Kiến thức, thái độ và sự hỗ trợ của người cha trong thực hành nuôi con bằng sữa mẹ của các bà mẹ sinh con tại bệnh viện phụ sản trung ương năm 2015 - Pdf 34

Bộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - Bộ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TÉ CÔNG CỘNG
NGUYỄN THỊ THANH TÂM

KIẾN THỨC, THÁI ĐÔ VÀ sư HỖ TRƠ CỦA NGƯỜI CHA

TRONG THƯC HÀNH NUÔI CON BẰNG SỮA ME CỦA
••

CÁC BÀ MẸ SINH CON TẠI BỆNH VIỆN
PHỤ SẢN TRUNG ƯƠNG NĂM 2015


Bộ Y TẾ - Bộ GIÁO DỤC YÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
Bộ Y TẾ - Bộ GIÁO DỤC YÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

LUẬN VĂN THẠC sĩ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN
MẪ SÓ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.07.01

NGUYỄN THỊ THANH TÂM

KIẾN THỨC, THÁI

Độ VÀ sự HỖ TRỢ CỦA NGƯỜI CHA

TRONG THỰC HÀNH NUÔI CON BẰNG SỮA MẸ

CỦA CÁC BÀ ME SINH CON TAI BÊNH VIÊN
••••

Với tất cả tình cảm chân thành nhất, tôi xin đặc biệt bày tỏ lòng cảm ơn tới PGS-TS. Trần Hữu Bích - người đã giúp
đỡ tôi từ khi xác định vẩn đề nghiên cứu, viết đề cương, chia sẻ thông tin và hoàn thành luận văn này. Kiến thức, học thuật, sự
tận tình trong giảng dạy của thầy đã giúp tôi có được những kiến thức, kinh nghiệm quỷ báu trong nghiên cứu khoa học.
Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới Ban Giám đốc bệnh viện Phụ sản Trung ương, khoa Sản Thường - nơi tôi tiến
hành nghiên cứu, đã tạo điều kiện giúp đõ, cung cấp số liệu, góp ỷ, hướng dẫn và tham gia vào nghiên cứu này.
Xin cảm ơn các bậc sinh thành, người chồng, hai con trai và những người thăn trong gia đình tôi đã chịu nhiều hy
sinh, vất vả, luôn động viên tôi trong suốt quá trình học tập và phấn đẩu.
Xin cảm ơn tất cả các bạn đồng môn trong lớp cao học Quản lỷ bệnh viện khỏa 6 đã cùng nhau chia sẻ kinh nghiệm và
giúp đỡ tôi trong hai năm học qua.
Cuối cùng, với những kết quả trong nghiên cứu này, tôi xin chia sẻ với tất cả các bạn đồng nghiệp, đặc biệt là những ai
quan tâm đến lĩnh vực này.
Một lần nữa tôi xin trân trọng cảm ơn!
Nguyễn Thị Thanh Tâ


6
6

mMỤC LỤC


7
7

Mối liên quan giữa sự tiếp cận thông tin y tế với kiến thức của người cha về nuôi
3.1.

xxxvii
xxxvii



3.8.

BSSS

3.9.

CSCKSS

3.10.

ĐTV

3.11.



3.12.

GSV

3.13.

NVYT

3.14.

NCBSM

3.15.

XH

3.24.

Bú sớm sau sinh

3.25.

Chăm sóc sức khỏe sinh sản

3.26.

Điều tra viên

3.27.

Gia đình

3.28.

Giám sát viên

3.29.

Nhân viên y tế

3.30.

Nuôi con bằng sữa mẹ



Thông tin

United Nations International Children's Emergency Fund Quỹ nhi đồng

Liên họp quốc World Health Organization Tổ chức Y tế thế giới Xã hội


Vll
3.39.
3.40. TÓM TẮT NGHIÊN cứu
3.41.

