Cơ sở lý luận và thực tiễn giải quyết các tranh chấp về tín dụng chứng từ trong thanh toán ngoại thương tại Việt Nam - Pdf 25



2
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của
riêng tôi. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin
cậy, chính xác và trung thực./. NGƢỜI VIẾT

Văn Khắc Hùng


(COST AND FREIGHT)
DOCDEX
Documentary Credit Dispute Resolution Expertise
EOE
ERROR OMISSION EXCEPTED
FOB
Giao lên tàu (Free On Board)
HSBC
NGÂN HÀNG HỒNG KÔNG THƢỢNG HẢI
ICC
Phòng Thƣơng mại Quốc tế
ISP
CÁC THỰC HÀNH VỀ THƢ TÍN DỤNG DỰ PHÒNG
QUỐC TẾ
KEB
Ngân hàng Korean Exchange Bank
L/C
TÍN DỤNG CHỨNG TỪ, THƢ TÍN DỤNG
SCB
Ngân hàng Standar Chartered Bank
SWIFT
SOCIETY FOR WORLDWIDE INTERBANK FINANCIAL
TELECOMMUNICATION
UCP
Quy tắc và thực hành thống nhất về Tín dụng chứng từ
VIP
NGÂN HÀNG TMCP CÁC DOANH NGHIỆP NGOÀI
QUỐC DOANH
VCB, NHNT
Ngân hàng Ngoại thƣơng Việt Nam

CHẤP ĐỐI VỚI TÍN DỤNG CHỨNG TỪ TRONG THANH TOÁN
NGOẠI THƢƠNG
11
1.1. Khái quát về Tín dụng chứng từ
11
1.1.1. Lịch sử hình thành
11
1.1.2. Định nghĩa Tín dụng chứng từ
12
1.1.3. Đặc trƣng của Tín dụng chứng từ
14
1.1.4. Chủ thể của quan hệ Tín dụng chứng từ
18
1.2. Một số loại Tín dụng chứng từ cơ bản
21
1.2.1. Thƣ tín dụng có thể hủy ngang
21
1.2.2. Thƣ tín dụng không thể hủy ngang
22
1.2.3. Thƣ tín dụng không thể hủy ngang có xác nhận
23
1.2.4. Thƣ tín dụng không thể hủy ngang, miễn truy đòi
23
1.2.5. Thƣ tín dụng tuần hoàn
23
1.2.6. Thƣ tín dụng chuyển nhƣợng
24
1.2.7. Thƣ tín dụng giáp lƣng
25
1.2.8. Thƣ tín dụng dự phòng

43
2.1.1. Tranh chấp liên quan đến vận đơn đƣờng biển
43
2.1.2. Tranh chấp liên quan đến vận đơn hàng không
47
2.1.3. Tranh chấp liên quan đến hóa đơn thƣơng mại
50
2.1.4. Tranh chấp liên quan đến chứng từ bảo hiểm
53
2.1.5. Tranh chấp xung quanh việc hiểu thế nào là bản gốc của chứng
từ
55
2.1.6. Tranh chấp liên quan đến các điều kiện phi chứng từ của L/C
60
2.2. Các tranh chấp liên quan đến nghĩa vụ của ngân hàng
63
2.2.1. Tranh chấp liên quan đến nghĩa vụ thanh toán của ngân hàng
phát hành
63
2.2.2. Tranh chấp liên quan đến vấn đề miễn trách về chuyển giao
thƣ từ
66
2.3. Một số vụ tranh chấp khác
69
2.3.1. Tranh chấp liên quan đến tính độc lập của L/C
69
2.3.2. Tranh chấp liên quan đến gian lận và lừa đảo
73
2.3.3. Tranh chấp về sự không phù hợp của chứng từ
75

7
LỜI NÓI ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, không một quốc gia nào trên thế giới phát triển mà thiếu các
hoạt động giao lƣu kinh tế quốc dân. Xuất nhập khẩu trở thành chiếc cầu nối
quan trọng để một nƣớc tham gia vào đời sống kinh tế thế giới. Với tƣ cách là
chất xúc tác cho phát triển thƣơng mại quốc tế, hoạt động thanh toán quốc tế đã
không ngừng đổi mới và hoàn thiện với những phƣơng thức thanh toán an toàn
và hiệu quả cho các bên tham gia, trong đó đƣợc sử dụng nhiều nhất hiện nay là
phƣơng thức thanh toán bằng tín dụng chứng từ.
Tín dụng chứng từ hiện nay đƣợc sử dụng trên toàn thế giới nhƣ một

cùng với việc mở cửa nền kinh tế, hoạt động xuất nhập khẩu đã thực sự bùng nổ
kéo theo sự phát triển mạnh mẽ của công tác thanh toán quốc tế tại các ngân
hàng thƣơng mại. Do vậy, hoạt động mua bán ngoại thƣơng cũng nhƣ công tác
thanh toán quốc tế là một nhu cầu tất yếu của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu
và Ngân hàng thƣơng mại. Tuy nhiên trong thanh toán ngoại thƣơng, Việt Nam
vẫn thƣờng gặp phải những khó khăn. Hiện nay, Việt Nam cũng đã có những
văn bản pháp lý điều chỉnh hoạt động thanh toán ngoại thƣơng nhƣ Bộ luật Dân
sự 2005, Luật Thƣơng mại năm 2005, Luật các Tổ chức Tín dụng, Pháp lệnh
Ngoại hối 2005… Tuy nhiên các văn bản pháp luật của ta vẫn còn chung chung,
chƣa quy định cụ thể dẫn đến việc áp dụng UCP để giải quyết các tranh chấp về
tín dụng chứng từ trong thanh toán ngoại thƣơng gặp nhiều khó khăn. Chính vì
vậy cần phải có Đề tài nghiên cứu một cách tổng hợp, toàn diện và có hệ thống
về vấn đề này nhằm hoàn thiện nó, đó là một nhu cầu cấp thiết trong giai đoạn
hiện nay.
Một vấn đề mà các doanh nghiệp xuất nhập khẩu cũng nhƣ các ngân hàng
thƣơng mại Việt Nam hiện nay đều quan tâm là làm thế nào để vận dụng UCP
một cách hiệu quả để giải quyết các tranh chấp xảy ra có liên quan đến tín dụng
chứng từ. Do vậy, việc đầu tƣ nghiên cứu Đề tài: “ Cơ sở lý luận và thực tiễn
giải quyết các tranh chấp về tín dụng chứng từ trong thanh toán ngoại thƣơng
tại Việt Nam” sẽ cung cấp hệ thống luận cứ pháp lý thúc đẩy thực tiễn hoạt 9
động giao lƣu kinh tế giữa Việt Nam với các quốc gia, đảm bảo quyền và lợi
ích của các bên tham gia quan hệ xuất nhập khẩu là điều mà thực tiễn luôn đòi
hỏi.
2. Mục đích của việc nghiên cứu đề tài
Việc nghiên cứu đề tài sẽ góp phần giải quyết những vƣớng mắc trong
tranh chấp về tín dụng chứng từ trong thanh toán ngoại thƣơng của các doanh
nghiệp xuất nhập khẩu và các ngân hàng thƣơng mại ở Việt Nam. Tìm ra những

tranh chấp thƣờng xảy ra trong lĩnh vực tín dụng chứng từ trong thanh toán
ngoại thƣơng tại các ngân hàng, các doanh nghiệp xuất nhập khẩu ở Việt Nam,
kèm theo việc đƣa ra một số ví dụ cụ thể về các tranh chấp trong từng trƣờng
hợp, từ đó đƣa ra đƣợc thực trạng của các ngân hàng thƣơng mại, các doanh
nghiệp xuất nhập khẩu tại Việt Nam trong việc áp dụng UCP giải quyết các
tranh chấp về tín dụng chứng từ trong thanh toán ngoại thƣơng.
- Phần cuối của Đề tài đƣa ra các kiến nghị, giải pháp đối với Nhà nƣớc,
với các Doanh nghiệp xuất nhập khẩu, các Ngân hàng thƣơng mại trong việc
thực hiện UCP để giải quyết các tranh chấp về tín dụng chứng từ trong thanh
toán ngoại thƣơng, qua đó thúc đẩy hoạt động thanh toán tín dụng chứng từ của
các doanh nghiệp xuất nhập khẩu thông qua các ngân hàng thƣơng mại
6. Kết cấu của Đề tài
Đề tài đƣợc kết cấu gồm 3 chƣơng:
Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận về giải quyết tranh chấp đối với Tín
dụng chứng từ trong thanh toán ngoại thƣơng.
Chƣơng 2: Thực tiễn giải quyết các tranh chấp về tín dụng chứng từ trong
thanh toán ngoại thƣơng tại Việt Nam
Chƣơng 3: Thực trạng và Một số kiến nghị, giải pháp trong việc giải
quyết các tranh chấp về tín dụng chứng từ trong thanh toán ngoại thƣơng tại
Việt Nam

11
CHƢƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐỐI VỚI

thƣ, Thƣ tín dụng, L/C và thông dụng nhất là từ “Tín dụng chứng từ”
(Document Letter of Credit) vì nó thể hiện đúng nhất ý nghĩa tín dụng kèm
chứng từ.
1.1.2. Định nghĩa Tín dụng chứng từ
Điều 2 của Quy tắc và thực hành thống nhất về Tín dụng chứng từ, ấn
phẩm số 500 của Phòng thƣơng mại quốc tế (gọi tắt là UCP 500) đƣa ra định
nghĩa về tín dụng chứng từ và đã đƣợc quốc tế công nhận nhƣ sau:
"Nhằm phục vụ mục đích các điều khoản này, những thuật ngữ "Tín dụng
chứng từ" và "Thƣ tín dụng dự phòng" (dƣới đây gọi là Tín dụng) có nghĩa là
một sự thoả thuận nào, dù cho đƣợc gọi hoặc mô tả nhƣ thế nào, mà theo đó
một Ngân hàng (Ngân hàng phát hành) hành động theo yêu cầu và theo chỉ thị
của một khách hàng (Ngƣời yêu cầu phát hành tín dụng) hoặc nhân danh chính
mình.
i. phải tiến hành việc trả tiền theo lệnh của một ngƣời thứ ba (Ngƣời
hƣởng lợi) hoặc phải chấp nhận và trả tiền các hối phiếu do Ngƣời hƣởng lợi ký
phát, hoặc
ii. uỷ quyền cho một ngân hàng khác tiến hành thanh toán nhƣ thế hoặc
chấp nhận và trả tiền các hối phiếu nhƣ thế, hoặc
iii. uỷ quyền cho một ngân hàng khác chiết khấu khi (các) chứng từ quy
định đƣợc xuất trình với điều kiện là các điều kiện của Tín dụng đƣợc thực hiện
đúng " 13
Theo Điều 2 Quy tắc và Thực hành thống nhất về Tín dụng chứng từ, ấn
phẩm số 600 (gọi tắt là UCP 600) đã định nghĩa về Tín dụng chứng từ nhƣ sau:
“Thƣ tín dụng là bất cứ sự thỏa thuận nào, dù đƣợc gọi hoặc mô tả thế nào mà
theo đó không thể hủy ngang và trở thành một cam kết của ngân hàng phát hành
thƣ tín dụng về việc thanh toán khi chứng từ xuất trình hợp lệ”.
Định nghĩa trên có thể đƣợc hiểu một cách đơn giản nhƣ sau. Về bản

Loại thƣ tín dụng thứ hai này đƣợc lập trên cơ sở một tín dụng chứng từ
mà ngân hàng cấp cho khách hàng của mình, tức là ngƣời nhập khẩu. Ngân
hàng gửi thẳng thƣ tín dụng đó cho ngƣời xuất khẩu để cho ngƣời xuất khẩu
biết là theo yêu cầu của ngƣời nhập khẩu, ngân hàng đã mở một thƣ tín dụng
cho ngƣời xuất khẩu hƣởng, và cam kết trả tiền cho ngƣời xuất khẩu khi ngƣời
xuất khẩu làm đúng các điều quy định trong thƣ tín dụng. Nhƣ vậy, tín dụng
chứng từ là loại tín dụng do ngân hàng mở cho ngƣời nhập khẩu, đƣợc đảm bảo
bằng các chứng từ gửi hàng mà ngƣời nhập khẩu dùng để tiến hành thanh toán
tiền hàng cho ngƣời xuất khẩu. Còn thƣ tín dụng là văn bản thể hiện loại tín
dụng đó và là sự cam kết trực tiếp của ngân hàng với ngƣời xuất khẩu.
Nhƣ vậy, thƣ tín dụng là một công cụ quan trọng của phƣơng thức tín
dụng chứng từ. Đó là một chứng thƣ (điện hoặc ấn chỉ), trong đó ngân hàng mở
thƣ tín dụng cam kết trả tiền cho ngƣời xuất khẩu nếu họ xuất trình đƣợc các
chứng từ phù hợp với yêu cầu của thƣ tín dụng.
Một điểm cần lƣu ý nữa là chữ "tín dụng" dùng ở đây phải đƣợc hiểu theo
nghĩa rộng, nghĩa tín nhiệm, chứ không chỉ là khoản tiền cho vay trong nghĩa
thông thƣờng của từ này. Bởi vì trong trƣờng hợp ngân hàng đòi hỏi ngƣời nhập
khẩu phải ký quỹ 100% số tiền của thƣ tín dụng thì thực chất ngân hàng không
cấp một khoản tín dụng nào cả mà là cho ngƣời nhập khẩu vay sự tín nhiệm của
mình. Lời hứa trả tiền của ngân hàng sẽ đƣợc tin tƣởng hơn lời hứa trả tiền của
ngƣời nhập khẩu vì ngân hàng có tín nhiệm hơn ngƣời nhập khẩu.
1.1.3. Đặc trưng của Tín dụng chứng từ
Thƣ tín dụng là cơ sở pháp lý chính của việc thanh toán, nó ràng buộc tất
cả các bên tham gia vào phƣơng thức tín dụng chứng từ. Thƣ tín dụng ra đời 15
luôn dựa trên cơ sở hợp đồng thƣơng mại đƣợc ký kết giữa Ngƣời mua và
Ngƣời bán trong đó quy định những điều kiện mua bán, khối lƣợng, số lƣợng
và thể thức thanh toán. Việc áp dụng phƣơng thức thanh toán bằng thƣ tín dụng

đồng trƣớc khi giao. Nhƣ vậy ngân hàng mở L/C chỉ căn cứ vào đơn xin mở
L/C của Ngƣời mua gửi đến để lập một cam kết trả tiền đối với Ngƣời bán
chứ không căn cứ vào hợp đồng mua bán. Sau khi Ngƣời bán giao hàng nếu
xuất trình chứng từ thanh toán phù hợp với nội dung thƣ tín dụng sẽ đƣợc
ngân hàng mở thƣ tín dụng trả tiền, còn bộ chứng từ ấy có phù hợp với hợp
đồng hay không ngân hàng không chịu trách nhiệm. Nếu bộ chứng từ có sai
sót, Ngƣời mua và ngân hàng mở thƣ tín dụng từ chối trả tiền cho Ngƣời bán
chỉ căn cứ vào thƣ tín dụng không căn cứ vào hợp đồng.
Tính độc lập này cũng thể hiện nghĩa vụ của ngân hàng không thay
đổi, nếu sửa đổi hợp đồng mà không sửa đổi thƣ tín dụng thì ngân hàng vẫn
chỉ dựa vào thƣ tín dụng để thực hiện nghĩa vụ thanh toán của mình mà
không cần biết đến hợp đồng đã thay đổi đó; hay ngƣợc lại khi tín dụng đã
đƣợc sửa đổi mà không sửa đổi hợp đồng thì đến khi xuất trình chứng từ
thanh toán tuy phù hợp với hợp đồng nhƣng trái với thƣ tín dụng, ngân hàng
mở vẫn có quyền từ chối thanh toán. Sau cùng tính độc lập của thƣ tín dụng
không huỷ bỏ trách nhiệm của ngân hàng mở khi hợp đồng đã huỷ bỏ nhƣng
thƣ tín dụng vẫn còn hiệu lực.
Hai là, trong các nghiệp vụ tín dụng, tất cả các bên liên quan chỉ giao
dịch căn cứ vào chứng từ không căn cứ vào hàng hoá. Bởi vì các bên chỉ
mua bán theo chứng từ về quyền sở hữu hàng hoá chứ không mua bán hàng
hoá bằng hiện vật nên bộ chứng từ hàng hoá là căn cứ duy nhất để quyết định
các giao dịch có đƣợc thực hiện hay không. Chính bộ chứng từ này mới tạo
nên cơ sở nền tảng của tín dụng thƣ kèm chứng từ, qua đó ngƣời bán mới có
thể đòi tiền ngân hàng mở thƣ tín dụng, ngân hàng mở L/C sẽ đồng ý trả tiền
hay từ chối thanh toán cho ngƣời bán, đồng thời cũng là căn cứ duy nhất để
ngƣời mua hoàn trả hay từ chối trả tiền cho ngân hàng mở thƣ tín dụng. Nếu
ngƣời xuất khẩu xuất trình đƣợc các chứng từ thể hiện trên bề mặt của chúng là
phù hợp với các quy định của thƣ tín dụng thì sẽ đƣợc ngân hàng trả tiền. Ngân 18
rằng ngân hàng không nên bắt lỗi các khác biệt thông thƣờng, không nghiêm
trọng (immaterial dicrepancies), và nguyên tắc tuân thủ chặt chẽ không có nghĩa
là phải tìm ra các lỗi chính tả do in ấn, hay các lỗi do kỹ thuật trong chứng từ.
Vì vậy, ngân hàng có thể hỏi ý kiến của ngƣời xin mở thƣ tín dụng về những
khác biệt đƣợc tìm thấy trên chứng từ. Nếu ngƣời xin mở thƣ tín dụng đồng ý
bỏ qua thì ngân hàng mới thanh toán, nếu không thì từ chối bộ chứng từ và
không thanh toán. Tuy nhiên, cách an toàn nhất cho các ngân hàng vẫn là tiến
hành tuyệt đối nguyên tắc tuân thủ chặt chẽ. Bất kì sự đi trệch khỏi nguyên tắc
này, cho dù là đƣợc phép đi nữa đều có thể mang lại rủi ro cho ngân hàng và có
thể dẫn đến các vụ kiện tụng tốn nhiều thời gian và tiền bạc.
Các đặc trƣng trên đã đem lại cho phƣơng thức tín dụng chứng từ những
ƣu điểm riêng biệt mà các phƣơng thức thanh toán khác không thể nào có đƣợc
và trở thành phƣơng thức thanh toán đƣợc sử dụng phổ biến và rộng rãi nhất
hiện nay. Nhƣng cái gì cũng có mặt trái của nó. Phƣơng thức tín dụng chứng từ
cũng vậy, nó cũng có những nhƣợc điểm nhất định. Tuy nhiên, đây vẫn là một
phƣơng thức thanh toán quốc tế đƣợc sử dụng rộng rãi nhất trên thế giới nói
chung và ở Việt Nam nói riêng. Chính vì thế, yêu cầu đối với các doanh nghiệp
xuất nhập khẩu Việt Nam phải hiểu đƣợc những quy định liên quan đến hoạt
động thanh toán bằng tín dụng chứng từ càng trở nên cấp thiết. Hiện nay, điều
chỉnh hoạt động thanh toán tín dụng chứng từ, có một văn bản mang tính chất
pháp lý quốc tế do Phòng Thƣơng mại Quốc tế ban hành. Đó là "Các quy tắc và
thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ" ấn phẩm số 500. Phần tiếp theo của
chƣơng này sẽ đƣợc dành để nghiên cứu về văn bản trên.
1.1.4. Chủ thể của quan hệ Tín dụng chứng từ:
Trong phƣơng thức tín dụng chứng từ, có 4 bên tham gia chính sau:
- Ngƣời xin mở thƣ tín dụng (Applicant): là ngƣời mua, ngƣời nhập khẩu
hàng hoá hoặc là ngƣời mua uỷ thác cho một ngƣời khác.

ngƣời xuất khẩu. Theo hợp đồng này, ngƣời nhập khẩu phải mở thƣ tín dụng 20
đúng thời hạn và phù hợp với nội dung của hợp đồng mua bán cho ngƣời xuất
khẩu hƣởng, còn ngƣời xuất khẩu có nghĩa vụ giao hàng theo đúng hợp đồng và
lập bộ chứng từ xuất trình cho ngân hàng để thanh toán.
Thoả thuận xin mở thƣ tín dụng và hoàn trả giữa ngƣời xin mở thƣ tín
dụng (ngƣời xuất khẩu) và ngân hàng phát hành: đây là một hợp đồng kinh tế
dịch vụ. Ngƣời xuất khẩu phải làm đơn yêu cầu mở thƣ tín dụng, trả một khoản
lệ phí mở thƣ tín dụng và ký quỹ một số tiền nhất định tuỳ theo quy định của
ngân hàng. Trong đơn xin mở thƣ tín dụng, phải ghi rõ nội dung cụ thể của thƣ
tín dụng. Ngân hàng căn cứ vào đó mở thƣ tín dụng cho ngƣời xuất khẩu hƣởng
và chịu trách nhiệm kiểm tra các chứng từ do ngƣời xuất khẩu trình. Nếu chứng
từ hoàn toàn phù hợp với nội dung điều kiện của thƣ tín dụng thì ngân hàng sẽ
nhận chứng từ và thanh toán tiền hàng cho ngƣời xuất khẩu, sau đó ngân hàng
thu lại tiền của ngƣời nhập khẩu và giao chứng từ cho ngƣời nhập khẩu đi lấy
hàng.
Bản thân thƣ tín dụng: là một hợp đồng dịch vụ trong đó ngân hàng
cam kết trả tiền cho ngƣời hƣởng lợi nếu ngƣời này thực hiện đúng những quy
định đề ra trong thƣ tín dụng. Ngƣời xuất khẩu phải lập đầy đủ các chứng từ
phù hợp với yêu cầu của thƣ tín dụng và xuất trình cho ngân hàng trong thời
hạn quy định. Sau khi kiểm tra chứng từ, nếu thấy hoàn toàn phù hợp với các
quy định của thƣ tín dụng, ngân hàng phải thanh toán tiền hàng cho nhà xuất
khẩu.
Khác với các phƣơng thức thanh toán kèm chứng từ khác, trong phƣơng
thức thanh toán tín dụng chứng từ, ngân hàng không chỉ là trung gian thu hộ chi
hộ, mà ngân hàng còn đóng vai trò đại diện cho bên nhập khẩu thanh toán tiền
hàng cho bên xuất khẩu. Đây là phƣơng thức thanh toán có sự tham gia nhiều
nhất của ngân hàng. Với cam kết trả tiền cho ngƣời hƣởng lợi thƣ tín dụng nếu

đồng.
Ngân hàng mở L/C
(Issuing Bank)
Ngân hàng thông báo
(Advising Bank)
Ngƣời nhập khẩu
(Importer)
Ngƣời xuất khẩu
(Exporter) 22
(5) Sau khi giao hàng, ngƣời bán lập bộ chứng từ gửi hàng theo yêu cầu
của thƣ tín dụng xuất trình thông qua ngân hàng thông báo cho ngân hàng mở
L/C xin thanh toán.
(6) Ngân hàng mở L/C kiểm tra bộ chứng từ, nếu thấy phù hợp với tín
dụng thƣ thì tiến hành trả tiền cho ngƣời xuất khẩu. Nếu thấy không phù hợp,
ngân hàng từ chối thanh toán và gửi trả lại toàn bộ chứng từ cho ngƣời xuất
khẩu.
(7) Ngân hàng mở L/C đòi tiền ngƣời nhập khẩu và chuyển toàn bộ
chứng từ cho ngƣời nhập khẩu sau khi nhận đƣợc tiền hoặc chấp nhận thanh
toán.
(8) Ngƣời nhập khẩu kiểm tra bộ chứng từ, nếu thấy phù hợp với L/C thì
trả tiền hoặc chấp nhận trả tiền, nếu không có quyền từ chối thanh toán.
1.2. Một số loại Tín dụng chứng từ cơ bản
1.2.1. Thư tín dụng có thể huỷ ngang (revocable L/C):
Là một loại L/C mà ngân hàng và ngƣời nhập khẩu có thể sửa đổi hoặc
huỷ bỏ tuỳ ý mà không cần báo cho ngƣời bán (hay ngƣời hƣởng lợi L/C) biết
trƣớc. Trong trƣờng hợp có thêm ngân hàng đại lý tham dự thì việc sửa đổi hay
huỷ bỏ L/C chỉ có hiệu lực sau khi ngân hàng này nhận đƣợc giấy báo về việc

Trên thực tế, những rủi ro trong thanh toán có thể do ngân hàng mở L/C
mất khả năng thanh toán, nhà nhập khẩu không có khả năng thanh toán hay bị
phá sản, việc thanh toán vì thế trở nên mạo hiểm đối với ngƣời xuất khẩu. Do
đó xuất hiện những loại L/C chắc chắn hơn.
1.2.3. Thư tín dụng không thể huỷ ngang có xác nhận (Confirmed irrevocable
L/C):
Là loại thƣ tín dụng không thể huỷ ngang, đƣợc một ngân hàng khác xác
nhận đảm bảo trả tiền theo yêu cầu của ngân hàng mở L/C. Nhƣ vậy ngân hàng
xác nhận là một ngân hàng lớn, có uy tín, có quan hệ tiền vay, tiền gửi với ngân
hàng mở, đƣợc ngân hàng mở yêu cầu xác nhận thanh toán trong trƣờng hợp
ngân hàng mở không có khả năng thanh toán. 24
Trong hầu hết các trƣờng hợp trách nhiệm của ngân hàng xác nhận giống
nhƣ của ngân hàng mở, do đó ngân hàng mở phải trả phí xác nhận, và có thể
phải ký quỹ 100% giá trị L/C.
Do có hai ngân hàng đứng ra cam kết trả tiền nên loại L/C nay là chắc
chắn nhất cho ngƣời xuất khẩu.
1.2.4. Thư tín dụng không thể huỷ ngang, miễn truy đòi (Irrevocable without
recourse L/C):
Là loại L/C mà sau khi mở ngƣời xuất khẩu đã đƣợc trả tiền thì ngân
hàng mở L/C không còn quyền đòi lại tiền ở ngƣời xuất khẩu trong bất kỳ
trƣờng hợp nào. Khi dùng loại L/C này, ngƣời xuất khẩu khi ký phát hối phiếu
phải ghi “without recourse to drawer” (miễn truy đòi lại ngƣời ký phát) và trong
L/C cũng phải ghi nhƣ vậy.
Loại L/C này cũng đƣợc dùng phổ biến trong thanh toán quốc tế vì nó
đảm bảo đƣợc ngƣời xuất khẩu chắc chắn sẽ thu đƣợc tiền khi đã chấp nhận tín
dụng thƣ.
Ngoài ra trong thanh toán quốc tế còn có một số loại L/C đặc biệt khác

1.2.6. Thư tín dụng chuyển nhượng (Transferable L/C):
Là loại thƣ tín dụng không thể huỷ ngang, trong đó quy định quyền của
ngân hàng trả tiền (ngân hàng chuyển nhƣợng) đƣợc chuyển nhƣợng một phần
hay toàn bộ giá trị L/C cho ngƣời thứ ba (có thể là một hay nhiều ngƣời) theo
lệnh của ngƣời hƣởng lợi đầu tiên. L/C này chỉ đƣợc chuyển nhƣợng một lần.
Chi phí chuyển nhƣợng thƣờng do ngƣời hƣởng lần đầu tiên chịu. L/C chuyển
nhƣợng đƣợc sử dụng trong trƣờng hợp ngƣời xuất khẩu không thể cung cấp
một số hoặc tất cả hàng hoá theo yêu cầu của L/C và vì thế mà muốn chuyển
nhƣợng một phần hoặc tất cả quyền lợi và nghĩa vụ của mình cho ngƣời hƣởng
thứ hai. Mục đích của L/C này giúp ngƣời xuất khẩu hoạt động với tƣ cách là
nhà đại lý cung cấp chủ yếu những hàng hoá trong L/C mà không cần sử dụng
nhiều đến vốn riêng. 26
Khi nhà nhập khẩu cho phép chuyển nhƣợng tức là đã chấp nhận cho
ngƣời xuất khẩu chỉ định cho ngƣời khác làm thay việc giao hàng và xuất trình
chứng từ. Việc chuyển nhƣợng đó không có ý nghĩa là hợp đồng biên bản cũng
đƣợc chuyển nhƣợng. Trách nhiệm giao hàng vẫn thuộc về ngƣời xuất khẩu
chính. Do vậy ngân hàng thông báo có thể đƣợc yêu cầu không tiết lộ danh tích
ngƣời hƣởng lợi thứ hai và nhà nhập khẩu. Vậy, có thể ngân hàng thông báo lại
trở thành ngân hàng phát hành. Theo đó ngƣời đại lý xuất khẩu đƣợc quyền trừ
bớt các giá trị hối phiếu và hoá đơn để hƣởng chênh lệch.
1.2.7. Thư tín dụng giáp lưng (Back to back L/C):
Là thƣ tín dụng đƣợc mở dựa vào một L/C khác, nghĩa là sau khi nhận
đƣợc L/C do ngƣời nhập khẩu mở, ngƣời xuất khẩu dùng L/C này để thế chấp
mở L/C khác cho ngƣời hƣởng lợi khác với nội dung gần giống với L/C ban
đầu. L/C mở sau đƣợc gọi là L/C giáp lƣng.
Khi mở L/C giáp lƣng, ngƣời hƣởng lợi L/C xuất khẩu đóng vai trò của
một ngƣời trung gian giữa ngƣời cung cấp thực sự và ngƣời mua cuối cùng. L/C


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status