Bộ quốc phòng
học viện quân y
Báo cáo tổng kết Đề tài nhánh kc.10-13.03
Nghiên cứu tình hình nhiễm độc hàng loạt
trong 10 năm gần đây và xây dựng biện pháp
kiểm soát, tổ chức cấp cứu nhiễm độc hàng loạt
Chủ nhiệm ĐTN: TS. Hoàng Công Minh thuộc đề tài cấp nhà nớc. M số kc 10.13
xác định nguyên nhân, xây dựng biện pháp dự phòng
và xử trí nhiễm độc hàng loạt
địa phơng cho thấy con số bị ngộ độc thực phẩm ở cộng đồng cao hơn từ 12
đến 15 lần do hệ thống báo cáo thống kê còn hạn chế. Khoa hồi sức cấp cứu
bệnh viện Chợ Rẫy trong năm 2003 đã tiếp nhận 1.238 ca ngộ độc, trong đó rắn
cắn chiếm tỷ lệ cao nhất (648 ngời), thứ hai là ngộ độc hoá chất bảo vệ thực vật
(269) và thứ ba là ngộ độc các thuốc an thần gây nghiện (227).
Về các vụ nhiễm độc hàng loạt ở Việt Nam cho đến nay cha có một báo
cáo thống kê đầy đủ. Thống kê nhiễm độc của các bệnh viện, các tỉnh thờng
gộp toàn bộ các vụ nhiễm độc mà không tách riêng theo số ngời mắc trong một
vụ. Hơn nữa khái niệm "nhiễm độc hàng loạt" cũng cha thống nhất, bao nhiêu
ngời bị nhiễm độc trong một vụ thì đợc coi là nhiễm độc hàng loạt. Theo các
tài liệu của nớc ngoài, số ngời bị nhiễm độc trong một vụ vợt quá khả năng
cứu chữa của y tế cơ sở thì đợc coi là nhiễm độc hàng loạt.
Khi xảy ra nhiễm độc hàng loạt, nhất là những vụ nhiễm độc có hàng
trăm, hàng ngàn ngời mắc cùng một lúc, việc cứu chữa nạn nhân nhiễm độc
2
gặp rất nhiều khó khăn do hoang mang, hỗn loạn. Để cứu chữa nạn nhân có hiệu
quả cần huy động lực lợng ra sao, tổ chức cứu chữa, vận chuyển nạn nhân thế
nào, ai chỉ huy, cách thức phối hợp, cần thiết loại trang thiết bị, thuốc cấp cứu
loại gì đó là vấn đề chúng tôi quan tâm nghiên cứu trong đề tài này.
Mục tiêu của đề tài
1. Thống kê các vụ nhiễm độc hàng loạt ở Việt Nam trong 10 năm gần
đây (1994 - 2003), phân tích và dự báo nguyên nhân nhiễm độc.
2. Xây dựng phơng án triển khai các biện pháp kiểm soát và xử trí nhiễm
độc hàng loạt.
chuẩn, nhng hiện nay vũ khí hoá học vẫn phát triển và tàng trữ với khối lợng
lớn ở nhiều nớc. Khả năng vũ khí hoá học đợc đem ra sử dụng trong chiến
tranh, xung đột biên giới có thể xảy ra.
Theo công bố của cơ quan tình báo quân sự Mỹ, hiện nay ngoài Mỹ, Nga,
Anh, Pháp còn có khoảng 20 nớc có VKHH, chủ yếu là chất độc thần kinh và
chất độc gây loét nát. - Do hành động khủng bố:
Tại Nhật Bản đã có hai vụ khủng bố bằng chất độc sarin do giáo phái
Aum tiến hành. Vụ thứ nhất xẩy ra vào ngày 27-7-1994 tại thành phố Maxumoto
làm 114 ngời nhiễm độc và 7 ngời chết. Vụ thứ hai ở ga tầu điện ngầm Tokyo
( 20-3-1995) làm hơn 5000 ngời nhiễm độc, có 12 ngời tử vong. Năm 1972,
một nhóm khủng bố đã sử dụng axit xyanhydric để tấn công hệ thống điều hoà
không khí trong toà nhà của Liên hợp quốc ở New York. Năm 1978, những kẻ
4
khủng bố ngời Palestin cho thuỷ ngân vào lô cam xuất khẩu từ Ixraen sang
châu Âu.
