nghiên cứu so sánh tình hình và thái độ xử trí thai từ 4000g trở lên ở những sản phụ đến đẻ tại bệnh viện phụ sản trung ương năm 1996 với năm 2006 - Pdf 22

ĐẶT VẤN ĐỀ
Thai nghén và sinh đẻ là chức năng sinh lý quan trọng của người phụ
nữ. Trọng lượng khi sinh của trẻ có một vai trò quan trọng trong đời sống của
trẻ sơ sinh khi mà trẻ thay đổi môi trường sống từ trong buồng tử cung của
người mẹ sang môi trường không khí bên ngoài. Trọng lượng của trẻ là một
yếu tố góp phần không nhỏ tới tỷ lệ tử vong, tỷ lệ mắc bệnh trong thời kỳ sơ
sinh, sự phát triển về trí tuệ thể lực của trẻ sau này.
Trọng lượng trung bình của trẻ sơ sinh Việt nam là 3000g ± 200
[1]. Trẻ sơ sinh có cân nặng lớn hơn so với tuổi thai còn gọi là thai to.
Thai to ≥ 4000g có nhiều yếu tố thuận lợi để giúp trẻ phát triển tốt về thể
chất, tinh thần và vận động sau này. Tuy nhiên, ở những trường hợp đẻ thai to
≥ 4000g có thể xảy ra nhiều nguy cơ cho cả bà mẹ và trẻ sơ sinh. Phát hiện
và đánh giá nguy cơ thai to có ý nghĩa quan trọng trong chăm sóc, quản lý
thai nghén và tiên lượng cuộc đẻ.
Theo nghiên cứu của Vũ Thị Duyên [8] tại bệnh viện Bạch Mai
trong hai năm từ 2002 – 2003 trong 7615 trẻ sinh ra thì có 212 trẻ có cân
nặng ≥ 4000g chiếm tỷ lệ 2,78%. Một nghiên cứu khác của Vetr M [64] từ
năm 2000 – 2004 tỷ lệ đẻ thai ≥ 4000g ở Cộng hoà Czech là 10,8%…và gần
đây nhất là nghiên cứu của Lê Thị Yến trong năm 2002 bệnh viện Phụ Sản
Trung ương có 278 trẻ sinh ra có trọng lượng lớn hơn hoặc bằng 4000g chiếm
tỉ lệ 2,6% [22]. theo nghiên cứu của Mathew M [52] về các yếu tố nguy cơ
của thai to ≥ 4000g và các hậu quả lâm sàng trên 350 311 thai phụ cũng chỉ
ra rằng những người mẹ đẻ thai to thường có những yếu tố nguy cơ liên quan:
tiền sử bị tiểu đường từ trước hoặc tiểu đường xuất hiện trong khi mang thai,
béo phì, tăng cân nhiều khi mang thai, tỷ lệ phải can thiệp phẫu thuật mổ lấy
thai cao. Các biến chứng trong chuyển dạ: ngôi bất thường, chảy máu, sang
1
chấn đường sinh dục …. đều cao hơn nhóm phụ nữ đẻ con có trọng lượng
trung bình. Mặt khác, trẻ sơ sinh có cân nặng cao cũng hay gặp một số yếu tố
nguy cơ: sang chấn trong cuộc đẻ, ngạt, hạ đường máu…
Trong những năm gần đây ở Việt Nam, với sự phát triển của nền kinh

* Thai to : ≥ 3500g
Trong nghiên cứu của Cunnigham [39] và Spellacy [59] thai to được định
nghĩa là thai cân nặng ít nhất 4000g hoặc hơn. Theo M.Hod và S.Aschkenazi
nghiên cứu tại Israel thì thai to là những thai có cân nặng trên 4000g.
