1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC HUẾ
TRƢỜNG ĐẠI HỌC Y DƢỢC NGUYỄN THỊ LỘC HẢI NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH KÊ ĐƠN THUỐC ĐIỀU
TRỊ NGOẠI TRÚ VÀ HIỂU BIẾT, THỰC HÀNH CỦA
BỆNH NHÂN VỀ VIỆC SỬ DỤNG THUỐC THEO
ĐƠN TẠI BỆNH VIỆN HUYỆN PHONG ĐIỀN
Chuyên ngành: Y TẾ CÔNG CỘNG
Mã số : 60 72 76 LUẬN VĂN THẠC SỸ Y HỌC
Đại học
ĐT
:
Đơn thuốc
KS
:
Kháng sinh
QĐ
:
Qui định
SL
:
Số lượng
TCYTTG
:
Tổ chức Y tế Thế giới
TH
:
Tiểu học
THPT
:
Trung học Phổ thông
THCS
:
Trung học cơ sở
TL
:
Tỷ lệ
TYT
:
PHỤ LỤC
4
ĐẶT VẤN ĐỀ
Con người là nhân tố quyết định đến sự phát triển kinh tế, văn hóa xã
hội và bảo vệ Tổ quốc. Sức khỏe là vốn quý nhất của con người. Chăm sóc và
bảo vệ sức khỏe là trách nhiệm của toàn dân, toàn xã hội, mang tính cấp thiết
của mỗi quốc gia trong đó ngành y tế đóng vai trò chủ chốt, trong đó thuốc
đóng vai trò quan trọng và thiết yếu trong việc chữa bệnh và nâng cao sức
khỏe người dân.
Trong những năm qua, ngành y tế có nhiều nỗ lực trong phục vụ thuốc
chăm sóc sức khỏe nhân dân. Vào tháng 06 năm 1996 tại nghị quyết 37/CP,
Thủ tướng chính phủ đã ban hành “Chính sách quốc gia về thuốc ở Việt
Nam” với hai mục tiêu là: Đảm bảo cung ứng thường xuyên và đủ thuốc có
chất lượng đến tận người dân và đảm bảo sử dụng thuốc hợp lý, an toàn, có
hiệu quả. Thị trường thuốc đã đáp ứng cung cấp đủ thuốc cho nhu cầu khám
chữa bệnh. Tiền thuốc đầu người ngày một tăng. Tình hình cung ứng, quản lý
sử dụng thuốc trong khu vực điều trị đã được chấn chỉnh. Bệnh viện là cơ sở
khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe cho người bệnh, là đơn vị khoa học kỹ
thuật có nghiệp vụ y tế cao, có vai trò to lớn và nắm giữ vị trí quan trọng
trong đời sống xã hội. Quá trình chăm sóc bằng thuốc cho người bệnh gồm kê
đơn thuốc, cấp phát thuốc và theo dõi dùng thuốc [2].
Tuy nhiên, theo một số điều tra của Ban tư vấn sử dụng kháng sinh của
Bộ Y tế thì việc kê đơn sử dụng thuốc không hợp lý xảy ra ở nhiều bệnh viện
trên cả nước. Việc kê đơn không đúng qui chế, kê quá nhiều thuốc trong một
đơn, kê đơn với nhiều biệt dược, kê đơn thuốc không phải là thuốc thiết yếu
mà là thuốc có tính thương mại cao đang có nguy có phát triển và khó kiểm
soát tại nhiều cơ sở điều trị Việc kê đơn không đúng dẫn đến việc điều trị
không hiệu quả và không an toàn, làm bệnh không khỏi hoặc kéo dài, làm cho
6
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM VỀ THUỐC
1.1.1. Khái niệm về thuốc
Thuốc là chất hoặc hỗn hợp các chất dùng cho người nhằm mục đích
phòng, chữa bệnh, chẩn đoán bệnh hoặc điều chỉnh chức năng sinh lý cơ thể
bao gồm thuốc thành phẩm, nguyên liệu làm thuốc, vắc xin, sinh phẩm y tế,
trừ thực phẩm chức năng [45].