- Do sự cố trong sản xuất, bảo quản, vận chuyển hoá chất độc:
Sự cố rò rỉ hoá chất trừ sâu ở một nhà máy hoá chất (ấn Độ, năm 1984)
đã làm 2500 ngời chết, hàng ngàn ngời chịu hậu quả của nhiễm độc, 200.000
ngời phải rời khỏi khu vực ô nhiễm.
Năm 1967 dân c của một làng cạnh sân bay Dampung Angrung
(Indonesia) bị nhiễm độc thuốc trừ sâu. Trong một sự cố ở vùng mỏ thuộc tỉnh
Werra (Đức) đã làm nhiều công nhân bị nhiễm độc khí CO2 và trong một vụ
cháy kho chứa hoá chất ở CHLB Đức, nhiều lính cứu hoả bị nhiễm độc khí nitơ.
ở
thủ đô Buenos Aires (Achentina) năm 1991 đã xẩy ra vụ nhiễm độc asen làm
718 ngời bị nhiễm độc.
độc CS và các chất gây rụng lá, phá hoại mùa màng (2,4D và 2,4,5T) làm cho
nhiều dân thờng và bộ đội bị nhiễm độc. Hiện nay, vẫn còn tồn tại nhiều thùng
chứa chất độc CS nằm rải rác tại các tỉnh phía Nam và có khả năng gây nhiễm
độc.
Từ năm 1999 đến năm 2001, liên tiếp xẩy ra các vụ học sinh ngộ độc trong
các trờng học. Trong đó có một số vụ đã xác định đợc nguyên nhân nhiễm
độc là do học sinh đa chất độc CS vào lớp học ở tỉnh Đắc Lắc và ở Thái
Nguyên. Nhng trong một số vụ khác, có những rối loạn bệnh lý xuất hiện đồng
loạt ở học sinh nhng không xác định đợc nguyên nhân nh: vụ xẩy ra với gần
200 học sinh vào tháng 12 năm 1999 ở một trờng PTCS ở quận Thanh Khê,
thành phố Đà Nẵng; hay nh vụ xẩy ra vào tháng 3 năm 2000 ở trờng PTCS xã
Diễn Kì, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An làm 2 cô giáo và 13 học sinh ngất xỉu.
Đặc biệt, trong tháng 2 và 3 năm 2001, tại 15 trong 18 huyện thuộc tỉnh Đắc
Lắc liêp tiếp xẩy ra các vụ nhiễm độc trong nhiều trờng học làm 911 học sinh
và giáo viên cùng bị và nghi có bàn tay của kẻ xấu.
Trong chiến tranh chống Mĩ, máy bay địch ném bom cảng Hải Phòng đã
làm cháy tầu chở phân đạm, gây nhiễm độc nhiều ngời do hít thở khí oxyt nitơ;
hoặc vụ cháy các toa tầu chở hoá chất trừ sâu ở ga Gôi Nam Định (1965).
- Do sự cố:
Tháng 4-2001 xẩy ra vụ cháy kho thuốc trừ sâu ở huyện Châu Đốc, tỉnh
An Giang làm 70 ng
ời bị nhiễm độc.
6
- Do ô nhiễm môi trờng và do ăn uống:
Trong những năm gần đây, ngoài các vụ ngộ độc thực phẩm do nguyên
nhân vi sinh vật, số vụ nhiễm độc hàng loạt do hoá chất độc có chiều hớng gia
tăng. Về các vụ NĐHL ở Việt Nam chúng tôi xin trình bày ở phần kết quả.
Nh vậy, cũng giống nh các nớc khác, nhiễm độc hàng loạt ở Việt nam
có thể xẩy ra do tai nạn hoặc sự cố, do đầu độc, do thức ăn, nguồn nớc bị
nhân trong 24 giờ).
+ Khu vực nhiễm độc thờng là rộng do chất độc phát tán theo gió.
+ Nhân viên y tế và những ngời xung quanh có thể bị nhiễm độc thứ phát
từ nạn nhân và các vật dụng bị nhiễm. Ví dụ: trong vụ khủng bố ở Tokyo có
21,8% số bác sĩ và 65,8% số hộ lý, y tá bị nhiễm độc thứ phát.
+ Các triệu chứng nhiễm độc có thể đa dạng do bị nhiễm độc với mức độ
khác nhau (nhẹ, vừa, nặng) đồng thời nạn nhân có thể bị tổn thơng hỗn hợp
(vừa bị nhiễm độc vừa bị thơng, bỏng).