Phân bổ tỷ lệ thai to cũng khác nhau rõ rệt giữa các nước. Theo nghiên
cứu thống kê cho thấy tỷ lệ thai ≥4000g ở các nước đã phát triển có tỷ lệ cao
hơn so với các nước đang phát triển. Tỷ lệ thai to gặp nhiều ở nước phát triển
như 10% ở Canada [30], 15% ở Đan Mạch [44] và ít gặp ở các nước phát
triển như 3,67% ở Bengal [40]. Tại Việt Nam, tỷ lệ thai ≥4000g ít gặp hơn và
theo thống kê của một số tác giả như Nguyễn Hữu Cần [3] khi nghiên cứu
trên 1000 trường hợp sinh ra trong 3 tháng cuối năm 1991 và 3 tháng đầu năm
3
1992 là 10 ca chiếm tỷ lệ 1% và theo tác giả Đào Quang Trung thống kê năm
1986 là 1,74%, của Lê Thị Yến [22] năm 2002 là 2,6%.
- Thai to toàn bộ còn gọi là thai mập: các kích thước của thai đều tăng
một cách cân đối.
- Thai to từng phần: chỉ một phần nào đó của thai phát triển quá mức;
đầu to, bụng to… Loại này thường do các bệnh lý dị dạng trầm trọng của thai:
não úng thuỷ, bụng cóc…
Trong nghiên cứu này chúng tôi chỉ đề cập nghiên cứu những trường
hợp thai to toàn bộ.
Đánh giá sơ sinh theo cân nặng và tuổi thai.
- Sơ sinh cân nặng phù hợp với tuổi thai (AGA: Appropriate for
Gestation Age): có cân nặng tương xứng với tuổi thai từ đường bách phân vị
10
th
đến 90
th
.
- Sơ sinh cân nặng lớn hơn so với tuổi thai (LGA: Large for Gestation

tế bào to về kích thước. Đến giai đoạn cuối thì quá trình tế bào to ra đóng vai
trò chính còn quá trình tăng sản giảm dần trong vai trò phát triển của bào thai.
Sự phát triển thai kéo dài đến tuần thứ 38 sau đó bắt đầu có xu hướng chậm
lại, đến hết tuần 40 cân nặng thai nhi đạt tới mức tối đa.
1.3.3. Tính chất thai nhi đủ tháng.
Thai nhi đủ tháng có cấu tạo giải phẫu gần giống như người lớn, nhưng
về sinh lý tuần hoàn hô hấp có những điểm khác so với người lớn. Thai đủ
tháng có cân nặng trung bình 3000g ± 200g, có chiều dài trung bình 48 –
50cm. Các kích thước, trọng lượng và tư thế của thai nhi trong buồng tử cung
là những yếu tố quyết định cho cuộc đẻ [1].
5
* Tuần hoàn
Tim có 4 buồng nhưng 2 tâm nhĩ thông vớí nhau bởi lỗ Botal, động
mạch phổi thông với động mạch chủ bởi ống động mạch. Từ 2 động mạch
chậu trong tách ra 2 động mạch rốn đi theo dây rau vào bánh rau, máu đỏ đi
từ các mao mạch của các tua rau trở về nuôi dưỡng thai nhi qua tĩnh mạch
rốn. Chu kỳ tuần hoàn như sau: máu đỏ từ các gai rau mang các chất dinh
dưỡng và oxy đi vào thai nhi bằng tĩnh mạch rốn. Khi tới tĩnh mạch chủ dưới
máu đỏ sẽ pha trộn với máu đen từ nửa dưới cơ thể, để cùng đổ vào tĩnh mạch
chủ. Đến tâm nhĩ phải máu một phần xuống tâm thất phải để vào động mạch
phổi, một phần qua lỗ Botal sang tâm nhĩ trái. Vì phổi chưa làm việc nên một
phần máu từ động mạch phổi theo ống động mạch đến động mạch chủ. Động
mạch chủ cũng nhận máu từ tâm thất trái chảy ra, rồi đem đi nuôi khắp cơ thể,
đến động mạch hạ vị tách ra hai động mạch rốn đưa máu về bánh rau để trao
đổi chất. Như vậy, hầu hết máu trong thai nhi là máu pha trộn, nồng độ bão
hoà oxy thấp. Sau khi thai nhi sổ ra ngoài được gọi là trẻ sơ sinh, khi cuống
rốn được cắt thì rau đình chỉ chức phận của nó. Trẻ sơ sinh bắt đầu thở, phổi
bắt đầu hoạt động, tiểu tuần hoàn bắt đầu làm việc, lỗ Botal đóng lại, ống
động mạch teo đi, các mạch máu rốn và ống Arantius thôi làm việc. Trẻ sơ
sinh bắt đầu sống với hệ tuần hoàn vĩnh viễn giống như người lớn [1].

