LỜI NÓI ĐẦU
Từ khi chuyển từ cơ chế quản lý quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường.
Đất nước ta không ngừng đổi mới trên các lĩnh vực kinh tế, văn hoá - xã hội. Từ
một nước thuần nông nghèo nàn, lạc hậu nay đã cơ bản trở thành một nước có
nền công nghiệp hoá. Sau chiến tranh, mặc dù đất nước bị tàn phá năng nề, bị cô
lập, cấm vận trên nhiều lĩnh vực.nhưng Việt Nam đã cố gắng phấn đấu phát huy
nội lực trong nước và tranh thủ mọi sự giúp đỡ của các nước anh em bè bạn
đồng thời tăng cường công tác ngoại giao mở rộng quan hệ hợp tác với các nước
trong khu vực và trên thế giới. Được các nước đồng tình ủng hộ giúp đỡ. Đến
nay Việt nam đã làm bạn và hợp tác với hơn một trăm quốc gia trên thế giới, có
mối quan hệ hữu nghị và cùng nhau hợp tác trên nhiều lĩnh vực như: phát triển
kinh tế, chính tri, an ninh quốc phòng, văn hoá - xã hội. Tất cả những thành quả
nêu trên đều do công của những con người đầy tài năng sáng tạo và lòng nhiệt
huyết.
Cùng với sự đi nên của Đất nước, các doanh nghiệp quốc doanh và tư
nhân thực hiện đúng các chủ trương chính sách của đảng, pháp luật của nhà
nước và quy định của từng nghành. Đã từng bước được củng cố và thành lập mới
để đáp ứng nhu cầu đòi hỏi của thị trường. Từ đó xu thế cạnh tranh của các
doanh nghiệp diễn ra ngày càng gay gắt và khốc liệt. Muốn đứng vững trên thị
trường, họ phải tự tìm cho mình một cách làm ăn nghiêm túc, có suy tính toàn
diện và cặn kẽ, quyết định chọn sản phẩm, khách hàng, phương pháp tiến hành
căn cứ khoa học và thực tế. Trong sản xuất công nghiệp chúng ta phải đặc biệt
chú trọng đầu tư nghiên cứu đối với sản phẩm, mạnh dạn đầu tư đổi mới công
nghệ, trang thiết, thiết bị, máy móc và con người. Trong đó quan trọng nhất là
đầu tư cho con người (nhân lực). Hơn lúc nào hết, vấn đề này luôn luôn là những
đòi hỏi bức xúc của tất cả các doanh nghiệp. Có được con người rồi nhưng để sử
dụng những người này làm sao cho đúng, thức sự có hiệu quả, phát huy được hết
SV : NguyÔn V¨n Ba
- 1 -
Líp
QTKD K6
2-2 Tính toán các chỉ tiêu và phản ánh tình hình, sử dụng nhân lực ở xí
nghiệp than Nam Mẫu , so sánh và nhận xét và đánh giá.
2- 3 Tìm chỉ ra những nguyên nhân trực tiếp, trung gian, sâu xa của tình
hình sử dụng nhân lực của xí nghiệp.
Phần III : Một số biện pháp cải thiện tình hình sử dụng nhân lực ở xí
nghiệp than Nam Mẫu – Công ty TNHH một thành viên than Uông Bí.
