hộ nghèo, hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn, người có
công với cách mạng, người yếu thế trong xã hội khi phải vướng mắc vấn đề về pháp
luật. Khi vụ việc xảy ra họ không thể tự bảo vệ mình mà cần phải có một cá nhân
hoặc một tổ chức am hiểu về pháp luật để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho họ.
Trước khi pháp luật về hoạt động TGPL chưa ra đời họ phải bỏ ra một khoảng phí
nhất định để thuê một luật sư tham gia bảo vệ cho họ. Đảng và Nhà nước ta nhận
thấy được vấn đề này nên đã ban hành những văn bản luật liên quan hoạt động TGPL.
thông qua việc kiểm tra thu nhập, tài sản và có cơ sở pháp lý vững chắc (khả năng
thắng kiện). 1Mô hình LSC nước Argentina hoạt động TGPL do các Văn phòng LSC
Liêng bang và chịu sự điều chỉnh của Luật về văn phòng LSC Liên bang năm 2015
trách nhiệm bảo vệ nhân quyền cho những người dễ bị tổn thương trong lĩnh vực hình
sự, dân sự và hành chính. Ngoài ra, văn phòng LSC Liên bang thực hiện TGPL về
lĩnh vực nhà ở, y tế, hỗ trợ cho tù nhân trong tù; cho trẻ em và vị thành niên; nạn nhân
về bạo lực giới, người bị tị nạn.2 Mô hình LSC Canada hoạt động rất hiệu quả như
kinh phí cho LSC thực hiện TGPL luôn ít tốn kém hơn luật sư tư chỉ tốn 235USD còn
trong khi đó luật sư tư thực hiện tốn mất 264 USD; LSC thực hiện TGPL với thời
gian ít hơn như vụ án hành hung thì LSC chỉ thực hiện trong 4 giờ còn luật sư tư phải
mất tới 8 giờ; Vụ án sử dụng vụ khí LSC mất 5 giờ còn luật sư tư mất gần 10 giờ.
Ngoài ra, đối với chất lượng vụ việc LSC đa số đạt chất lượng hơn như theo đánh
giá tại dự án Burnaby khoảng 60% đối tượng bị kết án thì có 40% đối đượng luật sư
tư bào chữa bị phạt tù còn đối LSC chỉ chiếm khoảng 30% hoặc bang Saskatcgwa đối
tượng LSC bị phạt tù chiếm 14% còn luật sư tư lại chiếm 32%.3 Tiêu chuẩn, điều kiện
Theo Phan Hà (2013)“Trợ giúp pháp lý ở Israel”, Nghiên cứu – Trao đổi, Trang thông tin điện tử
Trợ giúp pháp lý Việt Nam, tại truy cập ngày 5/6/2018.
1
Theo Trịnh Thị Thanh (2015) “Giới thiệu trợ giúp pháp lý Argentina”, Nghiên cứu – Trao đổi,
Trang thông tin điện tử Trợ giúp pháp lý Việt Nam, tại truy cập ngày 5/6/2018.
2
Theo báo Pháp luật TP.Hồ Chí Minh ngày 12/01/2006 “Trợ giúp pháp lý ở Canada: Luật sư công hiệu quả”, Trang thông tin điện tử Tuổi trẻ oline, tại truy cập ngày 5/6/2018.
3
3
4
hoạt động TGPL bắt đầu được nghiên cứu mãi đến cuối thế kỷ thứ XX (năm 1997)
TGPL mới hình thành đi vào hoạt động. Năm 2006, Luật TGPL đầu tiên ra đời quy
định về đối tượng, phạm vi, hình thức hoạt động TGPL. Sau hơn 10 thi hành Luật
TGPL năm 2006 Đảng và Nhà nước ta nhận thấy cần phải bổ sung thêm đối tượng
được TGPL và điều chỉnh một số Điều Luật cho phù hợp điều kiện thực tế hiện nay
nên năm 2017 Quốc Hội đã ban hành Luật TGPL năm 2017 (có hiệu lực pháp luật kể
từ ngày 01/01/2018).
Tác giả đã phân tích đánh những điểm mới, khó khăn vướng mắc khi áp dụng
triển khai, thi hành Luật TGPL năm 2017. Bên cạnh kết quả đạt được tác giả cũng đã
nêu lên những khó khăn, vướng mắc trong hoạt động TGPL như về mạng lưới TGPL
cơ sở; về công tác TGPL lưu động; về công tác phối hợp với cơ quan liên quan hoạt
động TGPL; tiêu chuẩn, điều kiện TGVPL; quy định hoàn thành chỉ tiêu vụ việc tham
gia tố tụng của Bộ Tư pháp; đối tượng được TGPL. Qua những khó khăn, vướng mắc
tác giả đưa ra những giải pháp, kiến nghị nhằm để hoàn thiện pháp luật về TGVPL
theo mô hình LSC.