Thuốc là những sản phẩm có nguồn gốc từ động vật, thực vật, khoáng
vật, hóa dược hay sinh học được bào chế để dùng cho người, nhằm:
- Phòng bệnh, chữa bệnh
- Phục hồi, điều chỉnh chức năng cơ thể
- Làm giảm triệu chứng của bệnh
- Chẩn đoán bệnh
- Phục hồi và nâng cao sức khỏe
- Làm mất cảm giác một bộ phận hay toàn thân
- Làm ảnh hưởng đến quá trình sinh sản
- Làm thay đổi hình dáng cơ thể [14], [30], [57]
1.1.2. Khái niệm về thuốc thiết yếu
Thuốc thiết yếu là thuốc cần cho chăm sóc sức khỏe của đa số nhân dân, được
nhà nước đảm bảo bằng chính sách thuốc quốc gia, gắn liền nghiên cứu, sản
xuất, phân phối với nhu cầu thực tế chăm sóc sức khỏe nhân dân, được lựa
chọn và cung ứng để luôn sẵn có với số lượng đầy đủ, dạng bào chế thích
hợp, chất lượng tốt, an toàn và giá cả phù hợp [30], [57], [62].
Thuốc thiết yếu được coi như một chiến lược về thuốc hiện nay trên thế giới
và đang được hầu hết các nước thực hiện. Lợi ích của việc lựa chọn thuốc
thiết yếu giúp cho việc sử dụng thuốc an toàn, hiệu quả, ít tốn kém và dễ dàng
8
- Kháng sinh là những chất mà ngay ở nồng độ thấp đã có tác dụng ức chế
hoặc tiêu diệt vi sinh vật (vi khuẩn, nấm, đơn bào, virus) mà không có tác
dụng lên tế bào đại sinh vật (người)… Mỗi thuốc kháng sinh chỉ gây rối loạn
một phản ứng sinh học nhất định của tế bào vi sinh vật và từ đó dẫn đến
ngừng phát triển [1].
1.2. NHU CẦU THUỐC
1.2.1. Khái niệm
Thuốc là một loại hàng hoá đặc biệt, sử dụng loại thuốc nào số lượng
bao nhiêu, cách thức ra sao thì lại không phải do người bệnh tự quyết định mà
lại được quyết định bởi thầy thuốc và người dùng phải tuân thủ nghiêm ngặt
[46]. Như vậy nhu cầu thuốc về cơ bản không phải lượng thuốc mà người
bệnh muốn mua ở mỗi mức giá [42], [59]. Thông thường số lượng và cơ cấu
thuốc được sử dụng phụ thuộc mô hình bệnh tật và định hướng dùng thuốc
của từng quốc gia, thầy thuốc có vai trò rất lớn trong việc sử dụng và định
hướng dùng thuốc của nhân dân [73].
Khái niệm nhu cầu thuốc là tập hợp tất cả những loại thuốc với dạng bào
chế thích hợp, hàm lượng thích hợp, đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng
và hiệu lực để giải quyết được các yêu cầu phòng chữa bệnh của cá thể, của
cộng đồng trong một phạm vi thời gian, không gian, một trình độ xã hội, khoa
học kỹ thuật và khả năng chi trả nhất định [25].
1.2.2. Các yếu tố ảnh hưởng
Nhu cầu thuốc phụ thuộc vào nhiều yếu tố: Tình trạng bệnh tật và mô
hình bệnh tật, chất lượng chẩn đoán bệnh của thầy thuốc và kỹ thuật điều trị.
Hiệu lực điều trị của thuốc, yếu tố môi trường xã hội và chính sách xã hội, giá
cả của sản phẩm và những sản phẩm cạnh tranh, các yếu tố khuyến mại, hiệu
quả của hoạt động thông tin quảng cáo và quyết định cuối cùng của người
bệnh [25].
10
1.3.2. Sử dụng thuốc hợp lý, an toàn, kinh tế
1.3.2.1. Khái niệm
- Sử dụng thuốc hợp lý là:
+ Sử dụng đúng thuốc
+ Đúng bệnh
+ Đúng liều
+ Đúng giờ
+ Đúng cách
+ Đúng dạng
+ Đúng giá
- Sử dụng thuốc an toàn là:
+ Sử dụng thuốc có chất lượng đảm bảo nhất
+ Thuốc sử dụng được cân nhắc kỹ lưỡng nhất
+ Thuốc ít tác dụng phụ, ít phản ứng có hại nhất
+ Dùng thuốc được hướng dẫn đầy đủ nhất
+ Dùng thuốc được theo dõi kỹ lưỡng nhất
- Sử dụng thuốc kinh tế là:
+ Thuốc có giá cả hợp lý
+ Lợi nhuận đặt sau lợi ích của người bệnh
+ Người nghèo có khó khăn được hỗ trợ
+ Tính chỉ số: Tổn phí/hiệu quả, tổn phí/lợi ích [30], [57].
