Thực tiễn giải quyết các tranh chấp về kinh doanh thương mại tại tòa án trên địa bàn tỉnh bến tre - Pdf 56

BỘ GIÁO DỤC VÀ ÐÀO TẠO
TRƯỜNG ÐẠI HỌC KINH TẾ TP. HCM

NGUYỄN THANH LAN

THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT CÁC TRANH CHẤP VỀ
KINH DOANH THƯƠNG MẠI TẠI TÒA ÁN TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH BẾN TRE

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Tp. Hồ Chí Minh – Năm 2018


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HCM

NGUYỄN THANH LAN

THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT CÁC TRANH CHẤP VỀ
KINH DOANH THƯƠNG MẠI TẠI TÒA ÁN TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH BẾN TRE
Chuyên ngành : Luật kinh tế
Mã số : 8380107

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
1. PGS.TS: Phạm Duy Nghĩa.

Tp Hồ Chí Minh, ngày 15 tháng 9 năm 2018

5. Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu ......................................................3
5.1 Mục đích nghiên cứu: ...................................................................................3
5.2 Đối tượng nghiên cứu :.................................................................................3
5.3 Phạm vi nghiên cứu: .....................................................................................3
6. Phương pháp nghiên cứu ....................................................................................4
7.Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài. ................................................4
8. Cơ cấu luận văn: .................................................................................................5
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRONG
KINH DOANH THƯƠNG MẠI. .............................................................................6
1.1. KHÁI QUÁT VỀ TRANH CHẤP TRONG KINH DOANH THƯƠNG
MẠI. ........................................................................................................................6
1.1.1. Khái niệm về hoạt động kinh doanh thương mại. ....................................6
1.1.2 Đặc điểm hoạt động kinh doanh thương mại: ...........................................7
1.1.2.1 Về chủ thể trong hoạt động kinh doanh thương mại. .........................7
1.1.2.2 Các hình thức của hoạt động thương mại. .........................................9
1.1.3 Tranh chấp trong kinh doanh thương mại. .............................................10
1.1.3.1 Khái niệm tranh chấp kinh doanh thương mại: ................................11
1.1.3.2 Đặc điểm pháp lý của tranh chấp kinh doanh thương mại. ..............15


1.1.4 Các phương thức giải quyết giải quyết tranh chấp trong kinh doanh
thương mại: ......................................................................................................17
1.1.4.1 Phương thức thương lượng: .............................................................17
1.1.4.2 Hình thức hòa giải: ...........................................................................19
1.1.4.3 Phương thức trọng tài. ......................................................................20
1.1.4.4. Hình thức tố tụng Tòa án. ..............................................................21
1.1.4.4.1 Thẩm quyền : ............................................................................24
1.1.4.4.2 Tranh chấp thương mại và điểm đặc trưng khác biệt so với
tranh chấp dân sự: ....................................................................................30
CHƯƠNG 2: THỰC TIỂN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT GIẢI QUYẾT TRANH


Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế

TAND

Tòa án nhân dân.

KDTM

Kinh doanh thương mại.

LTM

Luật thương mại


1

LỜI NÓI ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Trong những năm gần đây, dưới sự tác động của nền kinh tế hàng hóa nhiều
thành, vận hành theo cơ chế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa, mặt tích cực
của sự phát triển kinh tế là thúc đẩy sản xuất, nâng cao đời sống vật chất tuy nhiên
sự phát triển của nó cũng ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống xã hội, việc xảy ra
mâu thuẫn tranh chấp là điều khó tránh khỏi.Do đó, xây dựng một hệ thống pháp
luật hoàn chỉnh, đặc biệt là trong giai đoạn hội nhập kinh tế như hiện nay luôn là
một nhu cầu cấp bách mà nhà nước ta cần phải thực hiện. Sự phát triển không
ngừng của nền kinh tế dẫn đến các tranh chấp dân sự, tranh chấp trong hoạt động
kinh doanh thương mại ngày càng phát sinh nhiều vụ việc phức tạp và theo hướng
gia tăng về số lượng. Với bản chất là một quan hệ pháp luật dân sự, những tranh