- Nguyên nhân NĐ hàng loạt:
+ Do khủng bố (ví dụ: vụ khủng bố bằng sarin ở Tokyo, 1995; ở
Matsumoto, Nhật Bản 1994).
+ Do đối phơng sử dụng VKHH (ví dụ: chiến tranh Iran-Irắc, 1980-
1988).
+ Do sự cố trong sản xuất, bảo quản, vận chuyển hoá chất độc (ví dụ: sự
cố hoá học ở Bhopal,
ấ
n Độ, 1984).
+ Do thực phẩm, nớc uống bị ô nhiễm:
. ô nhiễm môi trờng nớc, thực phẩm (ví dụ: ngộ độc asen tại
Bangladesh, lân hữu cơ ở Tây Ban Nha).
. Do bị đầu độc (ví dụ: ngộ độc thuốc diệt chuột ở Trung Quốc).
+ Do thực phẩm có chứa độc tố tự nhiên (động vật, thực vật có chứa độc
tố) hoặc thực phẩm bị biến chất sinh độc tố.
- Tác nhân gây NĐHL rất đa dạng:
+ CĐQS: sarin, soman, VX, yperit, lewisit, HCN, phosgen
+ CĐ công nghiệp: Cl
2
, NH
3
, NO
an, quân đội, truyền thông, chính quyền cơ sở, cán bộ CNV nhà máy, ).
- Có quy trình xử trí NĐ hàng loạt thống nhất và tổ chức diễn tập thử nghiệm.
9
Chơng 2
Phơng pháp nghiên cứu
2.1 Thống kê các vụ nhiễm độc hàng loạt ở Việt Nam
Việc thống kê các vụ nhiễm độc hàng loạt ở Việt Nam trong 10 năm gần
đây (1994 - 2003) đợc tiến hành theo phơng pháp thu thập số liệu theo mẫu
phiếu điều tra.
Chúng tôi tiến hành phối hợp với Cục y tế dự phòng và phòng chống
HIV/AIDS, Bộ y tế tiến hành lập biểu mẫu phiếu điều tra. Bộ y tế gửi công văn
kèm theo mẫu phiếu điều tra tới Trung tâm y tế dự phòng các tỉnh thành trong cả
nớc yêu cầu liệt kê từng vụ nhiễm độc hàng loạt (từ 30 nạn nhân trở lên/vụ) và
gửi báo cáo về Cục y tế dự phòng và phòng chống HIV/AIDS.
Đối với các vụ nhiễm độc hàng loạt xảy ra tại các đơn vị quân đội, chúng
tôi trực tiếp thống kê theo mẫu mẫu phiếu điều tra tại Phòng vệ sinh phòng dịch,
Cục quân y. Ngoài ra, chúng tôi còn trực tiếp thu thập số liệu các vụ nhiễm độc
hàng loạt tại Trung tâm y tế môi trờng lao động, Bộ công nghiệp.
Trong mẫu phiếu điều tra có những nội dung sau:
- Ngày, tháng, năm xảy ra nhiễm độc hàng loạt
- Nơi xảy ra nhiễm độc
- Tổng số ngời mắc
- Số ngời tử vong
Nam nói riêng.
- Đặc điểm và nguyên nhân của các vụ nhiễm độc hàng loạt.
- Tính đa dạng và đặc điểm của các tác nhân gây nhiễm độc.
- Kinh nghiệm tổ chức xử trí nhiễm độc hàng loạt, xử trí thảm hoạ của các
nớc trên thế giới theo tài liệu của nớc ngoài.