đánh giá sự phát triển của thai nhi trong tử cung và tình trạng sức khoẻ của trẻ
sơ sinh sau khi đẻ, cân nặng của trẻ càng thấp, tỷ lệ tử vong và tỷ lệ mắc bệnh
của trẻ càng cao. Cân nặng thai bình thường nằm ở đường bách phân thứ 10
7
đến đường bách phân thứ 90 so với tuổi thai, thai nhỏ hơn so với tuổi thai nếu
cân nặng dưới đường bách phân thứ 10 so với tuổi thai và lớn hơn so với tuổi
thai nếu cân nặng trên đường bách phân thứ 90 so với tuổi thai [39],[56].
Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về cân nặng trẻ sơ sinh tiến hành ở
nhiều vùng khác nhau, dựa trên những tiêu chuẩn chọn mẫu khác nhau và cho
những kết quả rất khác nhau. Tuy nhiên, các tác giả đều nhận thấy rằng thông
thường con rạ nặng hơn con so, trẻ sơ sinh trai nặng hơn trẻ sơ sinh gái và
điều kiện kinh tế xã hội là yếu tố ảnh hưởng rất có ý nghĩa đến cân nặng trẻ sơ
sinh [39].
Ở Việt Nam, theo các nghiên cứu về cân nặng trẻ sơ sinh, mặc dù rất khó
để so sánh vì các tác giả không đưa ra tiêu chuẩn chọn mẫu hoặc các tiêu
chuẩn chọn mẫu không thống nhất nhau, tuy nhiên, kết quả cho thấy, cân
nặng trung bình của trẻ sơ sinh Việt Nam đủ tháng đã có chiều hướng tăng lên
theo thời gian.
Bảng 1.1. Kết quả về cân nặng trẻ sơ sinh của một số tác giả Việt Nam
Tên tác giả
Cân nặng trẻ sơ sinh (g)
Trung
bình
Trai Gái
Nặng
nhất
Nhẹ
nhất
Nguyễn Huy Cận [4] (1967) 2998g 3015g 2967g 4000g 2000g
Nguyễn Hữu Cần [3] (1992) 3083g 3107g 3068g 4000g 2500g

600ml/phút trong khi đó lưu lượng tuần hoàn máu thai là 70 – 200ml/phút.
9
Sự trao đổi chất khí xảy ra theo cơ chế khuyếch tán đơn thuần, tuỳ theo
áp xuất của các khí hoà tan trong máu mẹ và thai. Oxy có nồng độ cao trong
máu mẹ sẽ được vận chuyển sang thai, hemoglobin trong máu thai nhi có đặc
tính thu nhận oxy dễ dàng. Khí carbonic cũng được vận chuyển từ máu thai
nhi sang máu mẹ theo cơ chế này.
Nước và các chất điện giải qua rau thai nhờ cơ thể thẩm thấu, bánh rau
còn có khả năng dự trữ sắt và canxi nhất là vào cuối thời kỳ thai nghén.
Protein từ mẹ qua rau thai theo kích thước của các phân tử từ albumin
đến gamma globulin, sự vận chuyển này có hiệu quả hơn ở những tháng
cuối của thai nghén. Protein phân giải thành các acid amin để qua rau thai
sau đó các gai rau lại tổng hợp thành các protein đặc hiệu cho thai. Các
chất mỡ qua rau thai rất hạn chế, chỉ vài acid béo có trọng lượng phân tử
thấp mới qua được trong dầu. Các vitamin nhóm B, C và acid folic qua rau
thai dễ dàng hơn.