5
TỪ KHÓA LUẬN VĂN
1. Trợ giúp pháp lý
2. Luật sư công
3. Hoàn thiện pháp luật
6
7
trên thế giới khá giống nhau. Tuy nhiên, so với mô hình LSC các nước trên thế giới
có sự chênh lệch hơn về chuyên môn đào tạo nghiệp vụ. Đối với TGVPL tại Việt
Nam cũng như TGVPL đang thực hiện TGPL ở Bến Tre cần phải học hỏi nhiều hơn
về chuyên môn, nghiệp vụ.
Mô hình người thực hiện TGPL là LSC đã có từ lâu như Canada, Israel,
Argentina......... Mục đích của họ là thực hiện TGPL miễn phí cho đa số đối tượng là
người dân nghèo, người yếu thế trong xã hội. Tổ chức hoạt động mô hình LSC một
số nước trên thế giới rất hiệu quả. Vụ việc tham gia đạt chất lượng cao hơn so với
luật sư tư.
Từ những nhận định mô hình LSC một số nước trên thế giới hoạt động có hiệu
quả. Trên cơ sở nghiên cứu những kinh nghiệm để xây dựng tổ chức và hoạt động
TGPL tại Việt Nam theo hướng trở thành mô hình LSC. Để đạt được mô hình LSC ở
Việt Nam ta cần phải hoàn thiện pháp luật về TGVPL nâng cao trình độ, chuyên
môn, nghiệp vụ nhằm mục đích đưa chức danh TGVPL thành chức danh LSC giống
mô hình LSC một số nước trên thế giới. Do đó, tôi chọn đề tài “Hoàn thiện pháp luật
về Trợ giúp viên pháp lý dựa trên mô hình luật sư công từ thực tiễn tại tỉnh Bến
Tre”.
2. Câu hỏi nghiên cứu
1. Nghề LSC và mô hình LSC ở các nước quy định ra sao?
2. Pháp luật hiện nay quy định về TGVPL như thế nào?
3. Thực tiễn tại Bến Tre TGVPL gặp khó khăn, vướng mắc gì?
4. Pháp luật về TGVPL so với mô hình LSC cần hoàn thiện như thế nào?
8
3. Mục đích nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.2. Ý nghĩa về mặt ứng dụng
Các nước trên thế giới thực hiện TGPL với người thực hiện TGPL là LSC. Mô
hình LSC phát triển rất mạnh mẽ và họat động có hiệu quả so với luật sư tư. Chính
phủ luôn tạo điều kiện về vật chất, lẫn kinh phí cho hoạt động của LSC. Luật LSC
được quy định chặt chẽ, rõ ràng và có vai trò rất quan trọng trong tham gia tố tụng.
Việt Nam ta nên học hỏi theo các mô hình của họ vì vậy Luật TGPL nên điều chỉnh
chuyển đổi mô hình LSC thay cho mô hình TGVPL và một số văn bản luật khác. Từ
đó Tư pháp Việt Nam sẽ tồn tại hai loại hình luật sư là LSC và Luật sư tư. Hình thức
và hoạt động như nhau mục tiêu phục vụ cho những người dân có điều kiện khó khăn
về tài chính và yếu thế trong xã hội. Tên chức danh LSC sẽ được nhiều người dân
biết và hiểu rõ chức năng, nhiệm vụ hơn so với chức danh TGVPL.
Luận văn này được viết với mục đích học hỏi từ thực tiễn mô hình LSC một số
nước trên thế giới để từ đó xây dựng, hoàn thiện pháp luật quy định TGVPL tại Việt
Nam. Điều chỉnh một số quy định pháp luật Việt Nam về TGPL để chuyển thành mô
hình LSC hoạt động TGPL có hiệu quả.
