1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Thai nghén và sinh đẻ là chức năng sinh lý quan trọng của người phụ
nữ. Trọng lượng khi sinh của trẻ có một vai trò quan trọng trong đời sống của
trẻ sơ sinh khi mà trẻ thay đổi từ môi trường trong buồng tử cung của người
mẹ sang môi trường sống bên ngoài. Trọng lượng của trẻ là một yếu tố góp
phần không nhỏ tới tỷ lệ tử vong, tỷ lệ mắc bệnh trong thời kỳ sơ sinh, sự
phát triển về trí tuệ thể lực của trẻ sau này.
Trọng lượng trung bình của trẻ sơ sinh Việt nam là 3000g ± 200
[1]. Trẻ sơ sinh có cân nặng lớn hơn so với tuổi thai còn gọi là thai to.
Thai to ≥ 4000g có nhiều yếu tố thuận lợi để giúp trẻ phát triển tốt về thể
chất, tinh thần và vận động sau này. Tuy nhiên, ở những trường hợp đẻ thai to
≥ 4000g có thể xảy ra nhiều nguy cơ cho cả bà mẹ và trẻ sơ sinh. Phát hiện
và đánh giá nguy cơ thai to có ý nghĩa quan trọng trong chăm sóc, quản lý
thai nghén và tiên lượng cuộc đẻ.
2
Theo nghiên cứu của Vũ Thị Duyên [2] tại bệnh viện Bạch Mai
trong hai năm từ 2002 – 2003 trẻ có cân nặng ≥ 4000g chiếm tỷ lệ 2,78%.
Lê Thị Yến nghiên cứu trong năm 2002 bệnh viện Phụ Sản Trung ương tỷ lệ
trẻ đẻ ≥ 400g là 2,6%. Một nghiên cứu khác của Vetr M [3] từ năm 2000 –
2004 tỷ lệ đẻ thai ≥ 4000g ở Cộng hoà Czech là 10,8%…và gần đây nhất là
nghiên cứu của Buasaykham năm 2007 tại Bệnh viện Phụ Sản Trung Ương
trẻ sinh ra có trọng lượng lớn hơn hoặc bằng 4000g chiếm tỉ lệ 2,09% [4].
theo nghiên cứu của Mathew M [5] về các yếu tố nguy cơ của thai to ≥ 4000g
và các hậu quả lâm sàng trên 350 311 thai phụ cũng chỉ ra rằng những người
mẹ đẻ thai to thường có những yếu tố nguy cơ liên quan: tiền sử bị tiểu đường
từ trước hoặc tiểu đường xuất hiện trong khi mang thai, béo phì, tăng cân
nhiều khi mang thai, tỷ lệ phải can thiệp phẫu thuật mổ lấy thai cao. Các biến
chứng trong chuyển dạ: ngôi bất thường, chảy máu, sang chấn đường sinh dục
…. đều cao hơn nhóm phụ nữ đẻ con có trọng lượng trung bình. Mặt khác, trẻ
sơ sinh có cân nặng cao cũng hay gặp một số yếu tố nguy cơ: sang chấn trong
Phân bổ tỷ lệ thai to cũng khác nhau rõ rệt giữa các nước. Theo nghiên
cứu thống kê cho thấy tỷ lệ thai ≥4000g ở các nước đã phát triển có tỷ lệ cao
hơn so với các nước đang phát triển. Tỷ lệ thai to gặp nhiều ở nước phát triển
như 10% ở Canada [8], 15% ở Đan Mạch [9] và ít gặp ở các nước phát triển
như 3,67% ở Bengal [10]. Tại Việt Nam, tỷ lệ thai ≥4000g ít gặp hơn và theo
thống kê của một số tác giả như Nguyễn Hữu Cần [11] khi nghiên cứu trên
1000 trường hợp sinh ra trong 3 tháng cuối năm 1991 và 3 tháng đầu năm
1992 là 10 ca chiếm tỷ lệ 1% và theo tác giả Đào Quang Trung thống kê năm
1986 là 1,74%, của Lê Thị Yến [12] năm 2002 là 2,6%.
- Thai to toàn bộ còn gọi là thai mập: các kích thước của thai đều tăng
một cách cân đối.
- Thai to từng phần: chỉ một phần nào đó của thai phát triển quá mức;
đầu to, bụng to… Loại này thường do các bệnh lý dị dạng trầm trọng của thai:
não úng thuỷ, bụng cóc…
Trong nghiên cứu này chúng tôi chỉ đề cập nghiên cứu những trường
hợp thai to toàn bộ.
5
Đánh giá sơ sinh theo cân nặng và tuổi thai.
- Sơ sinh cân nặng phù hợp với tuổi thai (AGA: Appropriate for
Gestation Age): có cân nặng tương xứng với tuổi thai từ đường bách phân vị
10
th
đến 90
th
.
- Sơ sinh cân nặng lớn hơn so với tuổi thai (LGA: Large for Gestation
Age): có cân nặng trên đường bách phân vị 90
th
.
- Sơ sinh cân nặng nhỏ hơn so với tuổi thai (SGA: Small for Gestation
2.3. Tính chất thai nhi đủ tháng.
Thai nhi đủ tháng có cấu tạo giải phẫu gần giống như người lớn, nhưng
về sinh lý tuần hoàn hô hấp có những điểm khác so với người lớn. Thai đủ
tháng có cân nặng trung bình 3000g ± 200g, có chiều dài trung bình 48 –
50cm. Các kích thước, trọng lượng và tư thế của thai nhi trong buồng tử cung
là những yếu tố quyết định cho cuộc đẻ [1].
* Tuần hoàn
Tim có 4 buồng nhưng 2 tâm nhĩ thông vớí nhau bởi lỗ Botal, động
mạch phổi thông với động mạch chủ bởi ống động mạch. Từ 2 động mạch
chậu trong tách ra 2 động mạch rốn đi theo dây rau vào bánh rau, máu đỏ đi
từ các mao mạch của các tua rau trở về nuôi dưỡng thai nhi qua tĩnh mạch
rốn. Chu kỳ tuần hoàn như sau: máu đỏ từ các gai rau mang các chất dinh
dưỡng và oxy đi vào thai nhi bằng tĩnh mạch rốn. Khi tới tĩnh mạch chủ dưới
máu đỏ sẽ pha trộn với máu đen từ nửa dưới cơ thể, để cùng đổ vào tĩnh mạch
chủ. Đến tâm nhĩ phải máu một phần xuống tâm thất phải để vào động mạch
phổi, một phần qua lỗ Botal sang tâm nhĩ trái. Vì phổi chưa làm việc nên một
phần máu từ động mạch phổi theo ống động mạch đến động mạch chủ. Động
mạch chủ cũng nhận máu từ tâm thất trái chảy ra, rồi đem đi nuôi khắp cơ thể,
đến động mạch hạ vị tách ra hai động mạch rốn đưa máu về bánh rau để trao
đổi chất. Như vậy, hầu hết máu trong thai nhi là máu pha trộn, nồng độ bão
7
hoà oxy thấp. Sau khi thai nhi sổ ra ngoài được gọi là trẻ sơ sinh, khi cuống
rốn được cắt thì rau đình chỉ chức phận của nó. Trẻ sơ sinh bắt đầu thở, phổi
bắt đầu hoạt động, tiểu tuần hoàn bắt đầu làm việc, lỗ Botal đóng lại, ống
động mạch teo đi, các mạch máu rốn và ống Arantius thôi làm việc. Trẻ sơ
sinh bắt đầu sống với hệ tuần hoàn vĩnh viễn giống như người lớn [1].
* Hô hấp
Thai nhi nằm trong tử cung sử dụng oxy trong máu người mẹ nhờ trao
đổi qua rau thai. Phổi chưa hoạt động nên xẹp, đặc, thả xuống nước thì chìm.
Cabonic từ các tế bào của thai nhi được chuyển vào các gai rau rồi thải vào các hồ
cân nặng dưới đường bách phân thứ 10 so với tuổi thai và lớn hơn so với tuổi
thai nếu cân nặng trên đường bách phân thứ 90 so với tuổi thai [14],[15].
Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về cân nặng trẻ sơ sinh tiến hành ở
nhiều vùng khác nhau, dựa trên những tiêu chuẩn chọn mẫu khác nhau và
cho những kết quả rất khác nhau. Tuy nhiên, các tác giả đều nhận thấy rằng
thông thường con rạ nặng hơn con so, trẻ sơ sinh trai nặng hơn trẻ sơ sinh
gái và điều kiện kinh tế xã hội là yếu tố ảnh hưởng rất có ý nghĩa đến cân
nặng trẻ sơ sinh [14].
Ở Việt Nam, theo các nghiên cứu về cân nặng trẻ sơ sinh, mặc dù rất khó
để so sánh vì các tác giả không đưa ra tiêu chuẩn chọn mẫu hoặc các tiêu
chuẩn chọn mẫu không thống nhất nhau, tuy nhiên, kết quả cho thấy, cân
nặng trung bình của trẻ sơ sinh Việt Nam đủ tháng đã có chiều hướng tăng lên
theo thời gian.
9
Bảng 1.1. Kết quả về cân nặng trẻ sơ sinh của một số tác giả Việt Nam
Tên tác giả
Cân nặng trẻ sơ sinh (g)
Trung
bình
Trai Gái
Nặng
nhất
Nhẹ
nhất
Nguyễn Huy Cận [16] (1967) 2998g 3015g 2967g 4000g 2000g
Nguyễn Hữu Cần [11] (1992) 3083g 3107g 3068g 4000g 2500g
Nguyễn Ngọc Khanh [17] (1995) 3021g 3068g 2967g
Nguyễn Cảnh Chương [18] (1998) 3184g 3270g 3093g 3890g 2577g
Phan Văn Quý [19] (1999) 3195g 3285g 3110g
Đàm Thị Quỳnh Liên [20] (2002) 3209g 3210g 3100g 5150g 1650g
tính thu nhận oxy dễ dàng. Khí carbonic cũng được vận chuyển từ máu thai
nhi sang máu mẹ theo cơ chế này.
Nước và các chất điện giải qua rau thai nhờ cơ thể thẩm thấu, bánh rau
còn có khả năng dự trữ sắt và canxi nhất là vào cuối thời kỳ thai nghén.
Protein từ mẹ qua rau thai theo kích thước của các phân tử từ albumin
đến gamma globulin, sự vận chuyển này có hiệu quả hơn ở những tháng
cuối của thai nghén. Protein phân giải thành các acid amin để qua rau thai
sau đó các gai rau lại tổng hợp thành các protein đặc hiệu cho thai. Các
chất mỡ qua rau thai rất hạn chế, chỉ vài acid béo có trọng lượng phân tử
thấp mới qua được trong dầu. Các vitamin nhóm B, C và acid folic qua rau
thai dễ dàng hơn.
Ngoài ra rau thai còn đóng vai trò như một hàng rào bảo vệ không cho
vi khuẩn đi qua nhưng các virus như cúm, rubela…. có thể qua rau thai một
11
cách dễ dàng. Xoắn khuẩn giang mai có thể qua rau thai sau tháng thứ 5 và có
thể gây bệnh cho thai nhi. Các thuốc có trọng lượng phân tử dưới 600 đơn vị
dalton đều qua rau thai dễ, ngược lại các chất có trọng lượng phân tử trên
1000 đơn vị dalton khó qua rau thai. Tuy nhiên, việc các thuốc có hay không
qua rau thai còn phụ thuộc nhiều vào liều lượng, đường dùng và thời gian
dùng thuốc. Vì vậy việc sử dụng thuốc cho phụ nữ có thai phải hết sức thận
trọng. Các kháng thể có thể qua rau thai tạo khả năng miễn dịch thụ động cho
thai nhi.
Bánh rau còn tiết ra một số hormon vào máu cơ thể người mẹ làm cho
người mẹ thích nghi với tình trạng thai nghén và tạo điều kiện thuận lợi cho
sự phát triển của thai, chúng gồm hai nhóm: hormon loại peptid và các
hormon loại steroid.
3.2. Yếu tố nội tiết trong giai đoạn bào thai
Người ta nhận thấy sự có mặt của các hormon trong sự phát triển và
duy trì thai. Các yếu tố phát triển giống như các hormon tuyến yên, tuyến
giáp, tuyến thượng thận tham gia vào cả hai thành phần phát triển là tăng sản
Thai ≥ 4000g thường gặp ở những người con rạ đẻ nhiều lần, do
nguyên nhân di truyền, ở những người béo phì, người mẹ bị tiểu đường, hoặc
thai quá ngày sinh. Cần phải chẩn đoán phân biệt thai to với đa thai, đa ối.
Việc ước tính trọng lượng thai trước khi sinh rất khó khăn, hiện nay
vẫn còn là thách thức với các nhà sản khoa. Chính vì vậy ở những trường hợp
có dấu hiệu nghi ngờ thai ≥ 4000g cần phải phối hợp giữa thăm khám lâm
sàng cẩn thận kết hợp với các thăm dò cận lâm sàng.
- Đánh giá lâm sàng: Miller và cộng sự [21] cho rằng nghi ngờ thai ≥
4000g nếu thai đủ tháng, chiều cao tử cung trên 40cm, tuy nhiên chiều cao tử
13
cung cũng còn phụ thuộc vào kỹ năng của người khám và bề dày thành bụng
của thai phụ
- Đánh giá siêu âm: giá trị của siêu âm trong đánh giá thai ≥ 4000g
chắc chắn hơn. Tuy nhiên sai số trong ước lượng trọng lượng thai bằng siêu
âm khoảng 10 – 15% [22]. Hiện nay đã có nhiều kỹ thuật đo phối hợp giữa
các số liệu trong chẩn đoán siêu âm: chu vi bụng qua tĩnh mạch rốn, đường
kính trung bình bụng, tính thể tích của thai nhi… Chính vì vậy độ chính xác
trong chẩn đoán thai ≥ 4000gr bằng siêu âm ngày càng được cải thiện. Một
số nghiên cứu [23], [24], [25] đã đưa ra biểu đồ phát triển thai nhi theo tuổi
thai, thấy trọng lượng thai phát triển nhanh vào những tháng cuối, cho nên
những phương pháp đánh giá trọng lượng thai bằng siêu âm thường có độ
chính xác cao hơn ở tuổi thai trên 38 tuần (sai số trong ước lượng trọng lượng
thai chỉ còn 6,3 – 6,9%). Năm 2002 Best và cộng sự [26] gợi ý một phương
pháp mới dựa trên siêu âm đo lớp mỡ dưới da đùi thai nhi, phương pháp này
có độ chính xác cao hơn ở nhóm thai nhỏ nên có giá trị trong sàng lọc thai
kém phát triển trong buồng tử cung.
Tóm lại không có một phương pháp đơn độc nào có giá trị để tiên
lượng thai ≥ 4000g với độ chính xác có thể chấp nhận được. Để đánh giá thai
≥ 4000g cần theo dõi thai nghén, phát hiện các yếu tố nguy cơ của thai ≥
4000g, thăm khám lâm sàng tỷ mỷ, phối hợp với các thăm dò cận lâm sàng.
tuổi từ 21 – 34. Các bà mẹ trẻ do cơ thể chưa phát triển hoàn thiện, khung
xương chậu phát triển chưa chín muồi, mặt khác ở lứa tuổi này có thể do bà
mẹ còn thiếu kiến thức bảo vệ và chăm sóc thai nghén nên tăng nguy cơ đẻ
con nhẹ cân. Ở một số nghiên cứu thấy tỷ lệ thai ≥ 4000g thường gặp ở
15
những bà mẹ cao tuổi [30], [31], [3], điều này do phối hợp một số yếu tố
thuận lợi con rạ, tiền sử đẻ thai to…
- Dinh dưỡng của người mẹ khi mang thai: thai nhi sống và phát triển
trong buồng tử cung phụ thuộc hoàn toàn vào người mẹ qua tuần hoàn rau
thai. Vì vậy, chế độ dinh dưỡng của mẹ trong thời gian mang thai có tác động
rất lớn và được coi là những yếu tố liên quan đến sự phát triển của thai và ảnh
hưởng đến cân nặng của trẻ lúc đẻ. Ở Việt Nam việc đánh giá khẩu phần dinh
dưỡng cho các bữa ăn rất khó khăn, việc xác dịnh chế độ dinh dưỡng tốt trong
khi mang thai chỉ là tương đối khi người mẹ được tư vấn về chế độ ăn uống khi
mang thai và có thay đổi chế độ ăn phù hợp trong khi thai nghén. Tuy nhiên, một
số nghiên cứu nước ngoài đã chứng minh mối liên quan giữa chế độ dinh dưỡng
của người mẹ khi mang thai với cân nặng thai nhi [8], [32], [21], [15].
- Tăng cân của bà mẹ trong quá trình mang thai: tổng số cân nặng của
mẹ tăng trong suốt quá trình mang thai bình thường từ 10 – 12kg, 3 tháng đầu
tăng khoảng 1 – 1,5kg, ba tháng giữa tăng khoảng 4 – 5 kg, ba tháng cuối tăng
khoảng 6kg. Tăng cân của mẹ trong quá trình mang thai có liên quan chặt chẽ
đến trọng lượng của trẻ sơ sinh khi đẻ [2]. Theo Bergmann [33] khi nghiên
cứu trên 2994 bà mẹ mang thai đã thấy sự tăng cân của bà mẹ có liên quan
đến cân nặng của con theo các quý:
+ Mỗi kilogram tăng cân của người mẹ trong quý I tương ứng với sự
tăng cân của con khi sinh là 18g/kg.
+ Mỗi kilogram tăng cân của người mẹ trong quý II tương ứng với sự
tăng cân của con khi sinh là 32,8g/kg.
+ Mỗi kilogram tăng cân của người mẹ trong quý III tương ứng với sự
tăng cân của con khi sinh là 17g/kg.
17
Tiêu chuẩn phân loại dư cân và béo phì dựa trên BMI được Tổ chức y tế thế
giới điều chỉnh cho người Châu Á giới thiệu năm 2000 như sau:
BMI Phân loại
< 18,5 Nhẹ cân
18,5 – 22,9 Bình thường
23 – 24,9 Dư cân
25 – 29,9 Béo phì độ I
≥ 30
Béo phì độ II
Nhiều nghiên cứu đã đưa ra các bằng chứng chứng minh chỉ số khối cơ
thể liên quan đến sự phát triển của thai trong buồng tử cung, người mẹ béo
phì chỉ số khối cơ thể cao tỷ lệ đẻ thai ≥ 4000g càng cao [22], [37], [3].
BMI cao có thể do người mẹ tăng cân nhiều và có chế độ dinh dưỡng
hợp lý trong thời gian mang thai. Theo nghiên cứu của Vũ Thị Duyên [2]
trọng lượng mẹ lúc đẻ và số cân tăng trong khi mang thai có liên quan đến đẻ
thai ≥ 4000gr (p < 0,01. Wollschlaeger và cộng sự cho biết trọng lượng trung
bình của bà mẹ khi đẻ và trước khi có thai ở nhóm thai to đều cao hơn nhóm
chứng sự khác biệt có ý nghĩa thống kê. Các nghiên cứu của Wen, Van
Hoorn, Stotland và Isaeve [27], [38], [39], [40] cũng cho các kết quả tương tự.
- Mẹ bị tiểu đường: tiểu đường là một bệnh nội tiết không chỉ ảnh
hưởng trực tiếp lệ tình trạng sức khoẻ của người mẹ mà còn ảnh hưởng đến sự
phát triển của thai nhi. Theo tác giả Hoàng Thị Bích Ngọc [41] phụ nữ có thai
kèm theo tiểu đường gồm hai loại:
+ Phụ nữ bị tiểu đường trước khi có thai chiếm 2 – 4/1000 phụ nữ có
thai, đa số trong số họ là tiểu đường phụ thuộc insulin, một lượng ít hơn những
người nhiều tuổi là tiểu đường không phụ thuộc insulin thường là béo phì.
18
+ Tiểu đường ở phụ nữ khi có thai, thuật ngữ này chỉ giới hạn những
phụ nữ sự khởi đầu hoặc nhận biết tiểu đường xảy ra lần đầu tiên trong thời
nghiệm lại vào quý III. Những thai phụ có đường máu tăng và tiểu đường phụ
thuộc Insulin 5 – 10% có triệu chứng của thai to [45], [22], [46], [47], [48].
- Bệnh của mẹ trong thời gian mang thai: theo các tài liệu trong y văn,
hầu hết các triệu chứng, bệnh tật liên quan đến thai nghén như nhiễm độc thai
nghén, sản giật, nhiễm khuẩn, nhiễm virut, thiếu máu … đều là cản trở sự
phát triển của thai gây ra đẻ non và chậm phát triển thai trong tử cung. Tuy
nhiên đã có một vài nghiên cứu chứng minh một số bệnh lý của mẹ trong thời
kỳ mang thai tác động làm thai phát triển quá mức trong tử cung: béo phì, tiểu
đường, cao huyết áp với thai nghén, tiền sản giật [31], [49], [3].
- Thiếu máu của mẹ trong thời gian mang thai: thiếu máu là sự giảm số
lượng hồng cầu hoặc giảm nồng độ huyết sắc tố ở máu ngoại vi dẫn đến thiếu
oxy để cung cấp cho các tổ chức của cơ thể. Sự nuôi dưỡng thai chịu ảnh
hưởng sự tưới máu tuần hoàn của người mẹ tới bánh rau và thai. Nếu tuần
hoàn máu mẹ đầy đủ sẽ cung cấp đủ dinh dưỡng cho thai và ngược lại nếu
người mẹ bị thiếu máu trong giai đoạn mang thai sẽ có ảnh hưởng xấu đến
thai. Theo thống kê của tổ chức y tế Thế giới thì 56% phụ nữ có thai ở các
nước đang phát triển bị thiếu máu và ở các nước phát triển thì tỷ lệ này là
18%. Thiếu máu trong thời kỳ thai nghén thường là nguyên nhân của sẩy thai,
đẻ non, thai suy dinh dưỡng trong tử cung và đẻ con nhẹ cân, điều này đã
được chứng minh bởi một số nghiên cứu trong nước của các tác giả Cù Thị
Minh Hiền, Đinh Thị Phương Hoà, Lê Thị Hồng Huệ, Hoàng Văn Tiến [50],
[51], [52], [53]. Ở phụ nữ có thai có thể bị thiếu máu sinh lý do sự tăng cân
20
không đồng đều giữa thể tích huyết tương và khối lượng hồng cầu. Nguyên
nhân thiếu máu đại đa số là do thiếu sắt và acid folic. Theo Đào Văn Chinh
[54] thì thiếu máu do thiếu chất sắt chiếm 80% các trường hợp thiếu máu khi
có thai khoảng 10 – 20% các phụ nữ ăn uống đầy đủ mà vẫn bị thiếu máu do
thiếu sắt. Các nghiên cứu trong và ngoài nước chưa tìm thấy mối liên quan
giữa lượng huyết sắc tố với tỷ lệ thai ≥ 4000g .
4.2.2. Yếu tố kinh tế xã hội.
Năm 1968, Tamura và cộng sự [49] đã nhận xét ảnh hưởng đáng kể của
giới đối với cân nặng của trẻ sơ sinh trên một số trường hợp. Sự ảnh hưởng đó
thấy rõ sau 36 tuần, trọng lượng trẻ sơ sinh trai lớn hơn trẻ gái, đồng thời đã
nêu ra sự chênh lệch trong lượng con rạ lớn hơn so 100g từ tuần thứ 32 trở đi.
22
Chương 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Gồm tất cả các sản phụ đến đẻ tại bệnh viện phụ sản Hà Nội trong năm
2014 đủ tiêu chuẩn để đưa vào nghiên cứu
2.1.1. Tiêu chuẩn chọn mẫu
- Trẻ sơ sinh đẻ ra sống
- Kh«ng cã bÊt thêng thai vµ phÇn phô
- Chiều dài sơ sinh (m)
- Cân nặng sơ sinh.
- Các thông tin và yếu tố nghiên cứu của bà mẹ và trẻ sơ sinh được ghi
chép đầy đủ trong hồ sơ.
2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ
- Đa thai
- Thai chết lưu
- Thai bất thường
2.2. Phương pháp nghiên cứu.
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu.
Nghiên cứu tiến cứu mô tả cắt ngang
2.2.2. Cỡ mẫu nghiên cứu.
n =
ε
α
.
)1(
- Tiền sử bệnh tật: tiểu đường, Basedow, tăng huyết áp, tim mạch, tiết
niệu, tiêu hoá và các bệnh khác.
- Tiền sử sản khoa: số lần đẻ đủ tháng, thiếu tháng, số lần nạo hút thai,
tiền sử đẻ con to.
2.5.2. Tình trạng thai nghén lần này:
- Chiều cao.
- Cân nặng
- Số cân tăng trong thời gian mang thai.
24
- Bệnh lý sản khoa trong thời kỳ mang thai: nạo sẩy thai, đẻ non, rau
tiền đạo, tiền sản giật, rau bong non, đa ối, thiếu ối…
- Bệnh lý nội khoa trong thời kỳ mang thai: bệnh thận, bệnh tim, tăng
huyết, tiểu đường, Basedow…
- Chỉ số đường huyết trong khi mang thai.
- Các thuốc sử dụng trong khi mang thai.
2.5.3. Tình trạng trẻ sơ sinh
- Tuổi thai
- Chiều cao tử cung, vòng bụng.
- Ngôi thai.
- Cách chuyển dạ: chuyển dạ tự nhiên, gây chuyển dạ.
- Cách đẻ: đẻ thường, đẻ có can thiệp, mổ lấy thai.
- Tình trạng trẻ sau đẻ:
+ Giới tính
+ Cân nặng
+ Apgar
2.5.4. Tai biến xảy ra trong cuộc đẻ
- Mẹ: rách tầng sinh môn, chảy máu, bí đái, nhiễm khuẩn…
- Con: ngạt, nhiễm khuẩn, hạ đường máu, co giật…
2.6. Một số tiêu chuẩn đánh giá có liên quan đến nghiên cứu
- Trọng lượng thai: tính bằng gam, trẻ được cân ngay khi đẻ hoặc sau