Thực hành bú sớm sau sinh (BSSS) và nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn

(NCBSMHT) tại bệnh viện là tiền đề đảm bảo cho việc NCBSMHT giai đoạn 6 tháng
đầu đời trẻ. Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về vai trò của người cha trong sự
thành công của thực hành NCBSM tại cộng đồng. Đe tìm hiểu vấn đề này tại mô hình
bệnh viện, chúng tôi thực hiện đề tài: “Kiến thức, thái độ và sự hỗ trợ của người cha
trong thực hành nuôi con bằng sữa mẹ của các bà mẹ sinh con tại bệnh viện Phụ
sản Trung ương năm 2015”.
3.42.

Mục tiêu của nghiên cứu là mô tả thực trạng nuôi con bằng sữa mẹ, mô

tả kiến thức về nuôi con bằng sữa mẹ, thái độ, hành động hỗ trợ của người cha và mối
liên quan với thực hành nuôi con bằng sữa mẹ tại bệnh viện Phụ sản Trung ưomg năm
2015, đồng thời xác định mối liên quan giữa sự tiếp cận thông tin y tế với kiến thức của
người cha về nuôi con bằng sữa mẹ.
3.43.

và không muốn nhận thêm thông tin về NCBSM (P < 0,05).


14
14

3.45.
Từ kết quả nghiên cứu chúng tôi đưa ra khuyến nghị cho bệnh viện về
các can thiệp nhằm nâng cao kiến thức của người cha về vấn đề NCBSM. Đó là
tổ chức các lớp tiền sản, nhấn mạnh sự tham gia và vai trò của người cha.
Những lớp này cần tổ chức không những trong giờ hành chính mà còn ngoài giờ
hành chính hoặc vào cuối tuần với lịch giảng được công bố cụ thể, dễ tiếp cận.
Đối với người cha, chúng tôi khuyến cáo họ cần tìm hiểu thêm và tham gia vào
vấn đề NCBSM vì đây là vấn đề quan trọng và là chăm sóc thiết yếu trong
những tháng đầu đời, rất có giá trị trong cả cuộc đời về sau của trẻ. Đồng thời
những người cha nên tham gia các lớp tiền sản được tổ chức tại bệnh viện
PSTƯ.ĐẶT VẤN ĐỀ
3.46.

Nuôi con bằng sữa mẹ (NCBSM) đã được khẳng định là phương cách

tốt nhất đối với trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ. Nhiều bằng chứng hiện nay đã khẳng định thực tế
rằng cho con bú là một can thiệp chính cho trẻ sơ sinh và sức khỏe bà mẹ về sự sống
còn cả trong ngắn hạn và dài hạn. Phương thức này góp phần đáng kể làm giảm tỷ lệ tử
vong sơ sinh. Trong khi đó, một thách thức lớn là tỷ lệ bú mẹ hoàn toàn rất thấp. Theo
báo cáo của Viện dinh dưỡng quốc gia năm 2005, chỉ có 32% trẻ sơ sinh và 12% trẻ từ
4 - 6 tháng tuổi được bú mẹ hoàn toàn [23]. Đã có nhiều nghiên cứu cho thấy vai trò
của nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu trong việc ngăn ngừa các bệnh
tật và giảm tỉ lệ tử vong ở trẻ nhỏ. Đặc biệt, cho con bú sớm ngay trong giờ đầu tiên sau
sinh là một can thiệp đơn giản, dễ thực hiện mà lại rất hiệu quả trong giảm tỷ lệ tử vong

Mặc dù bệnh viện Phụ sản Trung ương (PSTƯ) luôn quan tâm, chú trọng
triển khai, phát triển các hoạt động của Bệnh viện Bạn hữu Trẻ em, tuy nhiên tỉ
lệ cho con bú sớm trong vòng 1 giờ sau sinh tại đây vẫn thấp với 31%, tỉ lệ
không cho con ăn hoặc uống thứ khác trước khi bú mẹ lần đầu là 76,9% [19]. số
liệu này chưa đáp ứng được mục tiêu của lãnh đạo bệnh viện và Bộ Y tế đề ra,
đó là tăng tỷ lệ cho con bú sớm trong 1 giờ đầu sau sinh lên 90% và tỉ lệ cho
con bú hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu lên 50% [5]. Vậy lý do nào dẫn
đến thực trạng trên? Ngoài các can thiệp y tế ra, liệu vai trò của người cha,
người sát cánh bên các bà mẹ, có liên quan hay không tới thực hành cho con
BSSS và NCBSM hoàn toàn tại bệnh viện? Chưa có một nghiên cứu nào nghiên
cứu về vai trò của người cha đối với thực hành NCBSM tại một bệnh viện lớn,
tuyến trung ương cũng như kiến thức, thái độ của họ về vấn đề này. Xuất phát từ
thực tế fren, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài; “Kiến thức, thái độ và sự hỗ
trợ của người cha trong thực hành nuôi con bằng sữa của các bà mẹ sinh
con tại bệnh viện Phụ sản Trung ương năm 2015” để có cơ sở khoa học trả lời
cho các câu hỏi sau: Thực trạng thực hành NCBSM tại bệnh viện là như thế
nào? Thực trạng kiến thức của người cha tại bệnh viện PSTƯ về vấn đề
NCBSM như thế nào? Kiến thức, thái độ và sự hỗ trợ của người cha có liên
quan như thế nào với thực hành NCBSM của vợ? Một câu hỏi khác là thái độ,
sự hỗ trợ của người cha có chịu ảnh hưởng của kiến thức hay không? Từ đó
giúp bệnh viện có bằng chứng để đề xuất thêm những giải pháp, phương cách
nhằm nâng cao kiến thức, cải thiện thái độ, sự hỗ trợ của họ với thực hành
NCBSM của vợ, góp phần làm tăng tỷ lệ BSSS và NCBSM hoàn toàn tại bệnh
viện.MỤC TIÊU NGHIÊN cứu
3.49.

Mục tiêu cụ thể:

1. Mô tả thực trạng nuôi con bằng sữa mẹ trong thời gian nằm viện của các bà
mẹ sinh con tại bệnh viện Phụ sản Trung ương năm 2015.

dưỡng cho trẻ, không cần thêm bất cứ thức ăn, nước uống nào khác [48], [68].
3.52.

Sữa non là sữa mẹ tiết ra trong vài ngày đầu sau đẻ. Sữa non màu vàng

nhạt hoặc đặc sánh. Sữa non có nhiều kháng thể, tế bào bạch cầu, bảo vệ cơ thể trẻ
chống nhiễm khuẩn và dị ứng; có tác dụng xổ nhẹ giúp cho việc tống phân su, hẻ đỡ
vàng da; có nhiều vitamin A giúp trẻ chống nhiễm khuẩn và bệnh khô mắt. Các yếu tố
phát triển trong sữa non giúp cho bộ máy tiêu hóa trưởng thành chống dị ứng và không
dung nạp thức ăn khác. Vì vậy cần cho trẻ bú sớm trong vòng 1 giờ đầu sau đẻ, không
cho trẻ ăn bất cứ thức ăn nào khác ngoài sữa mẹ [4],
3.53.

Sữa trưởng thành: gồm sữa đầu và sữa cuối. Sữa đầu có mầu hơi xanh.

Cho hẻ bú sữa đầu sẽ nhận được một lượng lớn các chất dinh dưỡng và nước. Vì vậy
không cần cho ứẻ uống thêm nước hoặc bất kỳ đồ uống nào khác trước khi trẻ được 6
tháng tuổi và ngay cả khi trời nóng. Sữa cuối được sản xuất ở cuối bữa có màu hắng
hơn vì có nhiều chất béo. cần cho hẻ bú kiệt một bên vú rồi mới chuyển sang vú khác
để trẻ nhận được sữa cuối nhiều năng lượng [4].
3.54.

Theo Tổ chức Y tế thế giới và Quỹ nhi đồng Liên hiệp quốc UNICEF,

nuôi con bằng sữa mẹ là cách nuôi dưỡng trẻ trong đó trẻ bú trực tiếp sữa mẹ hoặc được
nuôi bằng sữa mẹ vắt ra. Nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn là chỉ cho con bú mẹ mà
không thêm bất kỳ loại thức ăn nước uống nào, ngoại trừ các loại thuốc, vitamin,
khoáng chất. Tỷ lệ trẻ được bú sớm sau sinh được tính bằng tỷ số giữa tổng số trẻ dưới
24 tháng tuổi được bú mẹ trong vòng 1 giờ sau sinh trên tổng số hẻ dưới 24 tháng tuổi.
Tỷ lệ trẻ dưới 6 tháng tuổi được bú mẹ hoàn toàn được tính bằng tỷ số giữa số ứẻ dưới


phát triển của con người. Lợi ích của NCBSM không những quan trọng đối với con mà
còn rất tốt cho sức khỏe của mẹ.
3.58.

Đối với con, sữa mẹ vô khuẩn, trẻ bú trực tiếp sữa mẹ, giúp trẻ chống lại

các bệnh nhiễm khuẩn nhờ các yếu tố kháng khuẩn. Một số kháng thể truyền từ người
mẹ qua rau đến bào thai đã giúp cho trẻ mới đẻ có sức đề kháng và miễn dịch một số
bệnh đặc biệt trong 4-6 tháng đầu nhu sởi, cứm, ho gà, vi khuẩn không có điều kiện
phát triển nên trẻ ít bị tiêu chảy. Trong sữa mẹ chứa nhiều thành phần kháng khuẩn như
Globulin miễn dịch IgA, lactoferin, lysozym, lympho bào và một số thành phần khác.
IgA có nhiều trong sữa non và giảm dần trong những tuần sau. IgA không được hấp thu
mà hoạt động ngay tại ruột để chống lại một số vi khuẩn như E.coli và virus. Lactoferin
là một protein có gắn sắt có tác dụng kìm khuẩn không cho vi khuẩn cần sắt phát triển.
Bên cạnh đó Lysozym là một enzym có tác dụng diệt khuẩn. Lympho bào sản xuất IgA
tiết và interferon, có tác dụng ức chế hoạt động của một so virus. Đại thực bào có tính
chất thực bào và bài tiết lysozym và lactoferin. Đại thực bào có thể thực bào Candida
và vi khuẩn đặc biệt là những vi khuẩn Gram âm, nguyên nhân gây viêm một hoại tử ở
trẻ sơ sinh. Yếu tố kích thích sự phát triển của vi khuẩn Lactobacillus bifidus. Một so
lactose vào một chuyển thành acid lactic, tạo môi trường thuận lợi cho vi khuẩn phát


19
19

triển, lấn át vi khuẩn gây bệnh như E.coli. Yeu tố Bifïdus là một carbonhydrat có chứa
nitrogen cần cho vi khuẩn Lactose bifïdus, ngăn cản vi khuẩn gây bệnh phát triển. Cho
trẻ bú sữa mẹ cũng đồng thời giúp trẻ phát triển thông minh hom [4],
3.59.

SIDS giảm đi một nửa. Không những vậy, sữa non là liều vác xin đầu tiên giúp trẻ
phòng bệnh [70]. Lượng sữa non dù không nhiều nhưng đủ về số lượng và chất lượng,
phù họp với bộ máy tiêu hóa của ưẻ ngay khi mới sinh. Sữa non có tác dụng sổ nhẹ,
giúp tống phân su nhanh, giúp đào thải bilirubin nhanh. Vì vậy thời gian vàng da ở trẻ
cũng ngắn hơn và trẻ cũng ít khi bị vàng da hom. Sữa non còn có nhiều yếu tố phát
triển giúp bộ máy tiêu hóa non nớt của trẻ nhanh chóng trưởng thành. Lượng vitamin A
trong sữa non rất nhiều giúp làm giảm nhẹ bệnh khi trẻ mắc bệnh.
3.63.

Đối với người mẹ, BSSS cũng mang lại những lợi ích không nhỏ như


20
20

tăng cường tình cảm mẹ con, tăng tiết oxytocin làm co hồi tử cung, tránh được băng
huyết sau sinh, cho con bú giúp bà mẹ giảm nguy cơ mắc một số bệnh ung thư như ung
thư vú, ung thư buồng trứng [4],
1.2.

Thực trạng về nuôi con bằng sữa mẹ

1.2.1.

Trên thế giói

3.64.

Số liệu từ 64 nước đang phát triển chiếm 69% số trẻ sinh ra trên thế giới



Bengal là 24,5% ; trong khi đó trong nghiên cứu tại Singur, Hooghly

(Tây Bengal) năm 2009 là 34,2%. Tương tự như vậy, một tỷ lệ trẻ em trong độ
tuổi từ 0 - 5 tháng tuổi được bú sữa mẹ là hơn 48,3% tại nông thôn Ấn Độ và
57,1% tại nông thôn Tây Bengal [37].


21
21

1.2.2.
3.69.

Tại Việt Nam
Số liệu từ các điều tra tại Việt Nam trong giai đoạn gần đây cho thấy tỷ

lệ cho con bú sớm khá cao nhưng tỷ lệ NCBSM hoàn toàn trong 6 tháng đầu là khá
thấp và không tăng lên [21]. Một nghiên cứu về thực hành của các bà mẹ người dân tộc
Mường huyện Lương Sơn cho thấy 21,6 % cho con bú mẹ hoàn toàn trong 4 tháng đầu;
66,2% bà mẹ cho con bú trong nửa giờ đầu sau đẻ, một trong những yếu tố liên quan
đến tình trạng không được bú mẹ hoàn toàn của trẻ trong 4 tháng đầu là tác động của
gia đình (P < 0,05) [8].
3.70.

Kết quả điều fra của Dự án A&T tại 4 tỉnh năm 2010 cho thấy, tỷ lệ trẻ

được BSSS là 58,5%; tỷ lệ trẻ được bú sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu là 18,4%; tỷ
lệ trẻ được bú sữa mẹ là chủ yếu trong 6 tháng đầu là 44,7% [62], Kết quả điều tra tại
11 tinh dự án năm 2011 cũng cho kết quả tương tự, tỷ lệ NCBSM hoàn toàn trong 6

22

nhân chính không cho bú sớm là mẹ đau, mệt sau để (81,3%). Toàn bộ sản phụ mổ để
(75 trong tổng số 290 bà mẹ nghiên cứu, chiếm 25,9%) không cho trẻ bú sớm [7]. Một
nghiên cứu của Viện Dinh duỡng quốc gia cho thấy tỉ lệ cho con bú sớm sau sinh khá
cao, cụ thể tỉ lệ cho trẻ bú ngay 30 phút đầu ngay sau sinh là 75,2% và tỉ lệ các bà mẹ
cho con bú hoàn toàn là 82%. Tuy nhiên chỉ có 16,9% trẻ đuợc bú mẹ hoàn toàn trong
vòng 6 tháng đầu, 38,7% các bà mẹ cho trẻ ăn thức ăn khác ngay trong tuần đầu, 7% trẻ
đuợc cai sữa sớm trong vòng 12 tháng và có tới 21,9% trẻ đuợc nuôi sữa bình [23].
3.74.

Một nghiên cứu của Nông Thị Thu Trang đuợc tiến hành tại bệnh viện

PSTƯ năm 2009 cho thấy kiến thức của bà mẹ trong việc cho trẻ bú sớm là chua cao.
Kiến thức của bà mẹ về sữa non và tác dụng của sữa non đối với trẻ sơ sinh tuơng đối
tốt nhung chỉ gần một nửa bà mẹ có kiến thức đúng về thời gian cho con BSSS. Nghiên
cứu này cũng cho thấy tỷ lệ bà mẹ cho bú trong vòng 1 giờ đầu sau sinh thấp, chỉ đạt
31%. Tỷ lệ bà mẹ có tu thế cho con bú đứng, con ngậm bắt núm bú đúng rất thấp, tuơng
ứng là 25,4% và 24,4%. Tuy nhiên tỉ lệ bà mẹ không cho con ăn hoặc uống thứ khác
truớc khi bú mẹ lần đầu theo đúng khuyến nghị về NCBSM khá cao, chiếm 76,9% [19].
1.3.

Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hành bú sớm và bú mẹ hoàn toàn

3.75.

Một số tác giả đã phân tích các yếu tố ảnh huởng đến tỷ lệ bà mẹ cho

con bú sớm và bú mẹ hoàn toàn. Những nghiên cứu này đã đua ra một số kết luận giải
thích vì sao kiến thức về lĩnh vực này khá tốt trong khi tỷ lệ thực hành lại thấp. Việc

cứu về tác động của cơ sở y tế, nhân viên y tế và không thu thập các thông tin này. Đây
có thể được coi là một trong những hạn chế của nghiên cứu.
1.4.

Vai trò của ngưòi cha vói thực hành nuôi con bằng sữa mẹ
3.78.

Trong những năm qua, vai trò của người cha đối với việc NCBSM là đề

tài được nhiều tác giả tập trung nghiên cứu. Ngay từ những năm đầu thập kỷ 90, Freed,
G. L cùng với J. K. Fraley và cộng sự tại Hoa Kỳ đã nghiên cứu về thái độ của những
người nam giới sắp có con (những ông bố tương lai) đối với việc NCBSM. Kết quả cho
thấy người cha thường tham gia vào việc lựa chọn phương pháp nuôi dưỡng trẻ sơ sinh.
Tuy nhiên họ thường không được đưa vào trong các chương trình giáo dục truyền thông
về NCBSM. Qua khảo sát 268 người đàn ông trước khi được tuyển chọn vào khỏa học
giáo dục về sinh con, 58% (n=156) cho biết vợ chồng họ đã lên kế hoạch để NCBSM
hoàn toàn; một số khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa người đàn ông này và những
người có kế hoạch cho con bú ngoài hoàn toàn. Nhóm dự định cho con bú mẹ có xu
hướng tin rằng bú sữa mẹ là tốt hơn cho trẻ (96% và 62%, p < 0,0001), giúp tăng cường
gắn bó mẹ con (92% và 53%, p < 0,0001), và bảo vệ trẻ sơ sinh (79% và 47%, p

3.81.

Cho đến năm 2005, Calen I. và cộng sự đã chỉ ra rằng có mối liên quan

giữa thực hành nuôi con bằng sữa mẹ với đặc điểm cá nhân của người cha cũng như
nghề nghiệp, trình độ học vấn, thu nhập hay sự tham gia hỗ trợ của người cha với vấn
đề này. Việc bà mẹ không cho trẻ bú sữa sớm là do bà mẹ tiết ít sữa hoặc có cảm giác
đau và khó chịu hay thiếu sự hỗ trợ của các thành viên trong gia đình sau sinh [26].
3.82.

Tại Việt Nam, mặc dù các đề tài nghiên cứu về vai trò của người cha với

vấn đề NCBSM bắt đầu tiến hành muộn hơn so với thế giới nhưng đã có không ít đề tài


25
25

quan tâm chuyên sâu vào vấn đề này. Một nghiên cứu năm 2006 tại Chí Linh cũng chỉ
ra mối liên quan giữa người cha, người chồng ữong gia đình với thực trạng chăm sóc và
nuôi dưỡng trẻ nhỏ. Cụ thể là sự tham gia trong chăm sóc sức khỏe của con giúp làm
giảm tỷ lệ thấp còi, suy dinh dưỡng ở trẻ nhỏ [2], Mặt khác, mối liên quan giữa vai trò
của người cha trong gia đình với việc thực hành NCBSM của người mẹ cũng đã được
các nghiên cứu trước đây đề cập đến, trong đó sự tham gia của người cha trong việc hỗ
trợ bà mẹ NCBSM có vai trò quan trọng trong việc gia tăng tỷ lệ bà mẹ NCBSM hoàn
toàn trong 6 tháng đầu [1], [6]. Bên cạnh đó, việc thực hành NCBSM cũng có mối liên
quan với các yếu tố cá nhân và vai trò của người cha trong gia đình như trình độ học
vấn, thu nhập [56] hay kiến thức, thái độ chưa tốt đối với việc NCBSM [28].
3.83.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status