10
CHƯƠNG 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGHỀ LUẬT SƯ CÔNG VÀ MÔ HÌNH
LUẬT SƯ CÔNG Ở MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI
1.1. KHÁI NIỆM NGHỀ LUẬT SƯ VÀ LUẬT SƯ CÔNG
1.1.1. Nghề luật sư
Do sự phát triển không đồng đều cả về vật chất lẫn tinh thần, bất kỳ xã hội nào
cũng có sự ức hiếp, bị đối xử không công bằng. Những người nghèo, người có vị thế
yếu kém trong xã hội và kém hiểu biết về pháp luật luôn bị đối xử bất công, không
được bảo vệ. Khi họ có những hành vi trái pháp luật bị buộc tội hoặc quyền lợi của
họ bị xâm phạm thì luôn mong muốn có người am hiểu về pháp luật đứng ra bảo vệ
cho họ. Do đó, để bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo, bảo vệ quyền và lợi
Điều kiện để bổ nhiệm luật sư cũng quy định rõ là người phải có bằng cử nhân
luật và đăng ký đào tạo tại một khóa đào tạo nghề luật sư. Sau khi hoàn thành khóa
học và được cấp giấy chứng nhận tốt nghiệp đào tạo nghề luật sư thì phải đăng ký tập
sự tại một tổ chức hành nghề luật sư. Hết thời gian tập sự phải được Liên đoàn luật
sư Việt Nam tổ chức kiểm tra nếu đạt yêu cầu thì mới được cấp chứng chỉ hành nghề
luật sư. Luật Luật sư cũng có quy định rõ quyền của luật sư là được ký hợp đồng thực
hiện dịch vụ pháp lý với các đương sự và được hưởng phí dịch vụ từ hợp đồng vụ
việc chỉ trừ trường hợp theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng buộc phải có luật
sư tham gia bào chữa. Hình thức hoạt động pháp lý của Luật sư là thực hiện tư vấn
pháp luật, tham gia tố tụng và các dịch vụ pháp lý khác theo yêu cầu của cá nhân, tổ
chức. Luật sư hoạt động dịch vụ pháp lý phải luôn tuân thủ pháp luật, quy tắc đạo đức
nghề nghiệp, trung thực, khách quan và chịu trách nhiệm trước pháp luật về hoạt động
nghề nghiệp của mình. Đối với khách hàng luôn tận tâm trong công việc và hạn chế
rủi ro cho khách hàng.
Đối với quy định luật sư ở các nước trên thế giới nhìn chung cũng không khác
gì quy định luật sư ở tại Việt Nam. Luật sư thực hiện pháp lý là tư vấn pháp luật, bào
chữa, bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho người dân. Luật sư được quyền ký hợp đồng
dịch vụ pháp lý với người yêu cầu cần luật sư bảo vệ, bào chữa. Sau khi kết thúc vụ
việc luật sư được nhận thù lao do người có yêu cầu chi trả (Thù lao của luật sư nhận
theo khung giá quy định mà pháp luật tại nước sở tại cho phép). Luật sư hoạt động
luôn tuân theo quy tắc đạo đức nghề nghiệp và pháp luật quy định nghề luật sư. Mục
tiêu chung luật sư là phục vụ dịch vụ pháp lý cho người có nhu cầu trợ giúp pháp luật.
4
Trích Điều 10 Luật Luật sư năm 2006 “Tiêu chuẩn luật sư”
12
Theo Trịnh Thị Thanh (2015) “Giới thiệu trợ giúp pháp lý Argentina”, Nghiên cứu – Trao đổi,
Trang thông tin điện tử Trợ giúp pháp lý Việt Nam, tại truy cập ngày 5/6/2018.
6
13
trên và luật LSC đã được ban hành. Kết quả qua một thời gian hoạt động của LSC thì
nhận thấy rất có hiệu quả và LSC đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp dịch
vụ pháp lý miễn phí cho người dân. Từ khi có LSC hoạt động TGPL miễn phí đã góp
phần cải cách hệ thống tư pháp. Tạo điều kiện thuận lợi cho những người nghèo,
người có khó khăn về tài chính, người trình độ văn hóa thấp, yếu thế trong xã hội
được tiếp cận dịch vụ pháp lý miễn phí nhanh chóng, kịp thời. LSC thực hiện TGPL
ít tốn kém hơn về nguồn lực, thời gian và có sự hợp tác trong các cơ quan Tòa án, cơ
quan Tư pháp nhằm giúp họ tăng cường, mở rộng ảnh hưởng đối với hệ thống pháp
luật tư pháp. Đối với chi phí phục vụ cho hoạt động LSC thì lại luôn thấp hơn luật sư
tư, chất lượng vụ việc không thua kém gì đối với việc thực hiện pháp lý của luật sư
tư. LSC luôn có tâm trong công tác và thực hiện hết trách nhiệm của mình. Mỗi quốc
gia hoạt động TGPL của của LSC đều được sự điều chỉnh của Luật nơi sở tại (LSC
Israel có Luật LSC năm 1995; nước Argentina Luật về văn phòng LSC Liên bang
năm 1988)7.