Ngoài ra rau thai còn đóng vai trò như một hàng rào bảo vệ không cho
vi khuẩn đi qua nhưng các virus như cúm, rubela…. có thể qua rau thai một
cách dễ dàng. Xoắn khuẩn giang mai có thể qua rau thai sau tháng thứ 5 và có
thể gây bệnh cho thai nhi. Các thuốc có trọng lượng phân tử dưới 600 đơn vị
dalton đều qua rau thai dễ, ngược lại các chất có trọng lượng phân tử trên
1000 đơn vị dalton khó qua rau thai. Tuy nhiên, việc các thuốc có hay không
qua rau thai còn phụ thuộc nhiều vào liều lượng, đường dùng và thời gian
dùng thuốc. Vì vậy việc sử dụng thuốc cho phụ nữ có thai phải hết sức thận
trọng. Các kháng thể có thể qua rau thai tạo khả năng miễn dịch thụ động cho
thai nhi.
Bánh rau còn tiết ra một số hormon vào máu cơ thể người mẹ làm cho
người mẹ thích nghi với tình trạng thai nghén và tạo điều kiện thuận lợi cho
10
sự phát triển của thai, chúng gồm hai nhóm: hormon loại peptid và các

đường âm đạo nhưng thường gây đẻ khó. Nói chung thai càng to thời gian
chuyển dạ càng kéo dài, tỷ lệ đẻ can thiệp foxep, phẫu thuật mổ lấy thai và đẻ
khó do vai cao.
Những thai có trọng lượng trên 4500g tỷ lệ chết trong đẻ và tỷ lệ chết
vì chấn thương tăng cao đặc biệt là đẻ khó do vai.
Thai ≥ 4000g thường gặp ở những người con rạ đẻ nhiều lần, do
nguyên nhân di truyền, ở những người béo phì, người mẹ bị tiểu đường, hoặc
thai quá ngày sinh. Cần phải chẩn đoán phân biệt thai to với đa thai, đa ối.
Việc ước tính trọng lượng thai trước khi sinh rất khó khăn, hiện nay
vẫn còn là thách thức với các nhà sản khoa. Chính vì vậy ở những trường hợp
có dấu hiệu nghi ngờ thai ≥ 4000g cần phải phối hợp giữa thăm khám lâm
sàng cẩn thận kết hợp với các thăm dò cận lâm sàng.
- Đánh giá lâm sàng: Miller và cộng sự [54] cho rằng nghi ngờ thai ≥
4000g nếu thai đủ tháng, chiều cao tử cung trên 40cm, tuy nhiên chiều cao tử
cung cũng còn phụ thuộc vào kỹ năng của người khám và bề dày thành bụng
của thai phụ
- Đánh giá siêu âm: giá trị của siêu âm trong đánh giá thai ≥ 4000g
chắc chắn hơn. Tuy nhiên sai số trong ước lượng trọng lượng thai bằng siêu
âm khoảng 10 – 15% [25]. Hiện nay đã có nhiều kỹ thuật đo phối hợp giữa
các số liệu trong chẩn đoán siêu âm: chu vi bụng qua tĩnh mạch rốn, đường
kính trung bình bụng, tính thể tích của thai nhi… Chính vì vậy độ chính xác
trong chẩn đoán thai ≥ 4000gr bằng siêu âm ngày càng được cải thiện. Một
số nghiên cứu [9], [35], [36] đã đưa ra biểu đồ phát triển thai nhi theo tuổi
12
thai, thấy trọng lượng thai phát triển nhanh vào những tháng cuối, cho nên
những phương pháp đánh giá trọng lượng thai bằng siêu âm thường có độ
chính xác cao hơn ở tuổi thai trên 38 tuần (sai số trong ước lượng trọng lượng
thai chỉ còn 6,3 – 6,9%). Năm 2002 Best và cộng sự [28] gợi ý một phương
pháp mới dựa trên siêu âm đo lớp mỡ dưới da đùi thai nhi, phương pháp này
có độ chính xác cao hơn ở nhóm thai nhỏ nên có giá trị trong sàng lọc thai

đứa trẻ mà họ sinh ra.
