Tình hình nhiễm chlamydia trachomatis trên bệnh nhân nữ có hội chứng tiết dịch âm đạo đến khám tại bệnh viện da liễu trung ương - Pdf 36

1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh Chlamydia là bệnh lây truyền qua đường tình dục phổ biến ở
nước ta và nhiều nước trên thế giới. Căn nguyên gây bệnh là vi khuẩn
Chlamydia trachomatis được phát hiện lần đầu tiên vào năm 1907.
Vi khuẩn C. trachomatis có khả năng gây nên bệnh mắt hột và các bệnh
nhiễm trùng đường sinh dục tiết niệu như viêm âm đạo - cổ tử cung, viêm vòi
trứng,…. C. trachomatis là một trong những nguyên nhân thường gặp nhất
gây ra hội chứng tiết dịch âm đạo. Khoảng 50 - 75% phụ nữ nhiễm C.
trachomatis không có biểu hiện lâm sàng. Do vậy, nếu bệnh không được chẩn
đoán, điều trị sớm thì sẽ là nguồn lây bệnh trong cộng đồng và gây ra những
biến chứng nghiêm trọng như viêm tiểu khung, chửa ngoài dạ con, ảnh hưởng
đến phụ nữ mang thai… đặc biệt hậu quả nặng nề nhất là vô sinh do viêm tắc
vòi trứng. Ở trẻ sơ sinh khi người mẹ có mang bị bệnh Chlamydia không
được điều trị, lúc sinh đứa trẻ có thể bị nhiễm khuẩn gây viêm kết mạc mắt và
viêm phổi.
Trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đã có rất nhiều nghiên
cứu về C. trachomatis. Năm 2009, Matsumoto ở Nhật Bản đã đưa ra cảnh
báo: bệnh STDs có xu hướng giảm nhưng bệnh Chlamydia lại có xu hướng
tăng trên toàn thế giới. Báo cáo WHO năm 2008, tổng số ca nhiễm mới STDs
ở người lớn là 498,9 triệu người, tập trung chủ yếu ở khu vực Tây Thái Bình
Dương. Trong đó có 105,7 triệu ca nhiễm C. trachomatis, tăng 4,1% so với tỷ
lệ nhiễm năm 2005 [1]. Tại Mỹ, theo CDC, tỷ lệ nhiễm C. trachomatis được
báo cáo năm 2014 là 456,1 trường hợp trên 100.000 người [2]. Ở Việt Nam,
theo ước tính của các chuyên gia, hàng năm có gần 1 triệu trường hợp nhiễm
STDs mới trong đó có khoảng 500.000 trường hợp nhiễm C. trachomatis sinh
dục [3].


2

Năm 1910, Linder mô tả thể vùi cổ tử cung ở người mẹ của trẻ bị đau
mắt hột và của người vợ mà người chồng bị viêm niệu đạo không do lậu. Các
tác giả này đặt tên chúng là Chlamydozoa.
Năm 1938, C. trachomatis mới được phân lập đầu tiên từ túi phôi của
trứng đã thụ tinh.
Về tên gọi, năm 1945 Moskowsky gọi các vật thể này là Mygagawanlla,
Chlamydozoom mắt và sinh dục. Đến năm 1970, hội nghị quốc tế về mắt hột
ở Mỹ mới thống nhất gọi nhóm vi sinh vật này là Chlamydia theo nghĩa tiếng
la tinh là: “áo choàng”.
1.1.2. Tình hình nhiễm C. trachomatis trên thế giới
Tỷ lệ nhiễm C. trachomatis trong các bệnh STDs có xu hướng ngày
càng gia tăng trong những năm gần đây. Trên thế giới đã có rất nhiều nghiên
cứu về tình hình nhiễm C. trachomatis. Ở Canada, theo nghiên cứu của
Steenbeek A và cộng sự, tỷ lệ nhiễm C. trachomatis ở phụ nữ độ tuổi 15 - 65
là 13,8% [4]. Một số quốc gia ở châu Âu, chẩn đoán C. trachomatis từ 7 ca/
100.000 dân tại Slovenia đến 585 ca/ 100.000 dân tại Iceland [1].
Đối tượng mại dâm được đặc biệt chú ý vì đây là đối tượng có nguy cơ
cao do tình trạng quan hệ tình dục không an toàn và có nhiều bạn tình của các
đối tượng này. Việc phát hiện bệnh và điều trị ở nhóm đối tượng này sẽ rất
khó khăn. Theo nghiên cứu của Horas Wong và cộng sự năm 2015 trên phụ