LSC được tuyển dụng vào nhà nước để thực hiện TGPL là một công chức hưởng
lương hàng tháng từ ngân sách nhà nước, có trách nhiệm trong công việc. Họ được
quan tâm cho đi đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ và hưởng nhiều chính sách (bảo hiểm
y tế, phụ cấp, nghĩ phép…) và hoạt động LSC chịu sự điều chỉnh của các quy tắc đạo
đức nghề nghiệp. Đối với những đối tượng được thụ hưởng dịch vụ pháp lý miễn phí
như đối tượng bị thiệt thòi, có trình độ văn hóa thấp, yếu thế trong xã hội không tiếp
cận được thông tin pháp lý dễ gây mất ổn định xã hội và thường hay bị lợi dụng thì
được LSC kịp thời tiếp cận thực hiện TGPL. Những đối tượng này không phải chờ
đợi, bỏ tiền thuê luật sư (Luật sư tư). Sự tham gia thực hiện TGPL của LSC trong các
trong tuần. Hình thức tham gia tư vấn tại nơi đương sự bị tạm giam, giam giữ trong
quá trình điều tra, tham gia tại phiên tòa trong giai đoạn xét xử, hỗ trợ cho việc kháng
cáo bản án và thực hiện các công việc sau bản án. Ngoài ra còn đại diện pháp lý thực
hiện các thủ tục hành chính trong quá trình tố tụng như đơn xin giảm án và các công
việc khác liên quan đến vụ án.
Đối với các tù nhân được TGPL thực hiện TGPL thường xuyên. LSC mỗi tuần
được vào nhà tù hai lần để thực hiện TGPL. LSC được quyền hỏi, theo dõi các tù
nhân có bị đối xử trái quy định của pháp luật hay không. Hướng dẫn các tù nhân gửi
những yêu cầu TGPL thông qua các nhân viên làm việc tại nhà tù.
15
Nguyên tắc thực hiện TGPL theo quy định pháp luật nước Israel luôn đảm bảo
tính độc lập. Giữa công tố viên và LSC đều ở vị trí ngang bằng nhau không có sự
phân biệt cao thấp. LSC luôn tuân thủ trung thành với khách hàng của mình và đảm
bảo lợi ích cho thân chủ. Không né tránh mà phải chịu trách nhiệm với những công
việc mà mình đã thực hiện đối với khách hàng.8
Ở Israel LSC là công chức nhà nước được nhận lương từ ngân sách nhà nước
và chịu sự điều chỉnh nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp của người luật sư. (Ở Việt
Nam TGVPL đa số là viên chức chỉ có giám đốc trung tâm TGPL là công chức).
Theo đó, đối tượng được nhận sự TGPL của LSC bao gồm các đối tượng thiệt
thòi và dễ bị tổn thương như trẻ vị thành niên, người có khả năng bị phạt tù, người
khuyết tật, người có vấn đề về tâm thần, người có khó khăn về điều kiện tài chính.
Những đối tượng được TGPL này cũng được quy định tương tự tại Điều 7 Luật TGPL
năm 2017 của Việt Nam.
Người thực hiện TGPL ngoài LSC còn có luật sư tư. Luật sư tư ký hợp đồng
với Văn phòng LSC và được trả thù lao theo quy định pháp luật hiện hành. LSC chỉ
thực hiện một số vụ án nhất định còn lại là chỉ định và giám sát hoạt động TGPL của
luật sư tư. LSC và luật sư tư được trả lương theo tháng hoặc thù lao cho từng vụ án.
TGPL của TGVPL tại Việt Nam. Hoạt động TGPL theo sự điều chỉnh Luật TGPL
(có Cục TGPL trực thuộc Bộ Tư pháp).9
1.3.2. Luật sư công ở Argentina
Argentina chức năng TGPL thuộc hệ thống cơ quan tư pháp. Hoạt động TGPL
do các văn phòng LSC Liên bang và chịu sự điều chỉnh của Luật về văn phòng LSC
Liên bang năm 1988. LSC Liên bang được thay thế bởi Luật Tổ chức về Văn phòng
LSC Liên bang năm 2015. Đây là cơ quan thực hiện bào chữa và bảo vệ quyền con
người, đảm bảo việc tiếp cận pháp lý một cách có hiệu quả. Mục tiêu hoạt động TGPL
là bảo vệ và bào chữa cho những quyền cơ bản của con người đặc biệt là những người
yếu thế (Quy tắc này tương tự Luật TGPL tại Việt Nam – phục vụ cho người yếu thế).