11
Chơng 3
Kết quả nghiên cứu
3.1 Thống kê các vụ nhiễm độc hàng loạt ở Việt Nam
trong 10 năm gần đây (1994 - 2003)
3.1.1 Phân loại, thống kê nhiễm độc hàng loạt
Bảng 1: Thống kê các vụ nhiễm độc hàng loạt theo năm
Số vụ Số ngời bị NĐ
TT Năm
Số lợng % Số lợng %
Số ngời
tử vong
1 1994 5 1,84 395 1,62 2
2 1995 4 1,48 148 0,61 0
3 1996 6 2,21 616 2,53 0
4 1997 21 7,75 2.176 8,95 1
vong
1 Tiệc gia đình 142 52,40 11.791 48,49 8
2 Quán vỉa hè, hàng
dong, chợ
20 7,38 1.970 8,10 1
3 Nhà hàng, khách sạn 6 2,21 158 0,65
4 Bếp ăn tập thể:
trong đó:
103 38,0 10.395 42,75 2
Bếp ăn tập thể công ty,
nhà máy, xí nghiệp
69 7.643
Bếp ăn trờng học, trại
điều dỡng
30 2.450 2
Bếp ăn quân đội 4 302
Tổng số 10 năm 271 100 24.314 100 11
Ghi chú: Tiệc gia đình gồm tiệc đám cới, đám ma, đám giỗ, tân gia, liên hoan
Bảng 3: Thống kê nhiễm độc hàng loạt theo số ngời mắc/vụ
Số vụ Số ngời bị NĐ
TT Số ngời/vụ
Số lợng % Số lợng %
Tử
vong
1 Từ 30 đến 100 ngời 215 79,34 11.714 48,18 11
2 101 đến 200 ngời 35 12,92 4.907 20,18 0
3 201 đến 300 ngời 12 4,43 2.808 11,55 0
Tổng số 10 năm 271 100 24.314 100 11
* Ghi chú: Toàn bộ 7 ngời chết/48 ngời bị NĐ trong 1 vụ ngộ độc rợu có
hàm lợng metanol cao (trong lễ hội ngày mùa ở Bình Định).
Bảng 4: Thống kê nhiễm độc hàng loạt theo đờng thâm nhập
Số vụ Số ngời bị NĐ
TT Đờng thâm nhập
Số lợng % Số lợng %
Tử
vong
1 Đờng tiêu hoá 270 99,63 24.277 99,85 11
2 Đờng hô hấp * 1 0,37 37 0,15 0
Tổng số 10 năm 271 100 24.314 100 11
* Ghi chú: Ngộ độc do khí selen 14
Bảng 6: Thống kê theo các tỉnh có xảy ra nhiễm độc hàng loạt
TT Tỉnh Số vụ Số ngời bị
nhiễm độc
Số ngời tử
vong
1 Thành phố Hồ Chí Minh 48 4.696 2
2 Bình dơng 20 2.635 0
3 Thái Bình 18 1.338 0
4 Đồng nai 12 1.464 0
5 Hà Tây 11 977 0
29 Hà Nam 3 349 0
30 Hậu Giang 3 165 0
31 Hng Yên 3 147 0
32 Hà Nội 3 155 0
33 Lâm Đồng 3 186 1
34 Phú Yên 3 126 0
35 Quảng Ngãi 3 226 0
36 Nghệ An 3 200 0
37 Bình Thuận 3 179 0
38 Bà rịa- Vũng Tầu 2 173 0
39 Gia Lai 2 125 0
40 Cần Thơ 1 44 0
41 Hà Giang 1 125 0
42 Hoà Bình 1 56 0
43 Kon Tum 1 551 0
44 Long An 1 39 0
45 Ninh Bình 1 35 0
46 Ninh Thuận 1 68 0
47 Tây Ninh 1 210 0
Tổng 271 24.314 11 3.2 Phơng án triển khai các biện pháp kiểm soát và tổ
chức cấp cứu nhiễm độc hàng loạt
3.2.1 Mục đích của công tác tổ chức xử trí NĐHL:
+ Xử trí nhiễm độc nhanh, kịp thời nhằm làm giảm tối đa số ngời bị
nhiễm độc, giảm tỷ lệ tử vong tại hiện trờng và trên đờng vận chuyển.
+ Nâng cao hiệu quả cứu chữa ở tuyến bệnh viện (giảm tử vong tại bệnh
viện, hạn chế biến chứng, chóng hồi phục).
hiện trờng tham gia cấp cứu và vận chuyển nạn nhân. Phân công trách nhiệm
cho từng đội (hồi sức cấp cứu, điều trị, phân loại, vận chuyển ).
17
- Thông báo cho nhân dân khu vực biết tình hình nhiễm độc để có biện
pháp phòng tránh (sơ tán, không đi vào khu vực nhiễm độc, bảo vệ nguồn nớc
sinh hoạt, che đậy lơng thực thực phẩm ).
- Phối hợp với công an, quân đội, các cơ quan, xí nghiệp đóng trên địa bàn
trong việc tổ chức cứu chữa, vận chuyển, cảnh báo, khoanh vùng nhiễm độc,
- Lấy mẫu chất độc gửi đi phân tích độc chất.
Bớc 4: Chỉ đạo giải quyết hậu quả của nhiễm độc hàng loạt
- Phối hợp với các cơ quan chức năng giải quyết các trờng hợp tử vong.