Sử dụng thuốc hợp lý là cải thiện hiệu quả sử dụng, nâng cao độ an
toàn và bảo đảm tính kinh tế khi dùng thuốc cho từng cá thể bệnh nhân. Tính
hợp lý là cân nhắc sao cho chỉ số hiệu quả/ rủi ro và hiệu quả/kinh tế đạt cao
nhất [54]. Tổ chức Y tế Thế giới (TCYTTG) đưa ra khái niệm “Sử dụng
thuốc hợp lý đòi hỏi người bệnh phải nhận được thuốc thích hợp với đòi hỏi
lâm sàng và ở liều lượng đáp ứng được yêu cầu cá nhân người bệnh, trong
12
- Lạm dụng các thuốc được coi là an toàn
- Phối hợp những thuốc không hợp lý
- Sử dụng những thuốc không cần thiết
1.3.3. Phản ứng bất lợi của thuốc (ADR: Adverse Drug Reaction)
Thuốc là “con dao hai lưỡi” vì có thể gây ra những phản ứng có hại ở
nhiều mức độ, thậm chí tử vong kể cả dùng đúng liều, đúng qui định, các
phản ứng như vậy gọi là phản ứng bất lợi.
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (2002): “Phản ứng bất lợi của thuốc là một
phản ứng độc hại, không được định trước và xuất hiện ở liều thường dùng cho
người để phòng bệnh, chẩn đoán hoặc chữa bệnh hoặc làm thay đổi một chức
năng sinh lý”. Định nghĩa này không bao gồm những phản ứng do dùng sai
thuốc, dùng sai liều, dùng liều cao có chủ định hay vô tình. Điều trị nhiều
thuốc thì tần suất ADR tăng lên theo cấp số nhân với số lượng thuốc có trong
1 lần điều trị. Tương tác thuốc cũng là một yếu tố làm tăng ADR: tương tác
bất lợi của các thuốc có thể làm thay đổi sinh khả dụng hoặc làm thay đổi
dược lực học của thuốc và do đó gây ra các ADR trên bệnh nhân [40], [52].
1.3.4. Tƣơng tác thuốc
Tương tác thuốc là tác động qua lại giữa các thuốc xảy ra trong cơ thể
khi dung đồng thời dẫn đến những thay đổi về tác dụng dược lý hoặc độc tính
[40]. Thực hành kê đơn tốt, thực hành chăm sóc người bệnh tốt là các khâu
đảm bảo sử dụng thuốc an toàn, hợp lý cho người bệnh. Khi điều trị cho
người mắc đồng thời nhiều bệnh thì không thể tránh khỏi phải dùng đồng thời
nhiều thuốc. Nhưng phải dùng đồng thời nhiều thuốc cùng lúc có thể gây ra
một trạng thái bệnh lý do tương tác thuốc – thuốc. Tỷ lệ các phản ứng có hại
tăng lên theo cấp số nhân khi kết hợp nhiều loại thuốc. Làm thế nào vừa đạt
hiệu quả điều trị, nhưng tránh được tương tác bất lợi để đảm bảo an toàn cho
người bệnh. Yêu cầu này đòi hỏi các nhà chuyên môn y tế cần thận trọng
trong tất cả các khâu sử dụng thuốc cho người bệnh. Trước hết bác sỹ kê đơn
14
Người dân là lực lượng đông đảo nhất đồng thời là đối tượng sử dụng
thuốc quan trọng nhất nhưng lại là người ít hiểu biết nhất về thuốc. Khảo sát
người dân về hiểu biết và thói quen dùng thuốc sẽ giúp cho ngành y tế thấy
được thực trạng và có biện pháp tuyên truyền phổ biến nhân dân để họ thay
đổi hành vi của mình khi bị ốm đau, bệnh tật cần phải dùng thuốc như thế nào
[49].