1.5.2.1. Yếu tố về phía mẹ.
- Tuổi của mẹ: đã có nhiều công trình nghiên cứu chứng minh mối liên
quan giữa tuổi mẹ và cân nặng của trẻ. Kết quả nghiên cứu cho thấy các bà
mẹ dưới 20 tuổi và trên 35 tuổi có nguy cơ đẻ con nhẹ cân hơn so với nhóm
tuổi từ 21 – 34. Các bà mẹ trẻ do cơ thể chưa phát triển hoàn thiện, khung
xương chậu phát triển chưa chín muồi, mặt khác ở lứa tuổi này có thể do bà
mẹ còn thiếu kiến thức bảo vệ và chăm sóc thai nghén nên tăng nguy cơ đẻ
con nhẹ cân. Ở một số nghiên cứu thấy tỷ lệ thai ≥ 4000g thường gặp ở
những bà mẹ cao tuổi [58], [61], [64], điều này do phối hợp một số yếu tố
thuận lợi con rạ, tiền sử đẻ thai to…
- Dinh dưỡng của người mẹ khi mang thai: thai nhi sống và phát triển
trong buồng tử cung phụ thuộc hoàn toàn vào người mẹ qua tuần hoàn rau
thai. Vì vậy, chế độ dinh dưỡng của mẹ trong thời gian mang thai có tác động
rất lớn và được coi là những yếu tố liên quan đến sự phát triển của thai và ảnh
hưởng đến cân nặng của trẻ lúc đẻ. Ở Việt Nam việc đánh giá khẩu phần dinh
14
dưỡng cho các bữa ăn rất khó khăn, việc xác dịnh chế độ dinh dưỡng tốt trong
khi mang thai chỉ là tương đối khi người mẹ được tư vấn về chế độ ăn uống
khi mang thai và có thay đổi chế độ ăn phù hợp trong khi thai nghén. Tuy
nhiên, một số nghiên cứu nước ngoài đã chứng minh mối liên quan giữa chế
độ dinh dưỡng của người mẹ khi mang thai với cân nặng thai nhi [30], [51],
[54], [55].
- Tăng cân của bà mẹ trong quá trình mang thai: tổng số cân nặng của
mẹ tăng trong suốt quá trình mang thai bình thường từ 10 – 12kg, 3 tháng đầu
tăng khoảng 1 – 1,5kg, ba tháng giữa tăng khoảng 4 – 5 kg, ba tháng cuối tăng
khoảng 6kg. Tăng cân của mẹ trong quá trình mang thai có liên quan chặt chẽ
đến trọng lượng của trẻ sơ sinh khi đẻ [8]. Theo Bergmann [26] khi nghiên
cứu trên 2994 bà mẹ mang thai đã thấy sự tăng cân của bà mẹ có liên quan
đến cân nặng của con theo các quý:

nhẹ cân. Vì vậy khoảng cách giữa hai lần sinh hợp lý sẽ tạo điều kiện thuận lợi
cho sự phát triển của thai trong tử cung. Tỷ lệ đẻ thai ≥ 4000gr cao hơn ở
nhóm có khoảng cách giữa hai lần sinh trên 5 năm, tuy nhiên một số tác giả cho
rằng mối tương quan này chưa có ý nghĩa thống kê [23], [48], [52], [55].
- Chỉ số khối cơ thể (BMI – Body Mass Index): Chỉ số khối cơ thể
được tính theo công thức: BMI = cân nặng (kg)/bình phương chiều cao (m).
Tiêu chuẩn phân loại dư cân và béo phì dựa trên BMI được Tổ chức y tế thế
giới điều chỉnh cho người Châu Á giới thiệu năm 2000 như sau:
BMI Phân loại
16
< 18,5 Nhẹ cân
18,5 – 22,9 Bình thường
23 – 24,9 Dư cân
25 – 29,9 Béo phì độ I
≥ 30
Béo phì độ II
Nhiều nghiên cứu đã đưa ra các bằng chứng chứng minh chỉ số khối cơ
thể liên quan đến sự phát triển của thai trong buồng tử cung, người mẹ béo
phì chỉ số khối cơ thể cao tỷ lệ đẻ thai ≥ 4000g càng cao [25], [50], [64].
BMI cao có thể do người mẹ tăng cân nhiều và có chế độ dinh dưỡng
hợp lý trong thời gian mang thai. Theo nghiên cứu của Vũ Thị Duyên [8]
trọng lượng mẹ lúc đẻ và số cân tăng trong khi mang thai có liên quan đến đẻ
thai ≥ 4000gr (p < 0,01. Wollschlaeger và cộng sự [66] cho biết trọng lượng
trung bình của bà mẹ khi đẻ và trước khi có thai ở nhóm thai to đều cao hơn
nhóm chứng sự khác biệt có ý nghĩa thống kê. Các nghiên cứu của Wen, Van
Hoorn, Stotland và Isaeve [44], [57], [60], [63] cũng cho các kết quả tương tự.
- Mẹ bị tiểu đường: tiểu đường là một bệnh nội tiết không chỉ ảnh
hưởng trực tiếp lệ tình trạng sức khoẻ của người mẹ mà còn ảnh hưởng đến sự
phát triển của thai nhi. Theo tác giả Hoàng Thị Bích Ngọc [18] phụ nữ có thai
kèm theo tiểu đường gồm hai loại:

và tỷ lệ thai ≥ 4000g , một nghiên cứu về thai ≥ 4000g của Vetr năm 2005
[61] cũng cho kết quả tương tự. Tuy nhiên nhiều nghiên cứu ở các nước
phương Tây [34], [38], [40], [41] đều cho kết quả có mối liên quan chặt chẽ
giữa đường huyết với tỷ lệ thai to. Các và đã đưa ra khuyến cáo: tất cả những
18
phụ nữ có thai cần được xét nghiệm sàng lọc đường máu ở quý II của thai
nghén. Những người có nguy cơ cao mà xét nghiệm âm tính thì cần xét
nghiệm lại vào quý III. Những thai phụ có đường máu tăng và tiểu đường phụ
thuộc Insulin 5 – 10% có triệu chứng của thai to [24], [25], [27], [29], [31].
- Bệnh của mẹ trong thời gian mang thai: theo các tài liệu trong y văn,
hầu hết các triệu chứng, bệnh tật liên quan đến thai nghén như nhiễm độc thai
nghén, sản giật, nhiễm khuẩn, nhiễm virut, thiếu máu … đều là cản trở sự
phát triển của thai gây ra đẻ non và chậm phát triển thai trong tử cung. Tuy
nhiên đã có một vài nghiên cứu chứng minh một số bệnh lý của mẹ trong thời
kỳ mang thai tác động làm thai phát triển quá mức trong tử cung: béo phì, tiểu
đường, cao huyết áp với thai nghén, tiền sản giật [61], [62], [64].
- Thiếu máu của mẹ trong thời gian mang thai: thiếu máu là sự giảm số
lượng hồng cầu hoặc giảm nồng độ huyết sắc tố ở máu ngoại vi dẫn đến thiếu
oxy để cung cấp cho các tổ chức của cơ thể. Sự nuôi dưỡng thai chịu ảnh
hưởng sự tưới máu tuần hoàn của người mẹ tới bánh rau và thai. Nếu tuần
hoàn máu mẹ đầy đủ sẽ cung cấp đủ dinh dưỡng cho thai và ngược lại nếu
người mẹ bị thiếu máu trong giai đoạn mang thai sẽ có ảnh hưởng xấu đến
thai. Theo thống kê của tổ chức y tế Thế giới thì 56% phụ nữ có thai ở các
nước đang phát triển bị thiếu máu và ở các nước phát triển thì tỷ lệ này là
18%. Thiếu máu trong thời kỳ thai nghén thường là nguyên nhân của sẩy thai,
đẻ non, thai suy dinh dưỡng trong tử cung và đẻ con nhẹ cân, điều này đã
được chứng minh bởi một số nghiên cứu trong nước của các tác giả Cù Thị
Minh Hiền, Đinh Thị Phương Hoà, Lê Thị Hồng Huệ, Hoàng Văn Tiến [10],
[13], [14], [20]. Ở phụ nữ có thai có thể bị thiếu máu sinh lý do sự tăng cân
không đồng đều giữa thể tích huyết tương và khối lượng hồng cầu. Nguyên

có nghĩa là làm giảm các biến chứng của đẻ đường âm đạo cho những trường
hợp thai ≥ 4000g . Trong nghiên cứu của Specllacy và cộng sự [59], tỷ lệ thai
quá ngày sinh trong thai ≥ 4000g là 10,8%: nghiên cứu của Berard J. [25]
17% bệnh nhân đẻ ở tuổi thai sau 42 tuần.
- Giới tính thai: các nghiên cứu trong và ngoài nước đều cho cùng một
nhận xét: tỷ lệ thai ≥ 4000g ở trẻ sơ sinh trai cao hơn trẻ sơ sinh gái. Nhiễm
sắc thể giới Y có ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển của bào thai.
Năm 1968, Tamura và cộng sự [62] đã nhận xét ảnh hưởng đáng kể của
giới đối với cân nặng của trẻ sơ sinh trên một số trường hợp. Sự ảnh hưởng đó
thấy rõ sau 36 tuần, trọng lượng trẻ sơ sinh trai lớn hơn trẻ gái, đồng thời đã
nêu ra sự chênh lệch trong lượng con rạ lớn hơn so 100g từ tuần thứ 32 trở đi.
21
Chng 2
I TNG V PHNG PHP NGHIấN CU
2.1. i tng nghiờn cu.
- Gồm 2 nhóm:
Nhóm I: Hồi cứu hồ sơ các sản phụ sinh con 4000g tại Bệnh viện Phụ
sản Trung ơng từ tháng 1/1996 đến 12/1996.
Nhóm II: Hồi cứu hồ sơ các sản phụ sinh con 4000g tại Bệnh viện
Phụ sản Trung ơng từ tháng 1/2006 đến 12/2006.
2.1.1. Tiờu chun chn mu cho 2 nhúm
- Một thai
- S sinh cú cõn nng 4000g.
- Tr s sinh ra sng.
- Không có bất thờng thai và phần phụ
- Cỏc thụng tin v yu t nghiờn cu ca b m v tr s sinh c ghi
chộp y trong h s.
2.1.2. Tiờu chun loi tr.
- a thai
- Thai cht lu

- Bệnh lý sản khoa trong thời kỳ mang thai: nạo sẩy thai, đẻ non, rau
tiền đạo, tiền sản giật, rau bong non, đa ối, thiếu ối…
- Bệnh lý nội khoa trong thời kỳ mang thai: bệnh thận, bệnh tim, tăng
huyết, tiểu đường, Basedow…
- Chỉ số đường huyết trong khi mang thai.
- Các thuốc sử dụng trong khi mang thai.
2.5.3. Tình trạng trẻ sơ sinh
- Tuổi thai
- Chiều cao tử cung, vòng bụng.
- Ngôi thai.
- Cách chuyển dạ: chuyển dạ tự nhiên, gây chuyển dạ.
- Cách đẻ: đẻ thường, đẻ có can thiệp, mổ lấy thai.
- Tình trạng trẻ sau đẻ:
+ Giới tính
+ Cân nặng
+ Apgar
24
2.5.4. Tai biến xảy ra trong cuộc đẻ
- Mẹ: rách tầng sinh môn, chảy máu, bí đái, nhiễm khuẩn…
- Con: ngạt, nhiễm khuẩn, hạ đường máu, co giật…
2.6. Một số tiêu chuẩn đánh giá có liên quan đến nghiên cứu
- Trọng lượng thai: tính bằng gam, trẻ được cân ngay khi đẻ hoặc sau
mổ, cân được chia độ chính xác tới 50g.
- Cân nặng mẹ khi đẻ: tính bằng kg, sai số cho phép là 0,5kg.
- Chỉ số khối cơ thể của mẹ trước đẻ (BMI - Body Mass Index): được
tính theo công thức:
BMI =
Trong đó: cân nặng tính theo kg, chiều cao tính theo mét
Cách đánh giá như sau:
BMI Phân loại


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status