- Xử lý ô nhiễm môi trờng, kiểm tra mức độ nhiễm độc sau khi xử lý ô
nhiễm, dỡ bỏ cảnh báo.
- Khắc phục sự cố cháy, nổ (nếu có).
- Tổng kết rút kinh nghiệm, đề ra các biện pháp dự phòng.
Trên đây là các bớc cơ bản cần tiến hành khi xử trí các vụ nhiễm độc
hàng loạt.
Nếu nhiễm độc hàng loạt xảy ra tại các đơn vị quân đội, việc tổ chức cứu
chữa, vận chuyển, điều trị thơng binh đợc phân cấp theo tổ chức chiến thuật
quân y của Bộ quốc phòng.
3.2.3 Tổ chức chỉ huy việc xử trí NĐHL
Chỉ huy chung việc tổ chức cứu chữa nạn nhân bị NĐHL (thảm hoạ) là
chủ tịch huyện hoặc tỉnh hoặc thủ tớng chính phủ tuỳ theo quy mô của NĐHL,
dới sự lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng (theo nghị quyết 02 của Bộ chính trị ngày
30/11/1987).
Các lực lợng tham gia nh y tế, quân đội, công an, giao thông vận tải
có sự phối hợp chặt chẽ với nhau và chịu sự chỉ huy trực tiếp của thủ trởng cơ
quan mình. Cơ quan y tế các cấp có nhiệm vụ tham mu cho chủ tịch huyện,
tỉnh, thủ tớng về lĩnh vực chuyên môn (nhu cầu trang thiết bị, thuốc, vận
3.2.4.2 Biện pháp triển khai cụ thể ở từng vị trí
a) Tại nơi xảy ra nhiễm độc:
Để hạn chế tới mức thấp nhất hậu quả của các vụ nhiễm độc hàng loạt cần
phải có biện pháp tổ chức cứu chữa và kiểm soát nhiễm độc. Những nhiệm vụ
chính cần tiến hành tại nơi xảy ra nhiễm độc gồm:
- Khảo sát hiện trờng
- Cấp cứu nạn nhân tại nơi xảy ra NĐ
- Chuyển nạn nhân ra khỏi khu vực NĐ
Tại nơi xảy
ra nhi
ễ
m độc
-Khảo sát hiện trờn
g
- Cấp cứu tại chỗ
- Chuyển nạn nhân ra
khỏi vùng NĐ
- Phát hiện CĐ
- Vận chuyển nạn nhân
tới bệnh viện
- Y tế
q
uân dân
y
- Giao thông vận tải
- Tải thơng quân đội
- Công an
- Tình nguyện viên
- Phân loại để XLVS
- XLVS (tắm)
- Phân loại điều trị
- Hồi sức cấp cứu,
chống độc, điều trị
NV y tế bệnh viện,
lực lợng tăng
cờng
Vị trí, hớng
triển khai
Nhiệm vụ
Lực lợng chính
19
- Phát hiện chất độc
- Cảnh báo nhiễm độc
- Khoanh vùng nhiễm độc
- Xử lý ô nhiễm môi trờng
+ Bao tiêu độc cá nhân.
+ Túi thuốc của nhân viên y tế
+ Thuốc chống độc đặc hiệu trang bị cho túi thuốc của NVYT:
. Đối với CĐ thần kinh: ống tiêm tự động atropin
. Đối với CĐ toàn thân xyanua: amylnitrit (ống hít)
. Đối với chất độc lewisit: BAL hoặc unithiol
+ Thuốc trợ tim, trợ hô hấp, chống co giật
+ Bóng ambu, bình oxy dã chiến, kẹp lỡi, dây garo, nẹp, bông băng,
kim tiêm 1 lần ).
* Chuyển nạn nhân ra khỏi khu vực NĐ:
- Hớng vận chuyển: theo ngợc chiều gió ra khỏi khu vực nhiễm độc về
khu phân loại.
- Cách thức vận chuyển:
+ Bằng xe cơ giới.
+ Khiêng cáng (bị thơng, nhiễm CĐ gây ngạt).
+ Dìu, cõng, đi bộ
- Lực lợng vận chuyển:
+ Y tế quân dân y,
+ Các lực lợng khác (bắt buộc phải có mặt nạ, quần áo phòng độc).
- Phơng tiện:
+ xe cứu thơng.