4

nữ bán dâm tại Hồng Kong, phát hiện tỷ lệ dương tính với C. trachomatis
sinh dục là 10,6% [5]. Ở Trung Quốc , nghiên cứu trên 3.099 phụ nữ bán dâm
của Chen XS cho thấy tỷ lệ nhiễm C. trachomatis là 17,30% [6].
Qua các nghiên cứu, có thể thấy, nhiễm C. trachomatis chủ yếu ở đối
tượng trong độ tuổi còn trẻ vì đây là đối tượng có hoạt động tình dục mạnh đồng
thời chiếm tỷ lệ dân số cao. Nghiên cứu của Achchhe L Patel trên 593 phụ nữ từ

nghiên cứu của Nguyễn Thanh Tân và cộng sự, trong số 513 bệnh nhân là
người dân tộc thiểu số từ 15 đến 49 tuổi tại 5 tỉnh miền Trung - Tây Nguyên,
tỷ lệ nhiễm C. trachomatis là 13,8% [3].
Khoảng 50 - 70% phụ nữ nhiễm C. trachomatis không có triệu chứng
lâm sàng nên việc chẩn đoán phát hiện thường muộn, chậm trễ gây ra những
hậu quả rất nghiêm trọng như: vô sinh do tắc vòi trứng, thai ngoài tử cung,…
Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Hà bằng phương pháp xét nghiệm
miễn dịch huỳnh quang trực tiếp ở bệnh nhân vô sinh do tắc vòi trứng thì tỷ lệ
dương tính với C. trachomatis là 51,3% [13]. Cũng theo báo cáo của Ninh
Văn Minh và Nguyễn Thị Tuyết, trong số 150 phụ nữ có tình trạng vô sinh thì
tỷ lệ nhiễm C. trachomatis chiếm tới 41,3% [14].
1.2. Vi khuẩn Chlamydia
1.2.1. Hội chứng tiết dịch âm đạo [15]
1.2.1.1. Định nghĩa
Hội chứng tiết dịch âm đạo là một hội chứng lâm sàng thường gặp mà
người bệnh than phiền là có dịch âm đạo (khí hư) và kèm theo một số triệu
chứng khác như ngứa, đau rát ở vùng sinh dục, đái khó, đau khi giao hợp....
Nếu không điều trị có thể gây biến chứng như viêm tiểu khung, vô sinh, thai
ngoài tử cung, nhất là đối với Gonorrhoeae và Chlamydia. Mọi trường hợp
viêm âm hộ, viêm âm đạo, viêm âm hộ - âm đạo và viêm cổ tử cung đều đưa
đến tiết dịch âm đạo.


6

1.2.1.2. Triệu chứng lâm sàng
Các dấu hiệu và triệu chứng của tiết dịch âm đạo bệnh lý (khí hư): số
lượng ít hoặc nhiều; loãng hoặc đặc; màu trong, đục hoặc màu vàng; mùi hôi
hoặc không hôi. Ngoài ra còn có các triệu chứng khác đi kèm:
+ Ngứa vùng âm hộ, âm đạo (đặc biệt do nấm men Candida).

kháng sinh nhóm β-lactam, chỉ bao gồm lớp màng liposaccarid, các protein
chủ đạo (MOMP) và các protein giàu cystein (CRP) ở lớp ngoài là những cấu
trúc chính quyết định tính kháng nguyên của C. trachomatis. Chúng có điểm
khác với các vi khuẩn khác là không có khả năng tạo ATP bằng hiện tượng
oxy hóa do hệ thống enzyme phân hủy glucose và enzyme tham gia chu trình
Krebs không hoàn chỉnh, vì thế chúng phải sống ký sinh bắt buộc trong tế bào
sống, lệ thuộc vào hệ thống năng lượng của tế bào vật chủ. Đây là đặc điểm
giống virus của C. trachomatis.
1.2.2.2. Các loại kháng nguyên
C. trachomatis có các loại kháng nguyên:
Kháng nguyên chi (genus): là loại kháng nguyên chung của nhiều loài
Chlamydia khác nhau, bản chất là glycolipid, chịu nhiệt, được dùng trong
phản ứng kết hợp bổ thể, gắn liền với thân.
Kháng nguyên loài: bản chất là protein, không chịu nhiệt. Kháng thể
tương ứng với nó hiện nay được dùng để chẩn đoán loài, tức là xác định sự có
mặt của kháng thể kháng C. trachomatis, đây là một phản ứng đặc hiệu.


8

Ngoài ra còn có kháng nguyên đặc trưng cho từng typ, bản chất là protein.
1.2.2.3. Phân loại
C. trachomatis là một trong ba loài vi khuẩn trong chi Chlamydia, họ
Chlamydiaceae, lớp Chlamydiae, giới Bacteria. Trong đó ba loài trong chi
Chlamydia gồm:
Chlamydia psittasci: gây sốt vẹt.
Chlamydia trachomatis: gây viêm kết mạc, viêm đường tiết niệu sinh dục.
Chlamydia pneumoniae: gây viêm phổi.
Bằng phương pháp miễn dịch huỳnh quang, người ta đã chia C.
trachomatis thành 15 loại là:

đôi liên tiếp trong vòng 24 giờ tạo thành nhiều EB và đến 48 - 72 giờ thì
nguyên sinh chất của tế bào đã đầy ắp các EB, làm vỡ tế bào, giải phóng ra
các EB tự do tiếp tục xâm nhập vào tế bào khác. Vòng đời của C. trachomatis
lại tiếp tục. Mỗi lần giải phóng hàng trăm EB.
1.2.2.7. Đường lây truyền
C. trachomatis lây nhiễm từ người bệnh sang người lành theo hai con
đường chính là:
+ Lây truyền qua sinh hoạt tình dục với người bị bệnh.
+ Lây từ mẹ sang con trong quá trình sinh đẻ. Ngoài ra C. trachomatis
cũng có thể lây qua tiếp xúc của bộ phận sinh dục với dịch tiết đường sinh
dục của người bị bệnh.
Cách thức lây truyền C. trachomatis tương tự như bệnh lậu, tức là chỉ lây
truyền qua giao hợp không bảo vệ, theo mọi hình thức (âm đạo, hậu môn,
miệng). Ngoài ra chúng còn có thể lây truyền từ mẹ sang thai khi thai sổ đẻ.
Nam hay nữ đều có thể bị nhiễm C. trachomatis.


10

1.2.3. Khả năng gây bệnh
Vi khuẩn C. trachomatis có khả năng gây nên 2 bệnh chính cho người:
bệnh mắt hột và bệnh nhiễm trùng sinh dục tiết niệu.
Bệnh mắt hột
Viêm kết mạc do mắt hột tiến triển qua 4 giai đoạn:
+ Giai đoạn 1: viêm kết mạc thể nang thường có kèm theo bội nhiễm vi
khuẩn khác.
+ Giai đoạn 2: viêm kết mạc thể hạt.
+ Giai đoạn 3: giai đoạn biến chứng loét, bội nhiễm và sẹo.
+ Giai đoạn 4: hồi phục kèm theo sẹo kết mạc, loét giác mạc và rất có
thể bị mù lòa (nếu không được điều trị tích cực).

+ Hội chứng Reiter hay còn gọi là bệnh viêm khớp phản ứng (VKPU)
với ba triệu chứng: viêm kết mạc mắt, viêm niệu đạo và viêm khớp (tam
chứng Reiter). Yếu tố gen giữ vai trò quan trọng trong bệnh sinh của bệnh
VKPU, có 30 - 70% bệnh nhân VKPU dương tính với HLA - B27.
1.2.4. Chẩn đoán nhiễm C. trachomatis
1.2.4.1. Chẩn đoán trực tiếp
+ Phương pháp nhuộm soi trực tiếp
Bệnh phẩm: đối với bệnh mắt hột, người ta lấy nang bằng cách nạo các
nang. Đối với bệnh viêm đường sinh dục - tiết niệu, lấy mủ chất niệu đạo
(nam giới), chất tiết cổ tử cung, âm đạo (nữ giới).
Nhuộm soi: kỹ thuật nhuộm đơn giản, rẻ tiền nhưng phải xét nghiệm
đúng thời kỳ, thận trọng khi nhận định kết quả. Với kỹ thuật nhuộm Giemsa,
kết quả phụ thuộc vào chất lượng Giemsa, đòi hỏi luôn phải kiểm tra dung
dịch đệm. Đối với nhuộm Iod chỉ cần một kính hiển vi thông thường, tuy


12

nhiên độ nhạy kém. Phương pháp này ít được sử dụng vì hiệu quả thấp do
bệnh phẩm lấy được ít vi khuẩn, độ nhạy thấp, tỷ lệ dương tính giả cao.
+ Nuôi cấy phân lập
Phương pháp này khắc phục nhược điểm của phương pháp nhuộm soi
trực tiếp.
Đối với bệnh phẩm mắt hội: nuôi cấy tế bào để phát hiện các hạt vùi
trong nguyên sinh chất của tế bào và nuôi cấy vào tế bào bào thai người.
Đối với bệnh phẩm sinh dục - tiết niệu: cấy vào tế bào McCoy hoặc Hela
229. Quan sát tính chất xâm nhiễm bằng cách sau 48 giờ nuôi cấy, người ta
xác định bằng kỹ thuật miễn dịch huỳnh quang.
Phương pháp này có độ đặc hiệu cao, nhưng độ nhạy thấp chỉ khoảng
80%. Phương pháp này chủ yếu được dùng trong nghiên cứu khoa học, ít