Văn phòng LSC Liên bang là một cơ quan có trách nhiệm bảo vệ nhân quyền
cho những người dễ bị tổn thương trong lĩnh vực hình sự, dân sự và hành chính. Các
dịch vụ được cung cấp bởi văn phòng LSC là miễn phí cho những người đủ tiêu chuẩn
Theo Theo Phan Hà (2013)“Trợ giúp pháp lý ở Israel”, Nghiên cứu – Trao đổi, Trang thông tin
điện tử Trợ giúp pháp lý Việt Nam, tại truy cập ngày 5/6/2018.
9
17
theo luật và các quy định hiện hành. Văn phòng LSC đặt ra những mục tiêu và tiêu
chuẩn về mức thu nhập kinh tế hoặc sự yếu thế để cung cấp dịch vụ LSC ngoài những
vụ án bắt buộc phải tham gia. Ngoài ra, văn phòng LSC Liên bang thực hiện TGPL
về lĩnh vực nhà ở, y tế… cho người nghèo, người dễ bị tổn thương nhằm thúc đẩy
những biện pháp hỗ trợ chức năng bảo vệ quyền con người. Đứng đầu văn phòng
LSC Liên bang là Chủ tịch. Chủ tịch phải là người Argentina, tốt nghiệp luật sư và
có 8 năm kinh nghiệm, đáp ứng được những yêu cầu để trở thành thượng nghị sĩ quốc
gia và được bổ nhiệm dựa trên biểu quyết của 2/3 thành viên có mặt của Thượng viện
quốc gia. Ngoài ra, LSC Liên bang có thể thành lập những cơ quan cần thiết để thực
hiện hiệm vụ của mình. Văn phòng LSC Liên bang phát triển những Ủy ban hỗ trợ
công lý cho người dân. Các trung tâm này hình thức hoạt động tư vấn, cung cấp thông
tin pháp luật, đại diện ngoài tố tụng.10
Ngoài ra, cộng tác viên của các trung tâm này là cán bộ, ngành khác trong các
lĩnh vực được xã hội quan tâm được cơ quan đó trả lương và làm việc tại các trung
tâm này để giúp người dân tiếp cận pháp luật (Mô hình này giống Trung tâm TGPL
Nhà nước tại Việt Nam).
1.3.3. Luật sư công ở Canada
Trong 20 năm qua, Canada có nhiều tranh cải về 12 chương trình thực hiện
TGPL tại 10 bang, 02 vùng lãnh thổ. Một số nơi chỉ sử dụng LSC thực hiện TGPL
và một số khác chỉ sử dụng luật sư tư. Tuy mỗi nơi sử dụng mô hình luật sư thực hiện
TGPL khác nhau nhưng mục tiêu cuối cùng là muốn được giảm chi phí và có chất
lượng vụ việc để đối tượng được TGPL miễn phí thụ hưởng. Hoạt động TGPL tại
Canada đạt hiệu quả cao như giảm chi phí, thời gian, nguồn lực cho cơ quan nhà
nước.
1.3.3.1. Kinh phí cho luật sư công thực hiện trợ giúp pháp lý luôn tốn ít
Tranh luận về các mô hình TGPL tại Canada ban đầu bằng những so sánh hệ
thống TGPL sử dụng LSC và với sử dụng luật sư tư. Nghiên cứu mô hình TGPL ở
thị trấn Burnaby từ năm 1981 cho thấy chi phí trung bình một vụ án của luật sư tư là
235 USD trong khi đo nếu thuê luật sư tư là 264 USD.
Theo Trịnh Thị Thanh (2015) “Giới thiệu trợ giúp pháp lý Argentina”, Nghiên cứu – Trao đổi, Trang
thông tin điện tử Trợ giúp pháp lý Việt Nam, tại truy cập ngày 5/6/2018.
10
19
Để đánh giá hiệu quả hoạt động các mô hình thực hiện TGPL tại Canada bằng
cách so sánh quá trình hoạt động thực hiện TGPL giữa LSC và luật sư tư. Kết quả
chi phí trung bình cho một vụ án đối với LSC chỉ tốn 235USD còn trong khi đó luật