+ Các loại xe cơ giới khác (xe ca, xe tải, taxi )
+ Cáng,
+ Phơng tiện bảo vệ cá nhân (mặt nạ, quần áo phòng độc).
* Phát hiện chất độc:
- Nội dung:
+ Phát hiện chất độc theo phơng pháp phát hiện nhanh.
21
+ Thông báo kết quả phát hiện nhanh chất độc cho các lực lợng tham
* Cảnh báo sớm khu vực nhiễm độc:
22
- Thông báo rộng rãi khu vực NĐ cho dân chúng biết bằng các phơng
tiện thông tin đại chúng (loa, đài phát thanh, truyền hình ).
- Canh gác hiện trờng khu vực nhiễm độc không cho ngời, xe vào khu
vực NĐ.
- Lực lợng:
+ Công an: thông báo bằng xe có gắn loa, thông tin cho cơ quan phát
thanh, truyền hình.
+ Lực lợng của địa phơng, nhà máy, quân đội
* Xử lý môi trờng:
- Nội dung:
+ Thu dọn xác nạn nhân chuyển về nhà xác bệnh viện.
+ Tiêu độc môi trờng khu vực NĐ: nhà cửa, trang thiết bị, máy móc, mặt
đất, chất thải
+ Kiểm tra và đánh giá nồng độ chất độc sau khi tiêu tẩy để có quyết định
dỡ bỏ khoanh vùng, cảnh báo nguy hiểm.
- Lực lợng: Bộ đội hoá học, Trung tâm y tế dự phòng, Viện VSPD quân
dân y, lực lợng tiêu tẩy của nhà máy, xí nghiệp.
- Trang bị, hoá chất:
+ Xe tiêu tẩy chuyên dụng.
+ Phơng tiện bảo vệ cá nhân (mặt nạ, quần áo phòng độc).
+ Bình phun áp lực.
+ Hoá chất tiêu độc:
. Hypoclorid canxi, clorua vôi dùng để tiêu tẩy chất độc yperit,
lewisit, chất độc thần kinh loại V.
. Hydroxyt canxi dùng để tiêu tẩy chất độc tabun, sarin, soman.
b) Ngoài khu vực NĐ (trớc bệnh viện
):
+ BAL hoặc unithiol (NĐ lewisit).
+ Natri thiosunfat (NĐ yperit).
+ Thuốc rửa mắt, nhỏ mắt.
+ Thuốc trợ tim, trợ hô hấp, chống co giật
+ Bóng ambu, bình oxy dã chiến.
+ Máy thở xách tay (air-suplied respirator).
24
+ Kẹp lỡi, dây garo, nẹp, bông băng, kim tiêm 1 lần ).
+ Bột tiêu độc khô, silicagen
* Vận chuyển nạn nhân:
- Vận chuyển nạn nhân theo chỉ định của bác sĩ ở khu phân loại. Tất cả
các nạn nhân bị nhiễm độc đều chuyển về bệnh viện thứ tự u tiên theo mức độ
NĐ, trớc hết vận chuyển nạn nhân NĐ nặng, sau đó NĐ vừa, tiếp theo là NĐ
nhẹ và cuối cùng là những nạn nhân bị tử vong. Khi số lợng nạn nhân quá
đông, lực lợng vận chuyển căn cứ vào màu thẻ gắn trên áo nạn nhân để vận
chuyển. Thứ tự vận chuyển theo màu thẻ:
+ Màu đỏ: Cần vận chuyển khẩn cấp.
+ Màu vàng: Có thể trì hoãn vận chuyển (sau khi đã vận chuyển hết nạn
nhân đính thẻ màu đỏ)
+ Màu xanh (sau khi vận chuyển hết nạn nhân đính thẻ màu đỏ và vàng).
+ Màu đen: vận chuyển cuối cùng.
Cần chỉ đạo phân bổ số lợng nạn nhân về các bệnh viện khác nhau trong
khu vực để tránh quá tải cho bệnh viện.
- Hớng vận chuyển: Tất cả nạn nhân đợc chuyển tới khu phân loại
XLVS của bệnh viện để XLVS toàn bộ trớc khi vào viện. Những nạn nhân bị tử
vong chuyển về khu nhà xác để bộ phận pháp y nhận dạng và trả về cho gia đình
chôn cất (phải loại bỏ quần áo bị nhiễm ở tử thi và khi tiếp xúc với nạn nhân NĐ
phải có phơng tiện bảo vệ cá nhân).
- Kiểu vận chuyển: