1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Tình trạng phá thai đang là vấn đề được quan tâm của nhiều quốc gia
trên thế giới. Theo quỹ dân số Liên Hợp Quốc (UNFPA), tình trạng phá thai
gia tăng một cách nhanh chóng và nhu cầu chấm dứt thai nghén ngoài ý muốn
còn rất lớn: năm 1990 có 26 triệu trường hợp, năm 1995 có hơn 40 triệu
trường hợp và đến năm 2000 đã có hơn 50 triệu trường hợp.
Việt Nam là nước được Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) xếp loại có tỷ lệ
phá thai cao nhất châu Á và là một trong năm nước phá thai nhiều nhất trên
thế giới. Theo thống kê của Bộ Y tế, mỗi năm Việt Nam có khoảng một triệu
trường hợp phá thai, tương ứng khoảng 51,9 trường hợp phá thai/100 trường
hợp sinh sống [1]. Tỷ lệ phá thai là 83/1000 phụ nữ tuổi sinh sản và tỷ suất
phá thai là 2,5 lần/ phụ nữ, nghĩa là mỗi phụ nữ Việt Nam sẽ có 2,5 lần phá
thai trong cuộc đời sinh đẻ [2].
Trong chiến lược sinh đẻ kế hoạch,nạo phá thai không được coi là biện
pháp tích cực để điều hòa sinh sản và không được khuyến khích. Thiếu hiểu
biết và không áp dụng các biện pháp tránh thai cũng là một lý do chính dẫn
đến có thai ngoài ý muốn. Có tới 70- 80% phụ nữ tuổi từ 15-24 đã quan hệ
tình dục nhưng chưa từng sử dụng một biện pháp tránh thai nào làm tăng
nguy cơ có thai ngoài ý muốn [3], [4].
Nạo phá thai không chỉ gây tác động xấu đến tâm lý, tinh thần của
người phụ nữ mà còn gây ra nhiều tai biến, nhất là phá thai to.Đặc biệt là tình
trạng nạo phá thai không an toàn đang gia tăng một cách nhanh chóng gây
nên những mối nguy hiểm tới sức khỏe và tính mạng của người phá thai.
Theo thống kê của WHO, năm 2003 trên thế giới có 19,7 triệu ca phá thai
không an toàn, năm 2008 con số này tăng lên 21,2 triệu trường hợp (trong đó
các nước đang phát triển chiếm trên 97 %) và có khoảng 358.000 phụ nữ chết
2
do tai biến của phá thai không an toàn năm 2008 (chiếm tỷ lệ ≈13 % tổng số
chết của phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ).
Hà Nội là thành phố đứng thứ 2 trong cả nước với số trường hợp phá
phải và xoay về phía phải, do đó sừng trái TC thường nhô ra phía trước. Sừng
bên phải chìm sâu xuống do ổ bụng phía đó rộng hơn [8].
Tháng đầu tiên TC còn ở khớp vệ. Từ tháng thứ hai trở đi, trung bình
mỗi tháng TC cao lên trên khớp vệ 4cm. Nhờ tính chất này, người ta có thể
tính tuổi thai theo công thức:
Chiều cao TC
Tuổi thai (tháng) = + 1
4
1.1.1.2. Cấu tạo
TC gồm ba phần: Thân, eo và CTC. Thành TC gồm ba lớp từ ngoài vào
trong: phúc mạc, cơ và niêm mạc.
- Phúc mạc: ở thân TC, phúc mạc dính chặt vào lớp cơ. Ở eo TC phúc
mạc có thể bóc tách dễ dàng ra khỏi lớp cơ TC. Ranh giới giữa hai vùng là
đường bám chặt của phúc mạc. Đó là ranh giới để phân biệt thân TC và đoạn
dưới TC. Người ta thường mổ lấy thai ở đoạn dưới TC để có thể che phủ
được phúc mạc sau khi đóng kín vết mổ qua lớp cơ TC.
4
- Cơ TC gồm 3 lớp: lớp ngoài, lớp giữa và lớp trong
Lớp ngoài: là lớp cơ dọc. Lớp này vòng qua đáy TC và kéo dài tới các
dây chằng của TC.
