Nghiên cứu một số đặc điểm và thực trạng tiếp cận dịch vụ phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con tại bệnh viện phụ sản trung ương - Pdf 56

1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Một trong những mục tiêu chính do Hội đồng Liên hợp quốc đề ra tại
Hội nghị cấp cao về phòng, chống HIV/AIDS tháng 6/2011 mà Việt Nam đã
cam kết thực hiện và xác định là một trong những mục tiêu chủ yếu của Chiến
lược quốc gia phòng, chống HIV/AIDS đến năm 2020 và tầm nhìn 2030 là
“Hướng tới loại trừ trẻ nhiễm HIV từ mẹ vào năm 2015”. Phần lớn trẻ em
dưới 5 tuổi sống chung với HIV là do nhiễm qua đường lây truyền HIV từ mẹ
sang con trong thời gian mang thai, chuyển dạ đẻ hoặc sau sinh. Nếu người
mẹ nhiễm HIV không được phát hiện và phòng lây truyền HIV từ mẹ sang
con (PLTMC) và cho con bú, tỷ lệ lây truyền có thể tới 20 - 45%. Tuy nhiên,
nếu người phụ nữ được áp dụng những can thiệp thích hợp thì nguy cơ lây
truyền mẹ con (LTMC) có thể được giảm đến dưới 2% - tức là loại trừ được
lây truyền HIV từ mẹ sang con , .
Trên thế giới, đã có nhiều nghiên cứu, thử nghiệm lâm sàng để tìm ra các
phác đồ PLTMC theo hướng nâng cao hiệu quả. Các phác đồ PLTMC được
Tổ chức Y tế Thế giới (WHO: World Health Organisation) khuyến cáo cũng
được thay đổi nhiều lần theo hướng ngày càng hiệu quả hơn.
Tại Việt Nam, chương trình PLTMC được bắt đầu từ năm 1999 và cho
đến nay các phác đồ PLTMC đã liên tục được cập nhật theo khuyến cáo của
WHO, đặc biệt trong những năm gần đây. Từ đó đến nay, Bộ Y tế đã có nhiều lần
sửa đổi phác đồ PLTMC với các quyết định như Quyết định số 06/2005/QĐ-BYT,
4361/2007/QĐ-BYT,

3821/2008/QĐ-BYT,

3003/2009/QĐ-

BYT,


đầu nhiễm cho đến khi xuất hiện bệnh dài hơn trường hợp HIV-2. Trên toàn
thế giới HIV-1 là nhóm gây đại dịch AIDS, HIV-2 ít gặp, chủ yếu khu trú tại
Tây Phi, ít khi thấy ở nơi khác .
HIV thuộc họ Retrovirus, hạt virut hoàn chỉnh có hình cầu đường kính
80-120 nanomet. Cấu tạo của HIV có nhân là một sợi ARN, chúng có khả
năng tổng hợp thành ADN từ những mã di truyền của ARN nhờ vào một men
đặc biệt gọi là men sao chép ngược. Sự sao mã ngược này thường không hoàn
chỉnh, hay có sai sót so với nguyên bản ban đầu, vì vậy sẽ tạo ra sự thay đổi
kháng nguyên của virut, tạo nên nhiều biến chủng khác nhau giúp virut thoát
khỏi sự tiêu diệt của hệ miễn dịch cơ thể. HIV đánh vào các tế bào miễn dịch,
đặc biệt là lympho T có kháng nguyên bề mặt CD4 , .
- Tế bào CD4 :
Lympho T có kháng nguyên bề mặt CD4 (gọi tắt là CD4) là một tế bào
của hệ miễn dịch cơ thể.
+ Số lượng CD4 là một chỉ số quan trọng đánh giá mức độ miễn dịch của
cơ thể.
+ Số lượng CD4 bình thường ở người lớn từ 1000-1200TB/ml, khi CD4
< 500 là bắt đầu có suy giảm miễn dịch.
+ Số lượng CD4 có thể sử dụng để quyết định bắt đầu:
 Dự phòng.
 Điều trị.
- Tải lượng virut:


5

+ Là số lượng virut HIV trong 1ml máu bệnh nhân.
+ Chỉ mức độ nhân lên của virut và tốc độ phá huỷ tế bào CD4.
1.1.2. Chẩn đoán nhiễm HIV/AIDS
Chẩn đoán dựa vào lâm sàng và xét nghiệm

khuẩn huyết)
- Viêm loét miệng hoại tử cấp, viêm lợi hoặc viêm quanh răng
- Thiếu máu (Hb< 80g/l), giảm bạch cầu trung tính (< 0,5 G/l),
và/hoặc giảm tiểu cầu mạn tính (< 50 G/l) không rõ nguyên nhân.
 Giai đoạn lâm sàng 4: triệu chứng nặng
- Hội chứng suy mòn do HIV (sút cân > 10% trọng lượng cơ thể
kèm theo sốt kéo dài > 1 tháng hoặc tiêu chảy kéo dài > 1 tháng
không rõ nguyên nhân)
- Viêm phổi do Pneumocystisjiroveci (PCP).
- Nhiễm Herpes simplex mạn tính (ở môi miệng, cơ quan sinh dục,
quanh hậu môn, kéo dài hơn 1 tháng, hoặc bất cứ đâu trong nội tạng).
- Nhiễm Candida thực quản (hoặc candida ở khí quản, phế quản, phổi).
- Lao ngoài phổi.
- Sarcoma Kaposi.
- Bệnh do Cytomegalovirus (CMV) ở võng mạc hoặc các cơ quan
khác.
- Bệnh do Toxoplasma ở hệ thần kinh trung ương.
- Bệnh não do HIV.
- Bệnh do Cryptococcus ngoài phổi, bao gồm viêm màng não.
- Bệnh do Mycobacteria avium complex (MAC) lan toả.
- Bệnh não chất trắng đa ổ tiến triển (PLM).
- Tiêu chảy mạn tính do Cryptosporidia, Isospora.
- Bệnh do nấm lan toả (nấm Penicillium, Histoplasma ngoài phổi).
- Nhiễm khuẩn huyết tái diễn (bao gồm nhiễm cả Sallmonella không
phải thương hàn).
- U lympho ở não hoặc u lympho non- Hodgkin tế bào B.
- Ung thư cổ tử cung xâm nhập (ung thư biểu mô).
- Bệnh do Leishmania lan toả không điển hình.
- Bệnh lý thận do HIV.




8

các trường hợp HIV dương tính bằng xét nghiệm kháng thể kháng HIV.
1.1.2.3. Các xét nghiệm liên quan khác
- Công thức máu: hồng cầu, hematocrit, hemoglobin, bạch cầu (số
lượng bạch cầu, % các loại bạch cầu, từ đó tính được tổng số tế bào lympho).
- Sinh hoá: urê, creatinin, glucose, SGOT- SGPT, bilirubin, ProteinAlbumin- globulin, amylase, lipid máu, LDH.
- % và số lượng tế bào CD4.
- Đo nồng độ virus: HIV ARN (tuyến trung ương).
- X quang tim phổi, AFB đờm, …
- HBsAg, anti HCV.
1.1.3. Đường lây truyền của HIV , , , .
1.1.3.1. Đường máu
HIV có thể lây truyền khi truyền máu và các chế phẩm của máu.
HIV có thể lây truyền qua các vật xuyên chọc qua da và niêm mạc như:
dùng chung bơm kim tiêm trong nhóm nghiện chích ma tuý; sử dụng dụng cụ
phẫu thuật, thủ thuật, châm cứu không được tiệt trùng đúng cách.
HIV có thể lây truyền khi cấy ghép các cơ quan như gan, thận....
1.1.3.2. Đường lây truyền qua quan hệ tình dục
Quan hệ tình dục không được bảo vệ với người nhiễm HIV có nguy cơ
lây nhiễm HIV cao vì:
- Những vết xước như ở niêm mạc âm đạo, hậu môn, miệng hay dương
vật có thể xảy ra khi quan hệ tình dục.
- HIV có thể xâm nhập vào bạch cầu của tinh dịch, đại thực bào ở dịch
nhầy âm đạo hoặc hậu môn
1.1.3.3. Đường lây truyền từ mẹ sang con
Nếu không được phát hiện và không được nhận các can thiệp thích hợp,
người mẹ nhiễm HIV có thể lây truyền HIV cho con qua 3 giai đoạn sau:

nữ được điều trị ARV cũng như những người không được điều trị dự phòng.
- Lượng HIV huyết thanh và HIV dịch âm đạo: nhìn chung có mối tương


10

quan tỷ lệ thuận giữa tải lượng HIV huyết thanh và dịch âm đạo.
- Kiểu gen của HIV: Kiểu gen có thể có liên quan đến tỷ lệ lây truyền
trong các giai đoạn khác nhau của thời kỳ mang thai và chuyển dạ đẻ. Người
ta cũng ghi nhận một số đột biến gen HIV ở người mẹ được sử dụng ARV với
mục đích điều trị hoặc phòng lây truyền mẹ con có liên quan đến kháng thuốc
có thể ảnh hưởng đến những trẻ nhiễm HIV từ người mẹ.
- Số lượng tế bào CD4: lượng CD4 thấp có liên quan đến việc tăng nguy
cơ lây truyền mẹ con.
- Giai đoạn lâm sàng HIV/AIDS của người mẹ càng muộn thì tỷ lệ lây
truyền mẹ con càng cao.
- Phụ nữ mang thai nhiễm HIV cấp tính có tỷ lệ lây truyền HIV cho con
rất cao vì giai đoạn này tải lượng virut HIV huyết thanh tăng cao.
1.2.2. Các yếu tố sản khoa
- Thai phụ nhiễm HIV đồng nhiễm các bệnh lây truyền qua đường tình
dục có loét làm tăng lượng HIV trong các dịch ở đường sinh sản, làm tăng
nguy cơ lây truyền mẹ con.
- Thai phụ nhiễm HIV có thói quen tình dục không an toàn với nhiều bạn
tình, sử dụng ma tuý… tăng tỷ lệ lây truyền mẹ con.
- Thời gian vỡ ối: Nguy cơ lây truyền mẹ con tăng tỷ lệ thuận với thời
gian từ khi vỡ ối đến khi sinh, nguy cơ tăng 2% cho mỗi giờ vỡ ối.
- Tuổi thai: trẻ sơ sinh non tháng có nguy cơ lây nhiễm cao hơn trẻ đủ tháng.
- Viêm màng ối: tăng nguy cơ lây truyền mẹ con
- Can thiệp sản khoa: cắt tầng sinh môn, forceps, ventoux làm tăng nguy
cơ lây nhiễm cho con.

nghị thượng đỉnh Liên hợp quốc gần đây đã tái khẳng định hoàn toàn cam kết


12

của mình để thực hiện tất cả các mục tiêu trong Tuyên bố Cam kết UNGASS
năm 2010- 2011, trong đó có việc giảm tỷ lệ trẻ nhiễm HIV xuống dưới 5%
vào năm 2015 và hướng đến một thế giới không còn HIV/AIDS.
Ở Việt Nam, theo các báo cáo, các chương trình điều trị, PLTMC hiện tại
đang được thực hiện với sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế như PEPFAR,
GFATM, FHI, UNICEF,… Năm 2006, 107 trong tổng số 506 cơ sở cung cấp
dịch vụ chăm sóc trước sinh, cung cấp gói dịch vụ cơ bản về PLTMC
(UNGASS 2007). Số lượng các cơ sở cung cấp các dịch vụ này tăng lên 223
trong năm 2009 (UNGASS 2010) và chú trọng cung cấp các dịch vụ PLTMC
toàn diện hơn. Đến 2009, cả nước có 96 địa điểm cung cấp các dịch vụ toàn
diện PLTMC, 127 địa điểm cung cấp dịch vụ tư vấn và xét nghiệm tự nguyện
(VCT) và dịch vụ chuyển tuyến (UNGASS 2010).
1.3.1. Các thành tố trong phòng lây truyền mẹ con
Theo WHO, một chiến lược dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con
một cách toàn diện cần phải bao gồm 4 thành tố ,:
1. Dự phòng nhiễm HIV tiên phát ở phụ nữ không nhiễm HIV;
2. Dự phòng có thai ngoài ý muốn ở phụ nữ đã nhiễm HIV;
3. Dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con nếu phụ nữ nhiễm HIV
muốn sinh con;
4. Chăm sóc, điều trị và hỗ trợ tiếp tục đối với các bà mẹ nhiễm HIV,
những đứa con và gia đình của họ.
Cách tiếp cận này được xây dựng trên cơ sở cung cấp thường quy xét
nghiệm và tư vấn HIV cho tất cả các phụ nữ mang thai, dự phòng ARV cho
phụ nữ nhiễm HIV mang thai và tư vấn cũng như hỗ trợ nuôi trẻ, và nhấn
mạnh đến sử dụng ARV, chăm sóc và hỗ trợ cho phụ nữ nhiễm HIV, những

Nhóm thuốc này ức chế tổng hợp ADN của HIV bởi enzyme sao
chép ngược.
Nhóm này bao gồm Zidovudin (AZT), Stavudin (d4T), Lamivudin


14

(3TC), Didanosine (ddI), Abacavir (ABC), Combivir, Tenofovir (TDF),…
b, Non-nucleoside RTI (NNRTI)
Nhóm thuốc này ức chế enzyme sao chép ngược không phải nucleoside.
Nhóm này gồm có: Nevirapine (NVP), Efavirenz (EFV),…
c, Các thuốc ức chế enzyme Protease (PI)
Nhóm này gồm: Ritonavir (RTV), Indinavir (IDV), Lopinavir+
ritonavir (LPVr),…
Ngoài 3 nhóm thuốc trên, trên thế giới còn sử dụng nhóm thuốc ức chế
men tích hợp (Raltegravir/RAL); nhóm thuốc ức chế hoà màng/xâm nhập
(Mariviroc/MVC, Enfuvirtide/ENF)
Các thuốc ARV được lựa chọn cho phụ nữ mang thai thường không ảnh
hưởng tới thai nhi. Một số tác dụng phụ đáng chú ý là:
- AZT có thể gây thiếu máu ở trẻ sinh ra từ mẹ sử dụng dự phòng AZT
và trẻ dùng AZT nhưng sẽ được cải thiện sau khi ngừng thuốc, vì vậy AZT
chống chỉ định cho những trường hợp có xét nghiệm Hb < 70 g/l. Ngoài ra,
AZT dùng phối hợp 3TC có thể gây tình trạng thiếu máu nặng hơn.
- Điều trị kéo dài NPV có thể gây độc tính ở gan.
- TDF có thể gây độc tính cho thận.
Tuy nhiên, nếu dùng ARV đúng chỉ định và phác đồ thì tính an toàn của
thuốc rất cao và nếu thai phụ dùng thuốc càng sớm thì hiệu quả PLTMC càng
cao , .
Tiêu chuẩn điều trị ARV từ năm 2005 đến 2014 đã có ba lần thay đổi,
hiện nay tại các cơ sở y tế áp dụng theo quyết định 4139/2011/QĐ-BYT:

nhàng, tránh tổn thương niêm mạc. Lau khô bằng khăn mềm, thấm nước.
- Tư vấn và cấp sữa thay thế sữa mẹ.
- Uống ARV dự phòng tuỳ theo phác đồ dùng cho mẹ.
- Theo dõi tiếp tục và xét nghiệm phát hiện nhiễm HIV.
Tại BVPSTW, theo quy trình cung cấp dịch vụ, các thai phụ có xét
nghiệm khẳng định HIV dương tính được hướng dẫn và sử dụng dịch vụ
PLTMC; ra viện, các bà mẹ được giới thiệu đến bệnh viện Nhiệt đới, còn tất


16

cả các trẻ sinh từ mẹ nhiễm HIV đều được giới thiệu chuyển tiếp tới phòng
khám ngoại trú (PKNT) nhi tại Bệnh viện Nhi Trung ương hoặc tại các tỉnh
nơi bà mẹ sinh sống, hoặc đồng thời cung cấp địa chỉ của các phòng khám
ngoại trú nhi, để bà mẹ sau đẻ có thể lựa chọn đưa trẻ đi khám tiếp tục, theo
dõi phát triển thể chất, theo dõi dự phòng các bệnh nhiễm trùng cơ hội, cấp
sữa tiếp tục và được làm xét nghiệm HIV.
1.4. Các phác đồ điều trị và các nghiên cứu về PLTMC
1.4.1. Trên thế giới
Đã có nhiều phác đồ khác nhau được nghiên cứu về hiệu quả PLTMC.
Nhìn chung, xu hướng chuyển từ phác đồ 1 thuốc sang phác đồ 3 thuốc, áp
dụng với thời gian dài ngày hơn và từ tuổi thai ngày càng sớm hơn.
- Năm 1994, nhóm các thử nghiệm lâm sàng AIDS Nhi khoa (PACTG)
076 đã chứng minh rằng cho sớm dự phòng AZT kéo dài trong thời kỳ mang
thai (TKMT) và dùng đường tĩnh mạch trong khi đẻ đối với người mẹ và
dùng trong 6 tuần đối với con làm giảm nguy cơ lây truyền dọc từ 25% xuống
8%. Phác đồ AZT PACTG 076 đã nhanh chóng được triển khai trong thực
hành ở châu Âu và Bắc Mỹ, nhưng nó đắt tiền vào thời điểm đó. Vì vậy các
phác đồ ARV ngắn hơn và đơn giản hơn đã được đánh giá trong các thử
nghiệm ở các nước thu nhập thấp và trung bình.

Can thiệp mổ lấy thai đơn thuần, không dùng thuốc dự phòng cho tỷ lệ
LTMC là 15,3%, trong khi đó kết hợp với điều trị thuốc dự phòng và mổ lấy thai
tỷ lệ LTMC là 4,2% , .
1.4.2. Ở Việt Nam
1.4.2.1. Các phác đồ PLTMC
Tháng 3 năm 2004, Thủ tướng Chính phủ đã chính thức ký phê duyệt
Chiến lược Quốc gia Phòng, chống HIV/AIDS ở Việt Nam đến năm 2010 và
tầm nhìn 2020. Dựa trên Chiến lược quốc gia, Bộ Y tế đã xây dựng một
Chương trình Hành động quốc gia về PLTMC giai đoạn 2006-2010. Chương


18

trình Hành động cũng đưa ra mục tiêu cụ thể là cung cấp các dịch vụ tư vấn
cho 90%, xét nghiệm HIV tự nguyện cho 60% phụ nữ mang thai cũng như
điều trị PLTMC cho 100% các trường hợp xét nghiệm HIV dương tính.
Các phác đồ này đã được cập nhật, sửa đổi theo từng thời kỳ, một phần
lớn dựa trên khuyến cáo của các tổ chức quốc tế lớn như WHO.
Năm 2005, phác đồ PLTMC đầu tiên được Bộ Y tế ban hành thành văn
bản pháp quy theo quyết định 06/2005/QĐ - BYT “Hướng dẫn Chẩn đoán và
Điều trị nhiễm HIV/AIDS” với ba phác đồ khác nhau là: AZT từ tuần thai 28
+ SD-NVP khi chuyển dạ; SD-NVP khi chuyển dạ; Phác đồ ba thuốc
AZT/d4T + 3TC + NFV/SQV/r từ tuần thai 36.
Trong các phác đồ này, phác đồ ba thuốc được ngừng sử dụng từ cuối
năm 2007 (quyết định 4361/2007/QĐ- BYT) sau khi có khuyến cáo thu hồi
NFV toàn cầu của WHO và nhà sản xuất .
Đến cuối năm 2008, phác đồ một lần nữa được cập nhật, theo quyết
định 3821/2008/QĐ –BYT , sử dụng một phác đồ thống nhất (phụ lục 2).
Theo quyết định 3003/2009/QĐ-BYT ngày 19/8/2009 , có bổ sung:
- Siro dự phòng cho con là 4 tuần thay vì 1 tuần như quyết định năm 2008.

kể vào việc phát hiện được nhiều thai phụ nhiễm HIV ,.
Khi đánh giá chương trình phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con tại
Bệnh viện Hùng Vương năm 2005-2008, tác giả Vũ Thị Nhung cho biết tỷ lệ sản
phụ nhiễm HIV sinh con là 0,81%. Trong những sản phụ nhiễm HIV: 91,5% sản
phụ được sử dụng thuốc PLTMC, tỷ lệ trẻ nhiễm HIV từ mẹ là 5,15%.
Một đánh giá của dự án LIFE-GAP khi tổng kết các trường hợp sản phụ
nhiễm HIV sinh con từ 2004- 2009 tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương, Hải
Phòng, Bệnh viện tỉnh Quảng Ninh và An Giang cho thấy tỷ lệ phát hiện
nhiễm HIV trong chuyển dạ chiếm 57%, 84% sản phụ nhiễm HIV được sử
dụng thuốc PLTMC, 98% số trẻ phơi nhiễm được sử dụng thuốc ARV, 75,2%
trẻ được làm xét nghiệm PCR hoặc kháng thể.


20

1.4.2.3. Một số nghiên cứu về PLTMC tại BVPSTW
Bệnh viện Phụ Sản Trung ương là cơ sở Sản khoa tuyến cao nhất ở khu
vực phía Bắc, đã tham gia chương trình PLTMC ngay từ giai đoạn đầu của dịch
HIV/AIDS, đồng thời tham gia là Tiểu ban PLTMC (Cục PC HIV/AIDS), tham
gia hướng dẫn và chỉ đạo chuyên môn, hỗ trợ kỹ thuật cho các tuyến dưới trong
PLTMC. Cho đến nay, BVPSTW là một trong những cơ sở điều trị PLTMC có
số lượng phụ nữ nhiễm HIV sinh con cao nhất, hàng năm tiếp nhận khoảng 100
ca. Các phác đồ PLTMC áp dụng tại BVPSTW được tuân thủ hoàn toàn theo
các hướng dẫn của Bộ Y tế, tùy thuộc thời điểm phát hiện và tình trạng nhiễm
HIV/AIDS của người phụ nữ mang thai. Cụ thể, trong giai đoạn 2010-2014,
các phác đồ PLTMC áp dụngtheo 2 giai đoạn như sau:
- Năm 2010 - 10/2011 phác đồ PLTMC theo quyết định 3003/QĐ - BYT.
- Tháng 11/2011 đến hết 2014 phác đồ PLTMC theo quyết định
4139/QĐ - BYT.
Với sự hỗ trợ của Cục PC HIV/AIDS, nguồn thuốc ARV ngày càng được

thời gian trên đều được thu nhận vào nghiên cứu).



Tuổi thai ≥ 22 tuần (Tính theo kinh cuối cùng hoặc siêu âm 3 tháng
đầu).



Trẻ đẻ ra sống.
(Tiêu chuẩn trẻ đẻ ra sống phục vụ cho mục tiêu nhận xét về việc
trẻ sơ sinh đẻ ra tại viện có được tiếp cận với các dịch vụ PLTMC
hay không trong nghiên cứu này).

2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ
Các trường hợp sau đều được loại khỏi nghiên cứu:


Thai chết lưu,



Thai chết trong quá trình chuyển dạ,



Thai dị dạng đã được chẩn đoán trước sinh và phá thai.


22

tuần, > 28 tuần)
+ Khi đã chuyển dạ
Nhóm các biến số thực trạng tiếp cận dịch vụ:
- Nơi quản lý thai nghén: BVPSTW, nơi khác, không quản lý thai nghén?
- Thời điểm thai phụ nhiễm HIV bắt đầu được dùng ARV từ khi nào?,
ở tuổi thai nào?, loại thuốc dùng?
- Xét nghiệm CD4 và một số xét nghiệm khác (Hb, SGOT, SGPT,
Creatinin, HBsAg)
- Phác đồ ARV dùng khi chuyển dạ đẻ.
- Cách thức đẻ: đẻ thường, đẻ thủ thuật (forceps, giác hút), mổ lấy
thai? Lí do mổ?
- Trẻ sơ sinh: sống/chết (Nếu chết: chết khi nào?), cân nặng, Apgar, can
thiệp thuốc ARV?
- Dịch vụ giới thiệu sau sinh?
2.3.3. Quản lý và phân tích số liệu
Số liệu sau khi thu thập và điền vào phiếu nghiên cứu được kiểm tra lại
về tính chính xác và độ tin cậy. Các số liệu sau đó được nhập bằng phần mềm
EpiData, kiểm tra lại về tính chính xác và được phân tích bằng phương pháp
thống kê thông thường bằng phần mềm SPSS 16.0 (Statistical Package for
Social Sciences 16.0). Mọi nghi vấn phát sinh khi phân tích số liệu đều được
kiểm tra đối chiếu với hồ sơ gốc.


24

2.4. Đạo đức trong nghiên cứu
Đây là một nghiên cứu tiến hành trên đối tượng con người. Nghiên cứu
này tuân thủ hoàn toàn các quy định về đạo đức trong nghiên cứu y sinh học
theo các quy định hiện hành của Bộ Y tế. Toàn bộ mọi thông tin định danh cá
nhân của ĐTNC được giữ kín, chỉ công bố thông tin tổng hợp. Nghiên cứu


0,57

2011

123

20 963

0,59

2012

110

24 835

0,44

2013

116

20 892

0,56

2014

101


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status