Thứ hai: những vấn đề bất cập trong giải quyết án kinh doanh thương mại tại
Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.
Thứ ba: Từ những vướng mắc đã được đề cập người viết cần kiến nghị những
vấn đề gì?
4. Tình hình nghiên cứu
Dưới tác động của nền kinh tế hội nhập, các quan hệ kinh tế phát triển nhanh
chóng bên cạnh đó các tranh chấp cũng có chiều hướng tăng lên theo tỷ lệ thuận với
sự phát triển kinh tế xã hội. Thời gian gần đây khá nhiều bài viết : như giáo trình,
sách tham khảo, cHên khảo, bình luận khoa học..v.v. Các bài viết của các nhà
nghiên cứu, các cHên gia kinh tế từ nhiều khía cạnh khác nhau đã có những đánh
giá khác nhau những ý kiến khác nhau của thực tiễn áp dụng qui định pháp luật khi
giải quyết các tranh chấp trong kinh doanh thương mại trong và ngoài nước.Trên
thực tiễn và từ kinh nghiệm công tác, người viết tuy nghiên cứu về đề tài không mới
nhưng qua đặc điểm kinh tế của địa bàn tỉnh Bến Tre, người viết sẽ rút kết được
những điểm đặc thù riêng biệt trong cơ chế giải quyết tranh chấp kinh doanh thương
mại bằng tố tụng Tòa án, vì vậy, công trình nghiên cứu này không bị trùng lắp với
công trình nghiên cứu khác.


3

5. Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1 Mục đích nghiên cứu:
Qua hệ thống cơ sở lý luận, các quy định của pháp luật về giải quyết tranh
chấp kinh doanh thương mại thực áp dụng pháp luật hiện hành khi giải quyết tranh
chấp tại Toà án địa phương, luận văn hướng tới làm rõ những vấn đề sau:
Làm rõ các yếu tố ảnh ưởng đến quá trình giải quyết tranh chấp kinh doanh
thương mại bằng tòa án. Từ đó nêu lên những thực trạng hiệu quả giải quyết loại
tranh chấp này tại TAND cấp Hện trong tình hình hiện nay.
Phân tích, đánh giá những vướng mắc trong quá trình áp dụng quy định pháp

đây: Cơ sở lý luận của luận văn là quan điểm Mác – Lê nin và tư tưởng Hồ Chí
Minh về nhà nước và pháp luật, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước ta về
xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật tố tụng dân sự
nói riêng.
Luận văn được thực hiện trên cơ sở áp dụng phương pháp luận của chủ nghĩa
duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử và phương pháp phân tích để làm rõ
những quy định pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại toà án
cấp sơ thẩm. Bên cạnh đó người viết kết hợp sử dụng phương pháp so sánh, phân
tích, tổng hợp… để thực hiện những vấn đề thuộc về nội dung của luận văn.
7.Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài.
Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, các chủ thể không thể tránh
khỏi một số tranh chấp và những tranh chấp này sẽ ảnh hưởng đến quyền và lợi ích
của các bên. Khi các bên có tranh chấp trong kinh doanh do một bên vi phạm hợp
đồng thì việc giải quyết tranh chấp có ý nghĩa:
- Giúp hai bên giải tỏa những xung đột, mẫu thuẫn, tìm được tiếng nói chung
và lập lại sự cân bằng về lợi ích của các bên.
- Mục đích của việc giao kết hợp đồng là đảm bảo lợi ích giữa các chủ thể
kinh doanh, do vậy khi một bên bị vi phạm hợp đồng thì sẽ có những thiệt hại về
mặt lợi ích nhất định, do vậy giải quyết được tranh chấp thì sẽ đảm bảo quyền và lợi
ích của các bên, thiết lập được sự cân bằng trong kinh doanh và đảm bảo được thực
thi pháp luật.


5

- Lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp đúng sẽ giúp giải quyết nhanh
chóng, thuận tiện, ít chi phí và không mất thời gian nhằm tạo điều kiện tạo môi
trường kinh doanh lành mạnh trong khuôn khổ pháp luật.
- Việc giải quyết tranh chấp trong kinh doanh cũng là một kênh để kiểm chứng
các quy định của pháp luật hiện hành đưa vào thi hành trong thực tiễn có những bất

các bên tham gia sử dụng dịch vụ và bên cung ứng dịch vụ thực hiện các hoạt động
theo thỏa thuận.1 Các chủ thể tham gia trong hoạt động này mục đích tìm kiếm lợi
nhuận, diễn ra thường xuyên liên tục trên thị trường và mang tính nghề nghiệp.
- Có thể hiểu theo nghĩa bao quát hơn trong nội hàm của điều luật qui định về
những tranh chấp kinh doanh thương mại tại Điều 30, 31 BLTTDS 2015 là những
quan hệ pháp luật diễn ra trong hoạt động kinh doanh thương mại, các quan hệ
trong lĩnh vực này rất đa dạng: quan hệ sỡ hữu, quan hệ trao đổi hàng hóa và quan
hệ lao động... luật Dân sự đã khái quát hơn toàn bộ các hoạt động thương mại trong
nhiều lĩnh vực bao gồm mọi hoạt động trong mọi lĩnh vực của nền kinh tế, nhằm
mục đích sinh lợi đồng nghĩa với hoạt động kinh doanh. Hoạt động kinh doanh là
việc thực hiện liên tục một hoặc một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu
tư từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường, các hoạt
đồng đầu tư dưới hình thức trực tiếp hay gián tiếp nhằm mục đích lợi nhuận đều là
1

Điều 3 Luật thương mại.


7

hoạt động kinh doanh.Như vậy, cả hai hoạt động kinh doanh và thương mại nêu trên
có cùng nội hàm về việc các chủ thể kinh doanh cùng hoạt động đầu tư, kinh doanh,
cung ứng các dịch vụ…nhằm mục đích sinh lợi, do đó hai hoạt động này đã được
BLTTDS 2015 gọi chung là hoạt động kinh doanh, thương mại.
Tóm lại hoạt động kinh doanh thương mại là những hoạt động mà theo đó các
chủ thể tham gia vào các giao dịch với mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận và là những
hoạt động được điều chỉnh trong rất nhiều luật cHên ngành như : vận tải, ngân hàng,
xây dựng, nhà ở, kinh doanh bất động sản, luật kinh doanh bảo hiểm.v.v.
1.1.2 Đặc điểm hoạt động kinh doanh thương mại:
Để phân biệt hoạt động kinh doanh thương mại với các hoạt động khác trong

được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường
xuyên và có đăng ký kinh doanh. Thương nhân có quyền hoạt động thương mại
trong các ngành nghề, tại các địa bàn, dưới các hình thức và theo các phương thức
mà pháp luật không cấm”3 . Mặt khác, luật doanh nghiệp năm 2014 cũng qui định
khá rõ thương nhân có nghĩa bao hàm rộng hơn, đồng nghĩa với chủ thể kinh doanh
có nghĩa rộng hơn khái niệm doanh nghiệp theo đó luật doanh nghiệp qui định mọi
thương nhân đều là chủ thể kinh doanh và mọi doanh nghiệp đều là thương nhân vì
đều có đăng kí kinh doanh. Còn thương nhân thì chưa chắc đã là doanh nghiệp. Một
số thương nhân không phải là doanh nghiệp như hộ kinh doanh, hợp tác xã
- Các chủ thể kinh doanh phải được thành lập và đăng ký hợp pháp: theo đặc
điểm này chủ thể kinh doanh là các loại hình doanh nghiệp được cơ quan nhà nước
có thẩm quyền ra quyết định thành lập, cho phép thành lập hoặc hoặc công
nhận.Theo đó, các chủ thể kinh doanh được sự điều chỉnh của Luật doanh nghiệp
cùng với hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác và hợp tác xã. Đối với các chủ thể kinh
doanh là các doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài việc
thành lập phải tuân thủ những trình tự thủ tục được qui định trong các văn bản qui
phạm pháp luật tương ứng đang có hiệu lực. Đặc điểm đăng ký kinh doanh của các
chủ thể xác lập tư cách chủ thể pháp lý độc lập của các chủ thể kinh doanh, làm cơ
sở để nhà nước thừa nhận và bảo vệ trước pháp luật.
- Các chủ thể kinh doanh khi tham gia vào hoạt động kinh doanh trên thị
trường luôn có tính liên quan và hổ trợ nhau trong quá trình tái sản xuất xã hội, sự
hở trợ này thực chấp là cung cấp sản phẩm cho xã hội thể hiện nhu cầu về tiền vốn,
về sức lao động sản xuất, có thể thấy hoạt động kinh doanh của chủ thể kinh doanh
này có thể ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của chủ thể khác, mặt khác, các
3

Điều 3 luật thương mại năm 2005


9

5

Điều 3 luật thương mại năm 2005
Điều 3 Luật thương mại 2005


10

trình đầu tư sản xuất hàng hóa, cung ứng dịch vụ như tiêu chuẩn, chất lượng sản
phẩm, hàng hóa, quyền sở hữu trí tuệ.
1.1.3 Tranh chấp trong kinh doanh thương mại.
Quan hệ giữa người với người trong xã hội tự nó luôn tiềm ẩn những bất đồng
mâu thuẫn xung đột, bởi thế tranh chấp là một hiện tượng phổ biến có tính khách
quan,kinh doanh thương mại cũng là một trong những quan hệ xã hội nên các mối
quan hệ trong kinh doanh luôn tồn tại các dạng xung đột là hiện tượng không ngoại
lệ.
Nền kinh tế thị trường với xu hướng hội nhập quốc tế với sự tác động khắc
nghiệt của các qui luật cạnh tranh, qui luật về giá trị cùng với sự khác biệt về văn
hóa trình độ hiểu biết của các chủ thể kinh doanh đặc điểm này hình thành nên các
xung đột mâu thuẫn ngày càng đa dạng và tính chất ngày càng phức tạp tác động
không nhỏ đến các chủ thể trong kinh doanh thương mại. Một nhu cầu pháp lý thiết
yếu đặt ra là phải có một cơ chế giải quyết tranh chấp, giải quyết xung đột trong
kinh doanh thương mại.
Theo luật thương mại 2005, hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục
đích sinh lời, mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và
các hoạt động nhằm mục đích sinh lời khác. Các tranh chấp phát sinh trong hoạt
động thương mại, chủ yếu là hoạt động của thương nhân được gọi là tranh chấp
thương mại.Hiểu một cách khái quát thì tranh chấp thương mại là những mâu thuẫn
hay bất đồng về quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong quá trình thực hiện các hoạt
động thương mại.

các hành vi thương mại khác theo quy định của pháp luật.6
Khái niệm tranh chấp kinh doanh có thể hiểu là những mâu thuẫn, bất đồng
giữa các chủ thể phát sinh trong việc thực hiện các hoạt động có liên quan đến lĩnh
vực kinh doanh, đầu tư và thương mại. Và có thể định nghĩa một cách ngắn gọn đối
với tranh chấp kinh doanh thương mại như sau: “Tranh chấp kinh doanh thương mại
là những mâu thuẫn, bất đồng hay xung đột về quyền lợi và nghĩa vụ giữa các chủ

6

Tranh chấp KDTM và thẩm quyền giải quyết KDTM -Th.s Th.S Hoàng Minh chiến - tạp chí dân
chủ và pháp luật, ngày 13.10.2018


12

thể tham gia các quá trình của hoạt động kinh doanh thương mại”. Tranh chấp trong
kinh doanh hay tranh chấp thương mại là thuật ngữ quen thuộc trong đời sống kinh
tế xã hội ở các nước trên thế giới. Khái niệm này mới được sử dụng rộng rãi và phổ
biến ở nước ta trong mấy năm gần đây cùng với sự nhường bước của khái niệm
tranh chấp kinh tế - một khái niệm quen thuộc trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung
quan liêu, bao cấp đã ăn sâu trong tiềm thức và tư duy pháp lý của người Việt
Nam.Có thể nhận thấy rằng, khái niệm tranh chấp kinh doanh thương mại thực chất
là những mâu thuẫn phát sinh từ việc các chủ thể kinh doanh có sự bất đồng đến
mức trái ngược nhau trong hoạt động kinh doanh, đầu tư, cung ứng dịch vụ...gọi
chung là trong hoạt động kinh doanh thuong mại. Cách định nghĩa này mặc dù còn
nhiều hạn chế song cũng đã chỉ được bản chất của tranh chấp kinh doanh thương
mại là mâu thuẫn, xung đột về những lợi ích phát sinh khi tham gia các hoạt động
kinh doanh thương mại. Tuy nhiên, phạm vi giữa mâu thuẫn, xung đột và tranh chấp
là khác nhau, chỉ khi nào mâu thuẫn và xung đột lớn, đến mức không thể điều hòa
thì tranh chấp mới xảy ra.Ngoài các định nghĩa trên về tranh chấp kinh doanh

mại đã tạo ra sự không tương thích giữa nội hàm của khái niệm với hàm ý được tiếp
cận cả một khoản thời gian trong hệ thống pháp luật nước ta.
Luật Thương mại năm 2005 đưa ra khái niệm khá đơn giản về hoạt động
thương mại nhưng cũng khắc họa đủ nội hàm của khái niệm. Theo khoản 1 Điều 3
Luật này, hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua
bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động
nhằm mục đích sinh lợi khác. Cũng theo khái niệm này, quan niệm về hoạt động
thương mại cũng đã được mở rộng, bao gồm mọi hoạt động có mục đích sinh lợi.
Hướng tiếp cận này của Luật Thương mại năm 2005 cho thấy, khái niệm về hoạt
động thương mại đã được mở rộng tương đồng với khái niệm kinh doanh trong Luật
Doanh nghiệp năm 1999, Luật Doanh nghiệp năm 2005 và nay là Luật Doanh
nghiệp năm 2014.Theo khoản 6 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2014, kinh doanh là
việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư,
từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục
đích sinh lợi. Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 cũng đã liệt kê các tranh chấp về
kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Theo Điều 30,31
của BLTTDS năm 2015 , tranh chấp về kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền
giải quyết của Tòa án, gồm có:


14

Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ
chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận, bao gồm: (i)
Mua bán hàng hóa; (ii) Cung ứng dịch vụ; (iii) Phân phối; (iv) Đại diện, đại lí; (v)
Ký gửi; (vi) Thuê, cho thuê, thuê mua; (vii) Xây dựng; (viii) Tư vấn, kỹ thuật; (ix)
Vận cHển hàng hóa, hành khách bằng đường sắt, đường bộ, đường thủy nội địa; (x)
Vận cHển hàng hóa, hành khách bằng đường hàng không, đường biển; (xi) Mua bán
cổ phiếu, trái phiếu và giấy tờ có giá khác; (xii) Đầu tư, tài chính, ngân hàng; (xiii)
Bảo hiểm; (xiv) Thăm dò, khai thác.8

luật của Việt Nam hiện hành cũng khá nhất quán.
Với quy định này, khái niệm thương mại theo pháp luật Việt Nam đã được mở
rộng, phù hợp với khái niệm thương mại trong Luật mẫu của Liên Hợp Quốc về
trọng tài (UNCITRAL Model Law), Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ và
WTO.

Vấn đề này vừa có ý nghĩa trong việc bảo đảm sự bình đẳng giữa các

chủ thể hoạt động thương mại tham gia vào việc giải quyết tranh chấp, vừa mở rộng
khả năng được công nhận và thi hành tại Việt Nam các phán quyết của trọng tài
nước ngoài. Sự đột phá của Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2010 trong việc
đưa khái niệm “hoạt động thương mại” Tiếp cận với chuẩn mực chung của thông lệ
và pháp luật quốc tế đã mở màn cho việc xem xét tiếp theo của các văn bản pháp
luật khi đề cập đến lĩnh vực thương mại (hay kinh doanh) - một lĩnh vực đầy sôi
động và phức tạp trong thực tiễn.
Từ nội dung xem xét nêu trên, có thể hiểu: “Tranh chấp trong kinh doanh (hay
tranh chấp thương mại) là những mâu thuẫn (bất đồng hay xung đột) về quyền và
nghĩa vụ giữa các bên trong quá trình thực hiện các hoạt động kinh doanh hoặc có
liên quan đến hoạt động kinh doanh”.
Tranh chấp trong kinh doanh thương mại phải hội đủ các yếu tố sau đây:
- Là những mâu thuẫn (bất đồng) về quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong mối
quan hệ cụ thể;
- Những mâu thuẫn (bất đồng) đó phải phát sinh từ hoạt động kinh doanh hoặc
có liên quan đến hoạt động kinh doanh;
- Những mâu thuẫn (bất đồng) đó phát sinh chủ yếu giữa các thương nhân (cá
nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh hay đăng ký doanh nghiệp)
1.1.3.2 Đặc điểm pháp lý của tranh chấp kinh doanh thương mại.
Từ những phân tích về cách hiểu của nội hàm tranh chấp KDTM như trên có
thể cho thấy tranh chấp KDTM là các tranh chấp bao gồm các đặc điểm pháp lý sau:




17

- Một đặc điểm khác trong tranh chấp kinh doanh thương mại là những tranh
chấp mang yếu tố vật chất và có giá trị kinh tế liên quan đến lợi ích của các chủ thể
trong hoạt động kinh doanh.
1.1.4 Các phương thức giải quyết giải quyết tranh chấp trong kinh doanh thương
mại:
Sự tương tác trong giao dịch của các chủ thể tham gia hoạt động thương mại
tuy mâu thuẫn, xung đột lợi ích là điều các bên không mong muốn nhưng việc xảy
ra tranh chấp là đều không thể trách khỏi giữa các bên. Vấn đề đặt ra là các bên phải
giải quyết các tranh chấp này như thế nào? Xuất phát từ bản chất và mục đích đạt
được là lợi nhuận, điều này buộc các chủ thể phải tìm ra giải biện pháp giải quyết
tranh chấp với kết quả các bên đạt được là quyền lợi tốt nhất, ví dụ như sau khi giải
quyết xong tranh chấp các bên vẫn giữ được mối quan hệ trong các lần giao dịch
tiếp theo, sự tổn thất về lợi ích vật chất và tốn kém về thời gian là thấp nhất, bí mật
kinh doanh, uy tín trên thương trường v.v...Do đó, việc chọn lựa một phương thức
phù hợp khi giải quyết tranh chấp là vô cùng quan trọng trong giải quyết tranh chấp
kinh doanh thương mại.Cũng như các quan hệ dân sự khác dựa trên nguyên tắc cơ
bản và chủ lực của Bộ luật Dân sự, nguyên tắc tự thỏa thuận, tự định đoạt, các chủ
thể trong quan hệ kinh doanh thương mại tự chọn lựa các phương thức giải quyết
tranh chấp.Trong giải quyết các tranh chấp kinh doanh thương mại có thể có các
phương thức giải quyết tranh chấp sau: phương thức thương lượng, phương thức
hòa giải, phương thức trọng tài và tố tụng Tòa án.
1.1.4.1 Phương thức thương lượng:
Thương lượng là phương thức giải quyết tranh chấp thông qua việc các bên
tranh chấp chủ động gặp gỡ nhau, bàn bạc, tự dàn xếp thỏa thuận về quyền lợi cũng
như nghĩa vụ của mỗi bên để loại bỏ những tranh chấp mà không cần sự trợ giúp
hay phán quyết của bất kỳ bên thứ ba nào.Pháp luật về giải quyết tranh chấp không

cách trì hoãn quá trình thương lượng nhằm kéo dài vụ tranh chấp, nhất là đối với
những giao kết mà luật có qui định về thời hiệu khởi.
Tóm lại, phương thức thương lượng tuy được các chủ thể kinh doanh ưu tiên
lựa chọn giải quyết khi các bên phát sinh tranh chấp nhưng phương thức này vẫn có
những nhược điểm tồn tại nhất định.


19

1.1.4.2 Hình thức hòa giải:
Là việc các bên tiến hành thương lượng giải quyết tranh chấp với sự hỗ trợ của
bên thứ ba là hòa giải viên. Phương thức hòa giải là một phương thức giải quyết
tranh chấp không chịu sự điều chỉnh của pháp luật, được thực hiện hoàn toàn dựa
trên thiện chí của các bên.
Theo giải thích tại Điều 3 Nghị định 22/2017/NĐ - CP ngày 24/2/2017:
. " 1.Hòa giải thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp thương mại do
các bên thỏa thuậnvà được hòa giải viên thương mại làm trung gian hòa giải hỗ trợ
giải quyết tranh chấp theo quy định của Nghị định này.
2. Thỏa thuận hòa giải là thỏa thuận giữa các bên về việc giải quyết tranh
chấp có thể phát sinh hoặc đã phát sinh bằng phương thức hòa giải"9
So với việc thương lượng giữa các bên trong tranh chấp, khi tiến hành hòa
giải, các bên được thỏa thuận lựa chọn ra một bên trung gian, độc lập, có kiến thức,
kinh nghiệm và kỹ năng giải quyết tranh chấp để đưa ra các lời kHên về quyền lợi
và nghĩa vụ của các bên. Ý kiến của hòa giải viên chỉ có tính chất tham khảo. Kết
quả của phiên hòa giải là sự thỏa thuận của các bên, không phải của hòa giải viên.
* Ưu điểm: có ba ưu điểm trong phương thức hòa giải. Phương thức hòa giải
cũng được các bên ưu tiên lựa chọn vì thủ tục nhanh gọn, linh hoạt, chi phí thấp và
tiết kiệm được thời gian; các bên có quyền định đoạt, không làm ảnh hưởng đến
mối quan hệ hợp tác giữa các bên, uy tín, bí mật kinh doanh được giữ kín và biết
trước được kết quả hòa giải; phương thức hòa giải mang đầy đủ các ưu điểm của


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status