1.4. TÌNH HÌNH KÊ ĐƠN THUỐC VÀ SỬ DỤNG THUỐC
1.4.1. Tình hình kê đơn và sử dụng thuốc trên thế giới
Trong những năm gần đây nhu cầu thuốc trên thị trường thế giới có sự
gia tăng mạnh mẽ do sự phát triển của dân số thế giới và sự gia tăng tuổi thọ,
nhu cầu dùng thuốc nhiều, dùng các loại thuốc có tỷ trọng chất xám cao nên
thường đắt [35]. Trong vấn đề sử dụng thuốc tồn tại hai vấn đề lớn. Đó là sự
tiêu thụ thuốc chưa đồng đều giữa các nước phát triển và đang phát triển [57]
và vấn đề đáng chú ý là việc kê đơn không hợp lý, không an toàn, còn bệnh
nhân thì không tuân thủ theo chỉ định của bác sỹ, tình trạng bác sỹ kê đơn
nhầm lẫn vẫn còn, còn lạm dụng thuốc, phối hợp thuốc không đúng, không
ghi đủ liều lượng, dạng thuốc vẫn còn diễn ra. Tình trạng kê quá nhiều thuốc
cho một bệnh nhân, lạm dụng kháng sinh tiêm, kê đơn kháng sinh cho bệnh
không nhiễm trùng vẫn còn diễn ra [76].
Khoảng 75% lượng thuốc ở thị trường dược phẩm thế giới là thuộc về
các nước dẫn đầu về kinh tế như Mỹ, Nhật, Pháp, Đức, Ý, Anh, Tây Ban Nha,
Bỉ [13].
Hiện nay, xu hướng sản xuất và sử dụng các loại thuốc bán không cần
đơn trên thế giới tương đối giống nhau và đang có xu hướng tăng lên, xu
hướng này ở các quốc gia đang phát triển như Mỹ, Nhật Bản, các quốc gia
Tây Âu đã và đang ảnh hưởng tới các quốc gia đang phát triển như Trung
Quốc, Ấn Độ vv [16].
15
trong đó có Việt Nam là mô hình của các bệnh nhiễm trùng. TCYTTG
khuyến cáo "các nước đặc biệt là các nước đang phát triển cần phải sử dụng
thuốc hợp lý hơn để sử dụng nguồn lực tài chính có hiệu quả và cung cấp
được nhiều thuốc hơn cho nhân dân" [15].
Biện pháp can thiệp quan trọng và khả thi hàng đầu mà các chuyên gia
của TCYTTG lựa chọn để thực hiện chiến lược toàn cầu ngăn chặn sự đề
kháng kháng sinh là “Đào tạo người kê đơn, người cung ứng và hướng dẫn sử
dụng”. Điều này chứng tỏ việc đào tạo và hướng dẫn sử dụng kháng sinh cho
các bác sỹ và dược sỹ là cần thiết và cấp bách cho tất cả các nước trên thế giới
[72]
1.4.2. Tình hình kê đơn thuốc tại Việt Nam
Kê đơn thuốc là một trong những quy định mà Bộ Y tế yêu cầu nghiêm
ngặt nhất đối với thầy thuốc. Thế nhưng trên thực tế, một trong những lỗi
thường gặp nhất ở thầy thuốc lại vẫn liên quan đến kê đơn thuốc. Kê đơn
thuốc không đúng yêu cầu chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp là một hiện
tượng không hiếm gặp ở một số thầy thuốc. Những lỗi thường gặp của thầy
thuốc khi kê đó là viết nhầm tên thuốc, thiếu hiểu biết về thuốc, nhầm lẫn về
liều lượng, đặt nhầm dấu thập phân ở hàm lượng thuốc, không nhận định
đúng về dạng hàm lượng thuốc, nhầm lẫn về tần suất dùng thuốc trong ngày,
viết chữ quá khó đọc, quá tháu, không thận trọng khi dùng các chữ viết tắt,
không chú ý đến tương tác thuốc, không chú ý điều chỉnh liều lượng, không
quan tâm đến tiền sử bệnh của người dùng thuốc [20].
Tình hình lạm dụng tên thuốc biệt dược theo quảng cáo trong các đơn
thuốc hiện nay đang là vấn nạn không chỉ riêng ở nước ta [42].
Trong một nghiên cứu khi khảo sát 250 bệnh án của khoa tiêu hóa một
bệnh viện thành phố có 70% số bệnh án không có hướng dẫn sử dụng thuốc
đầy đủ, chính xác và có 53,6% số bệnh án có tương tác thuốc [27].
17
Một nghiên cứu khác ở bệnh viện tuyến huyện cho thấy trung bình một
đã triển khai đến các đơn vị trong toàn tỉnh, nhưng việc chấp hành qui chế rất
hạn chế. Tình trạng thầy thuốc khám bệnh bán thuốc, người bán thuốc bán
những loại thuốc phải bán theo đơn nhưng không có đơn Bác sĩ còn khá phổ
biến [47].
Việc kê đơn không đúng dẫn đến việc điều trị không hiệu quả và không
an toàn, làm bệnh không khỏi hoặc kéo dài, làm cho bệnh nhân lo lắng, chưa
kể đến chi phí điều trị cao [51].
1.4.3. Tình hình sử dụng thuốc tại Việt Nam
Thị trường thuốc Việt nam trong cơ chế thị trường đã và đang cạnh tranh
ngày càng quyết liệt, đại bộ phận tiền thuốc do người dân phải tự chi trả. Hệ
thống bảo hiểm y tế còn nhiều bất cập. Nguồn thuốc đảm bảo cho sử dụng
chủ yếu là nhập khẩu, năm 2006 doanh thu thuốc sản xuất trong nước đạt
4.700 tỷ đồng, chiếm 40 % tổng giá trị sử dụng thuốc trong nước [66].
Bảng 1.1. Tiền thuốc bình quân trên đầu người của Việt Nam qua các năm
(Đơn vị tính: USD)
Năm
2000
2001
2002
2003
2004
2005
2006
Tiền thuốc bình
quân/ đầu người
5,4
6,0
6,7
7,6
8,6
cũng như trên thị trường dược phẩm Việt Nam. Có nhiều chuyên gia trong
lĩnh vực này đã cảnh báo về việc lạm dụng vitamin trong điều trị của thầy
thuốc và về việc lạm dụng vitamin do quan điểm sai trong cộng đồng.Vitamin
là một trong 3 nhóm thuốc sử dụng phổ biến tại cộng đồng và việc lạm dụng
vitamin đang có chiều hướng gia tăng [21], [66]. Tỷ lệ người tiêu dùng sử
dụng vitamin trong tổng số người đang sử dụng thuốc dao động từ 45,9% đến
74,9%, thấp nhất ở Hà Giang và cao nhất ở Thành phố Hồ Chí Minh, trung
bình chung là 52,0%; tỷ lệ đơn thuốc có vitamin ở các tỉnh dao động từ 55,4%
đến 77,5%, tỷ lệ trung bình 66,1% [21]. Theo nghiên cứu về tình hình kê đơn
thuốc ở một số phòng khám chữa bệnh tư ở 4 quận ở Hà Nội tỷ lệ đơn thuốc
20
có Vitamin 47,5%, tỷ lệ đơn thuốc có corticoid 10,1%, tỷ lệ đơn thuốc có
thuốc an thần, gây ngủ là 6,6% [18].
Hơn 1.000 bệnh viện từ trung ương đến địa phương hiện đang sử dụng
70-80% tổng số thuốc cho nhu cầu điều trị hằng năm. Trong khi đó việc sử
dụng thuốc tại các bệnh viện còn nhiều điểm bất hợp lý: tỷ lệ thuốc ngoại còn
cao, không chỉ lạm dụng thuốc kháng sinh, biệt dược đắt tiền mà thuốc bổ
sung vitamin, thuốc hỗ trợ điều trị cũng chiếm tỷ lệ cao trong đơn thuốc [46],
hiện tượng bác sĩ kê toa thuốc để hưởng hoa hồng của các công ty dược phẩm
đã dẫn tới tình trạng lạm dụng thuốc chủ yếu là thuốc kháng sinh, vitamin
[24]. Thông tin dược lâm sàng còn thiếu và yếu, hoạt động thông tin thuốc ở
bệnh viện chưa cao. Hệ thống cung ứng thuốc của bệnh viện chưa được cải
tiến hợp lý phù hợp với tình hình kinh tế hiện nay. Thuốc nội chưa được chú
trọng và sử dụng nhiều trong điều trị [5].
Sử dụng kháng sinh thường không làm kháng sinh đồ, nhiều người chỉ
dùng theo kinh nghiệm và thói quen. Đã có nhiều trường hợp dùng kháng sinh
không đủ liều hoặc quá liều hoặc sử dụng kháng sinh để điều trị mà chưa tính
đến tương tác thuốc [39]. Đây là những lý do làm cho hiệu quả sử dụng thuốc
không cao, lãng phí và là một trong các nguyên nhân tạo nên nhiều chủng vi
trong số 828 lượt bán thuốc có 23,67% mua có đơn, 41,79% tự quyết định
mua, 34,54% theo sự hướng dẫn của người bán [67]. Tình trạng tự dùng
thuốc, mua thuốc không có chỉ định của thầy thuốc đã gây nhiều hậu quả như
lãng phí, có hại sức khỏe, tai biến khi dùng thuốc [41].
Tuy nhiên, càng ngày người dân càng có nhận thức cao đối với việc sử
dụng thuốc như 78,1% bệnh nhân tìm hiểu thông tin thuốc qua cán bộ y tế,
75,2% bệnh nhân khi ốm đau thường đến có sở y tế để được hướng dẫn dùng
thuốc nhưng còn có 24,8% bệnh nhân tự mua thuốc để uống [36].
22
Việc thực hiện qui chế về thông tin quảng cáo thuốc chữa bệnh cho
người còn nhiều bất cập như người giới thiệu thuốc không đăng ký với cơ
quan quản lý, trình dược viên ký gửi hàng hóa và dùng các lợi ích vật chất tác
động vào thầy thuốc nên đã ảnh hưởng đến việc kê đơn thuốc. Chưa quản lý
được đội ngũ trình dược viên vì chủ yếu hoạt động ngoài giờ và phần lớn hoạt
động trong các bệnh viện và các cơ sở chưa chấp hành tốt qui chế thông tin
quảng cáo [47]. Tình hình lạm dụng tên thuốc biệt dược theo quảng cáo trong
các đơn thuốc kê cho bệnh nhân hiện nay đang là vấn nạn không chỉ riêng ở
nước ta [42].
Công tác theo dõi ADR đã triển khai, phổ biến đến các thầy thuốc để
thầy thuốc hướng dẫn cho bệnh nhân hoặc người nhà bệnh nhân phát hiện kịp
thời các trường hợp ADR. Năm 2006 các đơn vị đã báo cáo về sở y tế và
trung tâm ADR quốc gia 18 trường hợp, những trường hợp này đã được thầy
thuốc xử lý tốt, không để xảy ra tử vong và di chứng [47].
Theo báo cáo công tác thanh tra dược năm 2006 là thuốc điều trị trong
bệnh viện chủ yếu là thuốc nội từ các nguồn thuốc của bảo hiểm y tế và thuốc
phục vụ dân nghèo. Tất cả các bệnh viện đã xây dựng danh mục thuốc thiết
yếu, đảm bảo đủ thuốc có chất lượng phục vụ điều trị, không để bệnh nhân và
người nhà bệnh nhân tự túc mua thuốc nằm trong danh mục thuốc thiết yếu
[48]. Tuy nhiên, nhiều bệnh viện chưa đảm bảo việc cung ứng thuốc, người
độ tuổi. Triển khai đầy đủ các chương trình y tế quốc gia, 100% trạm y tế xã,
thị trấn có bác sỹ.
Tổng số người có bảo hiểm y tế toàn huyện năm 2007 là 41.863 người ,
trong đó bảo hiểm y tế người nghèo 15.319 người.
Bệnh viện Phong Điền thuộc Trung tâm y tế Phong Điền, nằm trên địa
bàn huyện, ở phía bắc của tỉnh Thừa Thiên Huế, cách thành phố Huế 30 km.
24
Chức năng của bệnh viện là chịu trách nhiệm bảo vệ, chăm sóc sức khỏe,
thực hiện công tác khám chữa bệnh cho nhân dân trên địa bàn huyện Phong
Điền, hổ trợ cho Y tế tuyến xã, tham gia công tác phòng chống dịch bệnh,
thảm họa thiên tai. Năm 2007, bệnh viện tiếp tục triển khai chỉ thị
05/2004/CT-BYT về vấn cung ứng và sử dụng thuốc và chỉ thi 05/2003/CT-
BYT về chăm sóc bệnh nhân toàn diện.
Tình hình nhân lực của bệnh viện năm 2007, tổng số cán bộ 84 người,
trong đó có 21 bác sỹ, 9 y sỹ, 1 dược sỹ đại học, 5 dược sỹ trung học, 1 dược
tá, 17 điều dưỡng trung học và sơ học, 5 nữ hộ sinh, các trình độ khác là 18
[56].
25
Chƣơng 2
ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU
- Đơn thuốc của bệnh nhân từ 18 tuổi trở lên điều trị ngoại trú một số
bệnh thường gặp.
- Bệnh nhân đã nhận và sử dụng thuốc trong đơn thuốc trên.
(Qua điều tra các đơn thuốc điều trị ngoại trú tại bệnh viện Phong Điền chủ
Tính được n = 384, thêm 5% sai số điều tra = 16. Tổng cộng: 400
Cỡ mẫu đơn thuốc thu thập và bệnh nhân là 400.