Trên cơ sở về những kiến thức bản thân tôi tiếp thu được trong thời gian
học tại trường và kiến thức thực tế, lắm bắt được trong thời gian thực tập tại xí
nghiệp than Nam Mẫu cùng với kiến thức do giáo viên hướng dẫn làm đồ án thực
tập và tốt nghiệp. Tôi đã hoàn thiện đồ án tốt nghiệp với nội dung: phân tích và
xây dựng biện pháp cải thiện tình hình sử dụng nhân lực ở xí nghiệp than
Nam mẫu. Với hy vọng đề tài của tôi sẽ đạt được những thành công nhất định
trong việc nhìn nhận, đánh giá khả năng của xí nghiệp than Nam Mẫu trong giai
đoạn hiện tại cũng như trong tương lai. Góp một phần công sức nhỏ bé của bản
thân vào việc sử dụng nhân lại lực ở xí nghiệp để thúc đẩy sản xuất nâng cao
năng xuất lao động mang lại hiệu quả kinh tế cao cho xí nghiệp nói riêng và cho
cả xã hội, đất nước nói chung. Trong việc hoàn thiện đồ án do trình độ hiểu biết
và nhận thức của bản thân có nhiều điểm còn hạn chế. Do vậy trong nội dung
của đề án không tránh khỏi những sơ xuất. Tôi rất mong được sự châm trước của
các thày các cô và cả hội đồng.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo đã giảng dạy, thầy giáo
hướng dẫn GS – TS Đỗ văn Phức cùng tập thể ban giám đốc, các phòng ban
chuyên môn xí nghiệp than Nam Mẫu - công ty TNHH một thành viên than Uông
Bí, cảm ơn những người bạn đã tham gia ý kiến cho đề tài này.
Sinh viên
Nguyễn Văn Ba.
SV : NguyÔn V¨n Ba
- 3 -
Líp
QTKD K6
tố con người là quan trọng nhất.
Trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nếu không có nhân lực thì
mọi hoạt đông sẽ bị ngừng trệ mặc dù máy móc thiết bị công nghệ có hiện đại
đến đâu nhưng không có bàn tay khối óc của con người điều khiển, lao động
sáng tạo ra thì không giải quyết được vấn đề gì cả.
Nhân lực của doanh nghiệp còn là đầu vào độc lập, quyết định chất lượng
của sản phẩm sản xuất ra. Tất cả mọi chi phí cho quá trình sản xuất, đến việc
hoàn thành các sản phẩm đều do nhân lực đảm nhiệm. Nếu quá trình sản xuất
con người biết tiết kiệm, sử dụng hợp lý hoá các thiết bị, công cụ lao động thì sẽ
tiết kiệm được chi phí, tạo ra nhiều sản phẩm chất lượng cao, làm tăng năng suất
lao động, đem lại lợi ích cho xí nghiệp. Điều đó được khẳng định bởi: Tất cả
hoạt động của doanh nghiệp đều do con người thực hiện và quay trở lại phục vụ
cho con người.
Con người có khả năng phân tích, dự báo nhu cầu thị trường, xác định các
đối thủ cạnh tranh, quyết định chiến lược sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp,
lập kế hoạch, xây dựng phương án sản xuất kinh doanh, sản phẩm, khách hàng
với chất lượng và số lượng xác định. Trong sản xuất con người còn sáng tạo
thực hiện đổi mới công nghệ, chuyển giao công nghệ, vận hành máy móc thiết bị
và không ngừng cải tiến, hiện đại hoá máy móc thiết bị. Con người còn xác định
nhu cầu lao động và đảm bảo các đầu vào quan trọng đó. Chính vì vậy nhân lực
có tác dụng quan trọng trong mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp. Nhân lực luôn được coi là yếu tố then chốt quyết định đến hiệu quả sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Do vậy các doanh nghiệp khi thực hiện lập
kế hoạch nhân lực phải căn cứ vào các chỉ tiêu sau:
+ Nhu cầu nhân lực
+ Số lượng , chất lượng nhân lực
* Nhu cầu nhân lực của doanh nghiệp sản suất công nghiệp :
SV : NguyÔn V¨n Ba
- 5 -
Líp
- 6 -
Líp
QTKD K6
cạnh tranh của các sản phẩm đầu ra và quyết định làm tăng, giảm hiệu quả sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Chất lượng nhân lực bao gồm: Chất lượng nhân lực theo cơ cấu giới tính,
chất lượng nhân lực theo cơ cấu khoảng tuổi, chất lượng nhân lực theo cơ cấu ba
lực lượng chủ chốt và chất lượng nhân lực theo cơ cấu ngành nghề, trình độ
chuyên môn, bậc thợ.
Trong doanh nghiệp sản xuất công nghiệp nếu nhân lực đạt chất lượng
cao tức là đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn nêu trên là điều kiện thuận lợi cho việc
sử dụng nhân lực trong doanh nghiệp. Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp được diễn ra thuận lợi và đạt kết quả như mong muốn.
Nếu chất lượng nhân lực không đảm bảo có ảnh hưởng rất lớn trong việc
phân công lao động, phân công không đúng với trình độ chuyên môn nghiệp vụ
hoặc trình độ chuyên môn nghiệp vụ yếu kém, không đúng năng lực sở trường,
cơ cấu độ tuổi, giới tính không phù hợp, môi trường làm việc, chế độ nghỉ ngơi
không đảm bảo thì dẫn đến người lao động làm việc không nhiệt tình. Nếu có
nhiệt tình thì hiệu quả lao động cũng không được cao, chất lượng không đảm
bảo bởi vi không đúng với chuyên môn nghiệp vụ thì phải mất thời gian nghiên
cứu mới thực hiện được công việc được giao. Do vậy sản phẩm làm ra ít chất
lượng không đảm bảo thiếu sự cạnh tranh làm cho quá trình sản xuất bị ngừng
trệ, doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả thua lỗ dẫn đến phá sản.
Chất lượng nhân lực của doanh nghiệp là mức độ đáp ứng phù hợp về chất
lượng nhân lực theo các loại về cơ cấu nhân lực mà doanh nghiệp thu hút, huy
động được với chât lượng nhân lực theo cơ cấu nhân lực đó mà hoạt động của
doanh nghiệp yêu cầu. Trong các doanh nghiệp thường có các loại khả năng lao
động: Lao động trực tiếp; Bộ phận quản lý; Bộ phận phục vụ. Khả năng lao
động của doanh nghiệp theo cơ cấu này phải có số lượng và chất lượng đáp ứng
phù hợp với yêu cầu thực tế hiện tại tương lai, có quan hệ ( cơ cấu) hợp lý, có
quản lý ở cấp càng cao thì càng phức tạp do đó phải cân đối lực lượng lãnh đạo
cho phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ công tác. Trong công tác quản lý công việc
xây dựng chiến lược sản xuất kinh doanh, công việc tìm kiếm công cụ, phương
SV : NguyÔn V¨n Ba
- 8 -
Líp
QTKD K6
pháp công nghệ tiến bộ, công việc ra các quyết định quản lý, công việc đề bạt
cán bộ chủ chốt, công việc phân phối thành quả lao động chung là những công
việc có mức độ phức tạp cực kỳ cao cần đến trí tuệ toàn diện của cán bộ lãnh
đạo.
- Đội ngũ chuyên môn nghiệp vụ được bố trí làm việc ở các phòng ban,
phân xưởng của xí nghiệp. Tuỳ theo trình độ nghiệp vụ, năng lực sở trường của
cán bộ để phân công công việc cho phù hợp. Các cán bộ nghiệp vụ với chức
năng nhiệm vụ làm công tham mưu giúp việc cho lãnh đạo trong lĩnh vực
chuyên môn nhiệp vụ phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh ở xí nghiệp.
Đó là những công việc như chuẩn bị tư liệu, thông tin, chuẩn bị các dự án cho
cán bộ lãnh đạo xem xét quyết định và làm những công việc giúp cho cán bộ
triển khai, kiểm tra, đánh giá việc thực hiện các quyết định đó. Do vậy cán bộ
được phân công làm việc phải hiểu biết nắm vững các yêu cầu phục vụ cụ thể và
cách thực hiện các yêu cầu đó, phải hiểu biết các dạng thông tin, các công cụ
phương tiện thông tin, có khả năng giao tiếp tốt, có khả năng làm việc chu đáo,
nhiều sáng kiến, triển khai tốt những công việc do cán bộ lãnh đạo phân công
theo chức năng nhiệm vụ của mình.
- Công nhân- nhân viên : Là những người trực tiếp tham ra sản xuất và
chuẩn bị cho sản xuất để làm ra các sản phẩm tiêu thụ ra ngoài thị trường đội
ngũ công nhân nhân viên được bố trí làm việc ở các phân xưởng sản xuất và các
đơn vị phục vụ sản xuất.
Công nhân sản xuất được chia thành công nhân sản xuất chính và công nhân
sản xuất phụ. Công nhân sản xuất chính là những người trực tiếp sản xuất ra sản
nghiệp được đánh giá qua các chỉ tiêu sau:
Chỉ tiêu 1: Thời gian lao động
Thời gian lao động là thời gian cần thiết để sản xuất ra một khối lượng sản
phẩm
SV : NguyÔn V¨n Ba
- 10 -
Líp
QTKD K6
Sử dụng hợp lý và tiết kiệm thời gian lao động là một yêu cầu quan trọng
của công tác quản lý lao động trong xí nghiệp. Công tác này bao gồm việc lập kế
hoạch hoá sử dụng ngày công, giờ công, việc hạch toán thời gian lao động và
thực hiện các chế độ quản lý sử dụng lao động trong xí nghiệp. Nhằm nâng cao
số ngày công, công tác trong tháng, trong năm và số giờ công có ích trong ngày
của mọi người lao động, góp phần nâng cao năng suất lao động
Cơ cấu thời gian lao động theo ngày công và theo giờ công của công nhân
sản xuất :
Ngày công làm việc của một công nhân trong tháng (hoặc quý, năm) được
xác định từ ngày công theo lịch(-) ngày công vắng mặt và ngày công ngừng
việc. Khác với số ngày công làm việc theo dự kiến, ngày công làm việc thực tế
còn tính thêm ngày công làm việc thêm ca.
Các chỉ tiêu và biện pháp sử dụng thời gian lao động của công nhân sản xuất
nhằm đánh giá kết quả sử dụng thời gian lao động, phát hiện những nguyên nhân
lãng phí thời gian lao động, vi phạm kỷ luật lao động và qua đó đề ra những biện
pháp bảo đảm nâng cao ngày công trong tháng (quý, năm) và số giờ công có ích
trong ngày.
Để tính tổng hợp các chỉ tiêu sử dụng thời gian lao động trước hết phải
theo dõi chặt chẽ giờ công của công nhân hàng ngày, dựa vào bảng chấm công ở
các tổ sản xuất, các phiếu theo dõi công tác của tổ, phiếu báo ngừng việc…và sổ
tổng hợp thời gian lao động của công nhân toàn phân xưởng.
Đánh giá tình hình sử dụng thời gian lao động theo đơn vị ngày công qua sơ
Số giờ công
Làm thêm
Số giờ công làm
và thực tế trong
chế độ
Số gìơ công
tổn thất
Số giờ công
Vắng mặt
Số giờ công làm việc thực tế hoàn toàn
+ Từ đó có thể tính chỉ tiêu về:
+ Độ dài bình quân ngày làm việc trong chế độ:
SV : NguyÔn V¨n Ba
- 12 -
Líp
QTKD K6
MNC =
MCĐ =
Hc =
Tổng số giờ công làm việc thực tế trong chế độ
Tổng số ngày công làm việc thực tế nói chung
+ Độ dài ngày làm việc thực tế hoàn toàn
Tổng số giờ làm việc thực tế hoàn toàn
Tổng số ngày công làm việc thực tế nói chung
Ngoài ra có thể tính hệ số làm thêm giờ.
Tổng số giờ làm việc thực tế hoàn toàn
Tổng số giờ công làm việc thực tế trong chế độ
Hg> 1: Khi có thời gian làm thêm.
Ngoài các chỉ tiêu nêu trên đây, khi nghiên cứu tình hình sử dụng thời gian
của họ.
Phân công lao động hợp lý hoá và khoa học sẽ tạo nên sự phù hợp với khả
năng trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của người lao động sau khi họ được tuyển
mộ, tuyển chọn. Tuy nhiên , với mỗi nhà quản lý ứng với mỗi khả năng, sáng
tạo xẽ có một sự kết hợp phân công theo nghệ thuật và khoa học quản lý khác
nhau, nhưng để làm tốt vấn đề này nhà quản lý phải tuân thủ theo những nguyên
tắc sau:
Thứ nhất phải đánh giá đúng thực trạng của dôanh nghiệp mình về đặc
điểm, loại hình sản xuất, quy mô cũng như về công nghệ và máy móc thiết
bị….để áp dụng phân công theo tính chất của từng công việc. đây là bước công
việc quan trọng, chông chỉ quyết định đến kết quả phân công lao động mà còn
ảnh hưởng của nhiều khâu của quá trình sản xuất.
Thứ hai việc xây dựng hệ thống nội quy, quy định hoàn chỉnh trong xí
nghiệp.
Thứ ba Để phân công lao động phù hợp với yêu cầu kỹ thuật công nghệ,
với công việc được giao thì lao động có cơ sở khoa học tức là có định mức , có
điều kiện và có khả năng hoàn thành
Thứ tư : phải có sự cân đối phân đều nguồn lực cho người lao động
trong quá trình sản xuất kinh doanh của của doanh nghiệp diễn ra thường xuyên
liên tục.
SV : NguyÔn V¨n Ba
- 14 -
Líp
QTKD K6
Từ đây chúng ta có thể biết rõ rằng các nhà quản lý có những kỹ năng cơ
bản để phân công lao động, nhưng để đánh giá được những kỹ năng đó, còn phải
dựa vào những điều mà người quản lý có làm được hay không như sau:
+ Khi phân công lao động, công nhân sản xuất chính luôn được lấy làm
trung tâm quyết định năng suất lao động của toàn bộ dây chuyền sản xuất.
+ Sau khi phân công lao động hiệu quả của nó làm giảm lượng lao động
nó đó là giới hạn về kỹ thuật công nghệ, kinh tế, tâm sinh lý lao động, xã hội, tổ
chức…
Phân công lao động cho phép mỗi cá nhân và mỗi tập thể có điều kiện thực
hiện chuyên môn hoá sản xuất góp phần nâng cao chất lượng công tác, nâng cao
năng suất lao động và hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Các hình thức phân công lao động trong doanh nghiệp
+ Phân công lao động theo chức năng : đây là hình thức chia tách các hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp theo các chức năng chính và giao
cho toàn thể những người lao động trong doanh nghiệp. Các chức năng chủ yếu
như : chức năng quản lý chung- Lãnh đạo ; Chức năng thương mại ; Chức năng
tài chính ; Chức năng cung ứng vật tư kỹ thuật ; Chức năng lao động- nhân sự ;
Chức năng kỹ thuật công nghệ ; chức năng sản xuất.
Phân công lao động theo chức năng tạo nên cơ cấu lao động chung trong
toàn doanh nghiệp. Có tác dụng giúp cho mọi cá nhân và bộ phận làm việc theo
đúng phạm vi trách nhiệm, quyền hạn của mình. đồng thời thực hiện tốt mối liên
hệ trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
+ Phân công lao động theo công nghệ : đây là hình thức phân công lao động
trong đó tách riêng các loại công việc khác nhau theo tính chất của quy trình
công nghệ thực hiện chúng. Hình thức phân công này là quan trọng nhất trong
doanh nghiệp bởi vì nó phụ thuộc vào kỹ thuật và công nghệ sản xuất ra sản
phẩm của doanh nghiệp. Theo cách này có các hình thức phân công lao động sau
SV : NguyÔn V¨n Ba
- 16 -
Líp
QTKD K6
đây : Theo nghề ; các giai đoạn công nghệ chủ yếu ; các nguyên công ; các sản
phẩm chi tiết.
Phân công lao động theo công nghệ cho phép hình thành một đội ngũ
những người công nhân (Thợ chuyên môn và lành nghề đảm bảo chế tạo ra
những sản phẩm chất lượng cao, thoả mãn nhu cầu ngày càng tăng của khách
phát huy được hết khả năng, sở trường, trình độ của bản thân là điều kiện thuận
lợi làm ra nhiều sản phẩm đạt chất lượng theo yêu cầu. Đây là điều kiện để
doanh nghiệp hoàn thành khối lượng sản phẩm theo đúng kế hoạch đã đặt ra.
Một doanh nghiệp dù có trình độ chuyên môn bình quân cao nhưng nếu không
phân công lao động hợp lý theo đúng chuyên môn nghiệp vụ thì hiệu quả công
việc của mỗi cá nhân và tập thể sẽ đạt thấp. Dẫn đến việc sử dụng nhân lực kém
hiệu quả
Chỉ tiêu 3: Rủi do trong lao động (Người bị tai nạn lao động, bệnh nghề
nghiệp, về nghỉ do không còn khả năng lao động bình thường trước thời hạn).
Khi làm việc trong những điều kiện lao động không thuận lợi của doanh
nghiệp, người lao động thường phải gánh chịu một số hậu quả do ảnh hưởng của
các yếu tố điều kiện lao động gây ra. Người ta dùng các chỉ tiêu về tình trạng tai
nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, về nghỉ do không còn khả năng lao động bình
thường trước thời hạn để phản ánh và đánh giá tình hình sử dụng nhân lực của
doanh nghiệp.
Tai nạn lao động: Tai nạn xảy ra gây tác hại đến cơ thể người lao động do
tác động của các yếu tố nguy hiểm và có hại trong sản xuất.
Bệnh nghề nghiệp: Là bệnh phát sinh do tác động của điều kiện lao động có
hại đối với người lao động
Người lao động phải nghỉ việc do không còn khả năng lao động: Trong quá
trình lao động người lao động có thể bị chấn thương do không tuân theo các yêu
cầu về an toàn lao động.
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tai nạn lao động trong sản xuất công nghiệp:
SV : NguyÔn V¨n Ba
- 18 -
Líp
QTKD K6
+ Nguyên nhân khách quan do công nghệ, thiết bị máy móc(hay còn gọi là
các dạng tai nạn lao động) gồm : Tai nạn lao động do điện giật ;tai nạn lao động
do ngã từ trên cao xuống; tai nạn lao động do sử dụng nồi hơi và thiết bị chịu áp
hậu quả của rất nhiều nguyên nhân, nguyên nhân chính từ thiếu sót của con
người, không chỉ do những người trực tiếp điều khiển mà cả những nhân viên
bảo quản, người giám sát, các nhà quản lý sản xuất, các nhà thiết kế, chế tạo
thiết bị và người cung cấp thiết bị.
Các sự cố kỹ thuật thường do thiếu sót của con người như bảo quản kém, sử
dụng quá tải hoặc sử dụng không đúng quy trình. Vì thế sự chú ý nên hướng trực
tiếp tới việc ngăn chặn các lỗi và thiếu sót của con người ở tất cả các cấp .
Thông thường, một sự kiện hoặc một điều kiện có thể dẫn đến nhiều sai lầm
hoặc thiếu sót được gọi là các thiếu sót chung. Hoạt động huấn luyện và hướng
dẫn sơ sài cho người điều khiển sẽ dẫn đến một hành động sai lầm. Nếu doanh
nghiệp chưa có một chương trình huấn luyện được tổ chức tốt điều đó có thể do
những nhà quản lý của doanh nghiệp chưa quan tâm coi trọng công tác an toàn
như là ưu tiên hàng đầu và chưa đầu tư thời gian và tiền của một cách tương
xứng. Không chỉ việc huấn luyện và hướng dẫn cho người điều khiển, mà cả kỹ
thuật an toàn và bảo dưỡng thiết bị cũng có xu hướng bị lơ là.
Sai sót chung nguy hại nhất thuộc về tình trạng tổ chức giao trách nhiệm
quản lý an toàn lao động không đầy đủ; Thiếu các bộ phận quản lý về an toàn,
thiếu phối hợp giữa các phòng ban chức năng, thông tin tuyên truyền và hướng
dẫn đến người lao động chưa tương xứng. Sai sót chung rơi vào sự phân cấp
quản lý nhiều hơn thì có thể dẫn đến thiệt hại nhiều hơn. Do vậy trong quá trình
sử dụng lao động người quản lý phải có cam kết đầy đủ về an toàn máy móc
thiết bị và thông báo cam kết đó đến mọi thành viên
Để đánh giá tình hình tai nạn lao động người ta căn cứ vào hệ số tần suất tai
nạn( Sts) là tỷ số giữa người bị tai nạn trên số lượng người làm việc trong thời
gian xác định
S
SV : NguyÔn V¨n Ba
- 20 -
Líp
QTKD K6
- 21 -
Líp
QTKD K6
Kn =
Hiệu quả sản suất xuất kinh doanh là nền tảng cho khả năng sinh lời của
công ty hay xí nghiệp và nó được thúc đẩy bằng việc gia tăng hiệu quả của lực
lượng lao động, của máy móc thiết bị. Khả năng sinh lời của một công ty hay xí
nghiệp có mối quan hệ hết sức chặt chẽ với hiệu quả sản suất và do đó, chúng ta
phải phân tích mối quan hệ. Hiệu quả sản suất được đo bằng giá tri gia tăng.
Giá trị gia tăng có nghĩa là giá trị mới tạo được thông qua hoạt động sản
suất kinh doanh. Nói chung chỉ số này ngụ ý về giá trị mà công ty hay xí nghiệp
bổ xung vào việc sản suất kinh doanh.
Có hai phương pháp để tính giá trị gia tăng
+ Một là phương pháp khấu trừ, tức là lấy doanh thu trừ đi chi phí. Cách
thứ hai là phương pháp bổ sung, tức là bổ sung vào những khoản mục tạo ra giá
trị gia tăng. Theo phương pháp bổ sung, tổng giá trị gia tăng bao gồm những chi
phí nhân sự và lao động, chi phí thêm và các khoản khác, các khoản lệ phí., chi
phí tài chính dòng và lợi nhuận hoạt động sau khi thanh toán lãi vay. Lấy tổng
giá trị gia tăng trừ đi chi phí khấu hao sẽ được giá trị gia tăng dòng. Chi phí
khấu hao chuyển đổi tài sản cố định thành chi phí trong thời gian hữu ích của tài
sản. Hiệu quả sản suất được chia thành mức độ tập trung vốn và hiệu quả của
vốn, được diễn giải dưới đây:
Tổng giá trị gia tăng
* Hiệu suất lao động = (Đồng)
Số lao động bình quân đầu kỳ và cuối kỳ
Tổng giá trị gia tăng = Lợi nhuận từ hoạt động + chi phí nhân sự và lao
động + chi phí thuê + thuế và các chi phí xã hội + Các khoản chi phí + chi phí
khấu hao.
Tổng giá trị gia tăng
* Hiệu suất lao động = (đồng)
dụng lao động. Nó mang nhiều ý nghĩa cho sự phát triển kinh tế xã hội nói
chung và doanh nghiệp nói riêng gồm :
SV : NguyÔn V¨n Ba
- 23 -
Líp
QTKD K6
(Đồng)
* Hiệu quả của đồng vốn =
( % )
Làm giảm giá thành sản phẩm
Giảm số người làm việc, tiết kiêm được quỹ lương và làm tăng mức
lương.
Tạo điều kiện tăng quy mô và tốc độ tổng sản phẩm quốc dân và thu nhập
quốc dân. Từ đó ta có các chỉ tiêu đánh giá về năng suất lao động.
Thứ nhất : Cố định về thời gian
Sản lượng sản phẩm
Lượng thời gian lao động hao phí
Thứ hai : Sản lượng cố định
+ Năng suất lao động bình quân giờ
Sản lượng sản suất ra
Tổng số giờ làm việc thực tế
+ Năng suất lao động bình quân ngày.
Sản lượng sản phẩm sản suất ra
Tổng số ngày công làm việc thực tế
+ Năng suất lao động bình quân một lao động
Sản lượng sản suất ra
Tổng số giờ làm việc thực tế
Mức thu nhập bình quân một đầu người
Mức năng suất lao động trong xí nghiệp được tính theo công thức tổng
quát :
Khối lượng sản phẩm sản xuất ra(Q)
Lượng lao động đã hao phí (T)
Nhận xét: Nếu năng suất lao động cao sẽ phản ánh hiệu quả hoạt động
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là đang đi đúng hướng và gặp phải những
thuận lợi nhất định trong hoạt động sản xuất và ngược lại.
SV : NguyÔn V¨n Ba
- 25 -
Líp
QTKD K6
Thu nhập bình
quân
Của người lao
=
Năng suất lao động
Bình quân chung(W)