Lớp trong : là lớp cơ vòng, nó giống như cơ thắt quanh các lỗ vòi trứng
và lỗ trong CTC. Giữa hai lớp cơ này là lớp cơ chéo, lớp cơ này phát triển
mạnh nhất khi có thai. Khi có thai ở TC có hiện tượng tăng sinh cơ TC, tăng
giữ nước và phì đại các sợi cơ dẫn đến tăng dung tích TC.
- Niêm mạc TC: Niêm mạc TC khi có thai biến đổi dần thành ngoại sản
mạc. Ngoại sản mạc gồm ba phần: ngoại sản mạc trứng, ngoại sản mạc TC và
phần phát triển mạnh nhất là ngoại sản mạc TC- rau [8].
1.1.1.3. Mật độ
Khi không có thai, mật độ cơ TC chắc có tính đàn hồi.Khi có thai TC
mềm, các sợi cơ giảm trương lực, mềm đi do tác dụng của progesteron [8].
đẩy ra khỏi BTC. Động lực chính để đẩy thai ra khỏi BTC là CCTC. Những
diễn biến trong quá trình sảy thai có một số điểm giống và khác với chuyển dạ
thai đủ tháng. Thay đổi ở thân TC không khác thai đủ tháng, tuy nhiên cơ TC
ở tuổi thai này dầy hơn cơ TC khi thai đủ tháng dẫn đến áp lực tạo ra CCTC
sẽ khác nhau.
Tại tuổi thai từ 13- 22 tuần, đoạn dưới TC chưa hình thành, tác động
của CCTC chủ yếu thể hiện trên sự biến đổi ở CTC làm CTC co ngắn dần mở
ra. Kích thước và trọng lượng thai chưa lớn, các bộ phận cơ thể chưa đủ chắc,
dưới áp lực mạnh co bóp của thân TC nên thai bị đẩy ra ngoài mà không cần
CTC mở hết.
Ba yếu tố chính tác động lên quá trình sảy thai to giống như sinh lý
chuyển dạ đủ tháng: CCTC, ngôi thai và sự chín muồi của CTC. Ở tuổi thai
này, ngôi thai chưa ổn định nên bất kỳ phần nào của thai cũng có thể trở thành
ngôi. Tác động mở CTC không phải do ngôi thai mà do nước ối ít nên cũng
6
không có tác dụng làm mở CTC, vì vậy CCTC là động lực chính gây xóa mở
CTC. Nhưng do chưa có chuyển dạ, không có CCTC vì vậy phải có sự tác
động để gây CCTC đồng thời có yếu tố làm chín muồi CTC thì mới đẩy thai
và phần phụ ra khỏi BTC.
Mặt khác, tế bào cơ TC ít nhạy cảm đối với các yếu tố kích thích gây
cơn co và CTC có chiều dài lớn nhất trong toàn bộ thai kỳ [10] sẽ gây khó
khăn cho sự giãn nở và mở CTC trong quá trình sảy thai từ 13- 22 tuần [11],
[12],[13].
1.3.2. Các yếu tố tác động đến phá thai tại Việt Nam
1.3.2.1. Chính sách dân số
Chính sách dân số của nước ta là khuyến khích mỗi gia đình có 2 con
và giữ qui mô gia đình nhỏ. Năm 2003, chính phủ Việt Nam thông qua pháp
lệnh Dân số khẳng định mỗi gia đình chỉ nên có từ 1 đến 2 con. Nếu cán bộ
viên chức Nhà nước có thêm con thứ 3 sẽ bị kỷ luật tại cơ quan hoặc tổ chức
đang tham gia hoạt động, nếu là người ngoài tổ chức, cơ quan thì thuộc sự
1.4.1. Phương pháp đặt túi nước
Nghiên cứu được công bố sớm nhất là phương pháp tạo áp lực cơ học
lên buồng TC để khởi phát chuyển dạ của Krause. Năm 1855 tác giả sử dụng
sonde Nelaton số 16-18, luồn vào BTC ngoài buồng ối và bơm một lượng
dịch nhất định đồng thời chèn gạc vào âm đạo để giữ cho sonde không bị trôi
ra ngoài. Phương pháp này đơn giản, dễ thực hiện nhưng kết quả thấp, thời
gian sảy thai dài, nguy cơ nhiễm trùng cao [15].
Năm 1988, Champiertier de Ribes cải tiến phương pháp của Krause
bằng chế tạo một bóng cao su quấn quanh sonde Nelaton như điếu xì gà và
gọi là bóng Champertier de Ribes. Bóng có tác dụng thay thế túi ối, giúp cho
CTC mở nhanh hơn, được sử dụng cho PTT bằng cách đặt vào eo TC và bơm
một lượng dịch 200 -300 ml, bóng sẽ mắc lại phía trong CTC đồng thời người
ta tạo ra một lực kéo ra ngoài liên tục làm CTC mở dần.
8
Năm 1933, Aburrel người Rumani đề xuất phương pháp bơm dịch vào
buồng ối với mục đích làm tăng áp lực BTC. Tác giả sử dụng một kim chọc
qua thành bụng hoặc âm đạo và bơm vào buồng ối 200ml dung dịch mặn ưu
trương 20%.
Được áp dụng từ những năm 40 của thế kỷ 20, Phương pháp Kovac là
một phương pháp gây sảy thai to bằng cách đặt sonde Nelaton vào BTC ngoài
buồng ối được buộc vào một túi cao su và bơm vào đó dung dịch đẳng trương.
Lượng dịch đưa vào thường ≤ 500ml, rút sonde sau 12h làm tăng áp lực BTC
gây sảy thai.
Hiện nay phương pháp này ít được sử dụng vì hay gây ra biến chứng:
nhiễm khuẩn, chảy máu, vỡ tử cung. Năm 1999, Nguyễn Huy Bạo và cộng sự
so sánh gây sảy thai bằng Kovac với phương pháp đặt MSP liều 200mcg /6h
đặt âm đạo, ghi nhận hiệu quả tương đương nhau nhưng tỷ lệ biến chứng của
phá thai bằng MSP giảm đi 8,6% [16].
1.4.2. Phá thai bằng phương pháp nong và gắp thai
Được áp dụng từ giữa những năm 70 của thế kỷ trước, khởi đầu cho sự
chứng thường gặp là bong rau sớm. Một dung dịch khác được dùng thay nước
muối ưu trương là ure có độ thẩm thấu cao.Phương pháp dùng ure có thời
gian ra thai ngắn hơn nhưng tai biến tắc mạch cao hơn [17].
1.4.3.2. Gây sảy thai bằng prostaglandin (PG)
Các PG được coi là các hormone tại chỗ (hormone của mô), gặp ở rất
nhiều mô khác nhau trong cơ thể, tại hệ thống sinh sản nữ là PGE2 và PG F2.
Chất này tìm thấy ở buồng trứng, cơ TC, dịch kinh nguyệt. Khi có thai và
càng gần đến ngày chuyển dạ, nồng độ PG tăng cao trong máu mẹ, dịch ối,
dây rốn và máu thai. Ngày nay, các dẫn xuất tương tự PG đã được sản xuất và
sử dụng trên người như: PGF2 (Carboprost), PGE2 (sulprostol), PGE1(MSP)
MSP là prostaglandine thuộc nhóm E1. Năm 2002, Clarb ghi nhận
MSP có khả năng làm mềm CTC, tạo thuận lợi cho việc xóa mở CTC và tạo
10
CCTC gây đẩy thai ra ngoài [18].Vì vậy MSP được ứng dụng trong sản khoa:
gây sảy thai, gây chuyển dạ, chuẩn bị làm mềm CTC trước thủ thuật, chống
chảy máu TC sau đẻ. Các nghiên cứu luôn cảnh báo khả năng tạo CCTC
mạnh có thể vỡ TC khi gây chuyển dạ, kể cả những trường hợp thai nhỏ. Tác
dụng không mong muốn thường thấy của MSP là : buồn nôn, nôn, đau bụng,
đi ngoài phân lỏng, sốt rét run [19],[20], [21].
1.4.3.2. Gây sảy thai bằng Oxytocin
Là cuộc đẻ do người thầy thuốc sản khoa khởi động và điều khiển bằng
cách dùng Oxytocin truyền nhỏ giọt tĩnh mạch để chỉ huy các CCTC nhằm
gây chuyển dạ [7],[22],[23].
Tác dụng không mong muốn của Oxytocin hay xảy ra là gây CCTC
cường tính, tăng trương lực cơ bản của TC dẫn đến VTC, đờ TC sau đẻ [24],
[25]. Tác dụng đáng quan tâm của Oxytocin là chống bài niệu [26],[27].
Cách sử dụng: Pha 5UI Oxytocin vào 500ml dung dịch Glucose 5%,
truyền nhỏ giọt TM 5-7 giọt/phút, sau đó điều chỉnh tốc độ giọt theo cơn co
và độ xóa mở CTC.
Oxytocin được sử dụng rộng rãi như một chất làm co TC nhờ tác dụng
Oxytocin có tác dụng co cơ TC mạnh khi đang mang thai, đặc biệt
càng gần cuối thai kỳ, tác dụng co cơ TC càng mạnh. Vì tác dụng này nhiều
người cho rằng Oxytocin có liên quan đến cơ chế đẻ [35]. Sự đáp ứng cuả cơ
TC với Oxytocin khác nhau tùy từng sản phụ, từng giai đoạn chuyển dạ nên
liều lượng sử dụng cho từng người cũng khác nhau. Vì vậy khi sử dụng
Oxytocin phải luôn theo sát CCTC để đề phòng tai biến VTC. Tác dụng phụ
của Oxytocin : có thể gây hạ huyết áp, rối loạn nhịp tim nếu dùng liều cao
hoặc tiêm truyền quá nhanh.
12
1.4.1.2. Chỉ định, chống chỉ định và tai biến của Oxytocin
* Chỉ định:
+ Trong sản khoa: Gây chuyển dạ và thúc đẩy chuyển dạ trong
những trường hợp chuyển dạ kéo dài, rút ngắn thời gian chuyển dạ, cầm máu
và dự phòng cầm máu sau đẻ và sau nạo hút thai.
+Trong phụ khoa: Cầm máu các nguyên nhân chảy máu từ TC: u xơ
TC, rong kinh – rong huyết…
+ Kích thích bài tiết sữa do tác dụng co bóp ở biểu mô ống tuyến sữa.
* Chống chỉ định: Bao gồm tất cả các chống chỉ đinh đẻ đường dưới
◦ Bất tương xứng thai- khung chậu
◦ Ngôi thai bất thường
◦ Khối u tiền đạo.
◦ TC có sẹo mổ cũ…
* Tai biến của Oxytocin:
- Gây rối loạn CCTC
- Dùng qúa liều gây CCTC cường tính, VTC.
- Suy thai
- Có thể gây ngộ độc nước khi truyền dịch kéo dài.
1.4.2. Misoprostol (MSP)
1.4.2.1. Dược động học
MSP là một đồng phân tổng hợp của PGE1 (15deoxy- 16hydroxyl-
* Chống chỉ định
+ Chống chỉ định tuyệt đối:
- Bệnh lý tuyến thượng thận.
- Điều trị Corticoid toàn thân lâu ngày.
- Tiểu đường, tăng huyết áp, hẹp van 2 lá, tắc mạch và tiền sử tắc mạch.
14
- Rối loạn đông máu, sử dụng thuốc chống đông.
- Thiếu máu (nặng hoặc trung bình).
- Dị ứng với MSP
- Có sẹo mổ ở thân TC
+ Chống chỉ định tương đối:
- Đang viêm nhiễm đường sinh dục cấp tính (cần được điều trị).
- Dị dạng sinh dục (chỉ được làm tại tuyến trung ương).
- Có sẹo mổ cũ ở đoạn dưới TC: cần cân nhắc rất thận trọng đồng thời
phải giảm liều MSP và tăng khoảng cách thời gian giữa các lần dùng thuốc (chỉ
được làm tại bệnh viện chuyên khoa phụ sản tuyến tỉnh và tuyến trung ương).
* Tác dụng phụ: MSP có thể có thể tạo CCTC mạnh làm VTC khi
gây chuyển dạ kể cả thai nhỏ.
Ngoài ra MSP có thể gây một số tác dụng phụ sau: Sốt, rét run, tiêu
chảy,nôn và buồn nôn, đau đầu, đau vùng thượng vị. Các tác dụng này phụ
thuộc vào liều lượng và đường sử dụng, tác dụng phụ khi đặt âm đạo ít hơn
đường uống.
1.5. Các phương pháp phá thai to theo quy định của BYT (Hướng dẫn
chuẩn quốc gia năm 2009 [9]).
1.5.1. Phá thai bằng phương pháp nong và gắp từ tuần 13 đến hết tuần 18.
Nong và gắp là phương pháp chấm dứt thai nghén bằng cách sử dụng
MSP để chuẩn bị CTC, sau đó nong CTC và dùng bơm hút chân không kết
hợp với kẹp gắp thai để lấy thai ra, áp dụng cho tuổi thai từ tuần thứ 13 đến
hết tuần thứ 18.
Tuyến áp dụng.
- Người cung cấp dịch vụ tự giới thiệu với khách hàng.
16
- Hỏi tiền sử bệnh về nội, ngoại, sản phụ khoa, tiền sử dị ứng và các
bệnh LTQĐTD.
- Khám toàn thân.
- Khám phụ khoa loại trừ chống chỉ định.
- Siêu âm.
- Xác định tuổi thai.
- Xét nghiệm máu: công thức máu, nhóm máu, đông máu cơ bản hoặc
máu chảy, máu đông.
- Khách hàng ký cam kết tự nguyện phá thai (dưới 18 tuổi phải có đơn
cam kết của bố hoặc mẹ, người giám hộ).
* Tư vấn
- Thảo luận về quyết định chấm dứt thai nghén.
- Các nguy cơ, tai biến và biến chứng có thể xảy ra khi phá thai to.
- Các phương pháp phá thai to.
- Các bước của thủ thuật nong và gắp.
- Tự theo dõi và chăm sóc sau phá thai.
- Các dấu hiệu cần khám lại ngay.
- Khả năng có thai lại sau phá thai. Các dấu hiệu thai nghén sớm dễ
nhận biết để tránh phá thai to.
- Thông tin về các BPTT, hướng dẫn chọn lựa BPTT thích hợp và sử
dụng đúng để tránh phá thai lần nữa.
- Trả lời những câu hỏi của khách hàng và giải quyết những vấn đề lo lắng.
- Cung cấp BPTT và giới thiệu địa điểm cung cấp BPTT.
* Người thực hiện thủ thuật.
- Rửa tay thường qui bằng xà phòng dưới vòi nước chảy.
- Trang phục y tế: áo choàng, quần, mũ, khẩu trang, đeo kính bảo hộ.
17
* Các bước tiến hành thủ thuật.
- Xử trí theo phác đồ cho từng tai biến.
* Theo dõi và chăm sóc.
Theo dõi mạch, huyết áp, nhiệt độ, ra máu âm đạo, đau bụng, co hồi tử
cung 30 phút một lần trong vòng 1 đến 2 giờ, sau đó có thể cho khách hàng về.
- Kê đơn kháng sinh.
- Tư vấn sau thủ thuật (xem phần tư vấn chung).
- Hẹn khám lại sau 2 tuần.
1.5.2. Phá thai bằng thuốc từ tuần 13 đến hết tuần 22
Sử dụng misoprostol đơn thuần hoặc sử dụng mifepriston kết hợp với
misoprostol để phá thai từ tuần 13 đến hết tuần 22.
Tuyến áp dụng.
Các bệnh viện từ tuyến tỉnh trở lên.
Người được phép thực hiện.
Bác sĩ chuyên khoa phụ sản được huấn luyện về phá thai bằng thuốc và
thành thạo kỹ thuật phá thai bằng phương pháp ngoại khoa.
1.5.2.1. Chỉ định.
Thai từ tuần thứ 13 (tương đương với chiều dài đầu mông 52mm) đến
hết tuần thứ 22 (tương đương với đường kính lưỡng đỉnh 52mm).
1.5.2.2. Chống chỉ định.
* CCĐ tuyệt đối.
- Bệnh lý tuyến thượng thận.
19
- Điều trị corticoid toàn thân lâu ngày.
- Tiểu đường, tăng huyết áp, hẹp van 2 lá, tắc mạch và tiền sử tắc mạch.
- Rối loạn đông máu, sử dụng thuốc chống đông.
- Thiếu máu (nặng và trung bình).
- Dị ứng mifepriston hay misoprostol.
- Có sẹo mổ ở thân tử cung.
*CCĐ tương đối.
- Đang viêm nhiễm đường sinh dục cấp tính (cần được điều trị).
- Tự theo dõi và chăm sóc sau phá thai.
- Các dấu hiệu cần khám lại ngay.
- Khả năng có thai lại sau phá thai. Các dấu hiệu thai nghén sớm dễ
nhận biết để tránh phá thai.
- Thôn tin về các BPTT, hướng dẫn chọn lựa BPTT thích hợp và sử
dụng đúng để tránh phá thai lần nữa.
- Trả lời những câu hỏi của khách hàng và giải quyết những vấn đề lo lắng.
- Cung cấp BPTT hoặc giới thiệu địa điểm cung cấp BPTT.
1.5.2.4. Thực hiện phá thai.
1.5.2.4.1. Các phác đồ sử dụng thuốc.
Phác đồ misoprotol đơn thuần.
- Đặt vào túi cùng sau âm đạo 200 mcg misoprostol.
+ Cứ 6 giờ dùng 1 viên cho thai từ 18 tuần trở lên (không quá 3 lần/ngày).
+ Cứ 4 giờ dùng 1 viên cho thai dưới 18 tuần (không quá 5 lần/ngày).
- Nếu không thành công, có thể dùng thêm misoprostol với liều tương
tự ở các ngày tiếp theo. Tổng số ngày sử dụng misoprostol không quá 3 ngày
liên tục (một đợt dùng thuốc).
21
- Nếu không thành công sau một đợt dùng thuốc thì dùng lại đợt thứ hai
sau một tuần.
Phác đồ kết hợp mifepriston và misoprostol.
- Uống 200 mg mifepriston.
- Sau khi dùng mifepriston từ 36 đến 48 giờ, đặt túi cùng sau âm đạo
200 mcg misoprotol.
+ Cứ 6 giờ dùng 1 viên cho thai từ l8 tuần trở lên (không quá 3
lần/ngày).
+ Cứ 4 giờ dùng 1 viên cho thai dưới 18 tuần (không quá 5 lần/ngày).
- Nếu không thành công, có thể dùng thêm misoprostol với liều tương
tự ở các ngày tiếp theo. Tổng số ngày sử dụng misoprostol không quá 3 ngày
liên tục (một đợt dùng thuốc).
- Đánh giá thất bại: Sau 16h hàng ngày khám lại CTC vẫn cứng, chít
hẹp nong cổ tử cung khó khăn có thể chỉ định ngậm thêm MSP để gây mở cổ
tử cung sảy thai nếu thai chưa sảy được thì nong và gắp lại vào ngày hôm sau.
BN được theo dõi tại phòng sau thủ thuật và có thể xuất viện sau 2-4h
làm thủ thuật. Tái khám sau 2 tuần.
1.6.2. Gây sảy thai bằng MSP
- Áp dụng tuổi thai từ 17 - 22 tuần.
- CĐ, CCĐ như quy định của Bộ y tế.
- Liều lượng MSP.
+ Thai thường: 200 mcg MSP/4h x 5 lần/ngày.
+ Mổ cũ, trẻ vị thành niên hoặc mẹ bệnh lý có thể cho liều từ 100 -
200mcg MSP/6h x 3 lần/ngày.
- Đánh giá thất bại và hướng xử trí:
23
+ Sau ngậm MSP 3 ngày không sảy thai thì hội chẩn ban giám đốc để
truyền Oxytocin.
+ Xảy ra tai biến: Chảy máu, VTC, rách CTC, nhiễm trùng ối thì xử trí
tùy theo từng trường hợp cụ thể.
+ Ngôi vai sa chi thì phải nong và gắp thai.
* Chỉ định truyền Oxytocin hỗ trợ cho bệnh nhân ngậm MSP mà không
sảy được thai sau 3 ngày: liều 5UI Oxytocin pha vào 500ml dung dịch
Glucose 5% x 3 lần/ngày x 3 ngày. Nếu quá 3 ngày là thất bại, chỉ
định nong và gắp thai hoặc cho bệnh nhân về 1 tuần tái khám lại để xét
dùng thuốc đợt 2.
- Bn sau sảy thai được theo dõi tại phòng sau thủ thuật, có thể xuất viện
sau 2- 4h, tái khám sau 2 tuần.
1.7. Các tai biến của phá thai to
Các tai biến có thể xảy ra trong thủ thuật, sau khi làm thủ thuật và các
tai biến về sau. Các tai biến có thể là:
1.7.1. Thủng hoặc vỡ TC: là một trong những tai biến nguy hiểm nhất của
1.7.2. Chảy máu
Là tai biến thường gặp nhất trong phá thai 3 tháng giữa. Hiện tượng
này có thể xảy ra trong quá trình nong và gắp, cuối giai đoạn sảy thai, trong
lúc nghỉ hồi sức hoặc sau khi khách hàng đã ra về. Theo Hoàng Gia Trang, tỷ
lệ chảy máu là 3% [44]. Theo nghiên cứu cuả Trần Thư (2008) về phá thai to
do dị dạng ba tháng giữa tỷ lệ chảy máu gặp 1,93% [45], nghiên cứu của
Nguyễn Huy Bạo (2009) tỷ lệ chảy máu là 1,5% [46].
* Các dấu hiệu của chảy máu nhiều là:
25
- Chảy máu âm đạo nhiều, máu đỏ tươi có hoặc không có máu cục.
- Máu ra thấm đẫm băng vệ sinh, khăn hoặc quần áo.
- Người tái nhợt, xanh xao.
* Nguyên nhân có thể là:
- Sót thai, sót rau: nguyên nhân rất thường gặp dẫn đến chảy máu nhiều,
có thể chẩn đoán nếu bệnh nhân có vẻ bình thường trừ việc chảy máu không
giảm bớt.
- Đờ TC: TC mềm nhẽo, không thể co lại đủ độ để cầm máu
- Rách CTC: khám bằng tay và mỏ vịt để kiểm tra rách CTC
-Thủng hoặc vỡ TC: nếu khách hàng kêu đau bụng nhiều trong khi làm
thủ thuật hoặc cán bộ lâm sàng có thể đưa được dụng cụ vào sâu hơn dự đoán
của TC có thể nghĩ đến thủng hoặc vỡ TC.
1.7.3. Rách CTC hoặc sang chấn đường sinh dục dưới
Với các ca phá thai dùng nong và gắp, có thể gây các vết rách nhỏ khi
nong CTC, có thể chỉ cần tạo lực ép là ngừng chảy máu, nếu không có thể
khâu lại vết rách.Các vết rách nhỏ cũng có thể xảy ra trong quá trình gây sảy,
nhất là khi phải sử dụng dụng cụ để lấy rau thai. Nếu không được xử trí, các
vết rách đó có thể chảy máu và cũng có thể dẫn đến những hậu quả về sau liên
quan đến việc kém chức năng của CTC. Đôi khi các vết rách này có thể là chỗ
để vi khuẩn xâm nhập. Có thể giảm bớt hiện tượng rách CTC bằng cách
chuẩn bị tốt CTC trước khi phá thai. Với phá thai bằng cách gây sảy, cần đảm