1.2.4.2. Chẩn đoán gián tiếp
+ Dùng kỹ thuật ELISA phát hiện kháng thể IgG kháng kháng nguyên
giống Chlamydia ngoài đường sinh dục.
+ Phản ứng vi lượng huỳnh quang xác định kháng thể chẩn đoán loài C.
trachomatis, đây là một phản ứng đặc hiệu.
1.2.5. Nguyên tắc phòng bệnh và điều trị
1.2.5.1. Nguyên tắc phòng bệnh
+ Đối với bệnh mắt hột: cần tăng cường các biện pháp vệ sinh như
không dùng chung khăn mặt, chậu rửa mặt, bảo đảm nguồn nước sạch trong
sinh hoạt hàng ngày…
+ Đối với bệnh viêm đường sinh dục - tiết niệu: không quan hệ tình
dục bừa bãi, đảm bảo quan hệ tình dục an toàn, cần phát hiện sớm người
mắc bệnh để điều trị kịp thời và có biện pháp phòng bệnh cho vợ hoặc
chồng hoặc cả hai.
+ Việc phòng bệnh bằng vacxin cho tới nay vẫn đang được tiếp tục
nghiên cứu.


14

1.2.5.2. Nguyên tắc điều trị
Cho tới nay, C. trachomatis vẫn rất nhạy cảm với các loại kháng sinh
như sulfamid, penicilin, tetracyclin, erythromycin. Vì vậy việc phát hiện sớm
có ý nghĩa rất quan trọng, giúp cho việc chữa khỏi hoàn toàn mà tránh được
nhiều biến chứng nguy hiểm.
Trị liệu được lựa chọn là Tetraxyclin hoặc Doxycyclin trong 1-3 tuần.


15


+ Giá cắm tube, ống nghiệm chứa bệnh phẩm.
+ Bút bi, bút dạ.
+ Găng tay, mũ, khẩu trang.
+ Tủ bảo quản sinh phẩm 20C - 80C.
+ Đồng hồ theo dõi thời gian.
2.2.2. Hóa chất và sinh phẩm
Bộ kít test nhanh SD Bioline Chlamydia chẩn đoán sự có mặt của
kháng nguyên C. trachomatis trong niêm mạc cổ tử cung.
+ 25 thanh thử SD Bioline Chlamydia trong túi nhôm có gói hút ẩm.
+ Thuốc thử A (10ml/lọ): dung dịch tách chiết.
+ Thuốc thử B (20ml/lọ): dung dịch trung hòa.
+ 50 tăm bông vô trùng và 25 tube đựng mẫu.
+ 25 ống nhỏ giọt 300µl dùng một lần.
+ 25 ống nhỏ giọt 600µl dùng một lần.

Hình 2.1. Bộ test nhanh C.trachomatis.
2.3. Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp mô tả cắt ngang.
2.3.1. Cách tính cỡ mẫu
Ta có công thức tính cỡ mẫu:
n = Z2(1 - α/2) x Px(1- P)/d2
Với Z(1 - α/2) = 1,96 ở độ tin cậy 95%.
P là tỷ lệ nhiễm trung bình ở bệnh viện qua các năm (11%).
d là sai số cho phép.


17

Tính ra n = 430, chúng tôi đã tiến hành 432 trường hợp test nhanh.
2.3.2. Thiết kế nghiên cứu
Bệnh nhân đến khám.

Tăm bông thứ nhất lau sạch dịch tiết cổ tử cung bỏ đi
Tăm bông thứ hai xoay nhẹ và lưu khoảng 10 giây, sau đó rút ra, không
được chạm vào cùng đồ sau và thành âm đạo. Cho tăm bông bệnh phẩm vào
ống nghiệm đã được ghi rõ tên tuổi bệnh nhân và cắm vào giá.
Chú ý khi lấy bệnh phẩm: đối với bệnh nhân chưa có gia đình hoặc bệnh
nhân có thai không nên đặt mỏ vịt mà chỉ dùng que cấy hoặc tăm bông lấy bệnh
phẩm ở thành âm đạo. Ở những phụ nữ đã cắt bỏ tử cung, mẫu được lấy ở cùng
đồ sau của âm đạo.
Đặt que vào trong ống và thực hiện xét nghiệm ngay. Xét nghiệm phải
được tiến hành ngay sau khi lấy mẫu. Nếu không thực hiện được ngay, nên
lưu mẫu trong ống khô để bảo quản hoặc vận chuyển. Mẫu có thể lưu trữ ở
nhiệt độ 20 C - 80 C, lâu nhất là 72h, không được bảo quản trong ngăn đá.


19

2.3.3.3. Kỹ thuật tiến hành
2.3.3.3.1. Nguyên lý của test nhanh
Là xét nghiệm sắc ký miễn dịch phát hiện kháng nguyên lypopolysaccarid
chọn lọc C. trachomatis trong cổ tử cung có kết quả nhanh trong vòng 15 phút
đã được áp dụng nhiều nơi trên thế giới và tại Việt Nam đã sử dụng nhiều
trong những năm gần đây.
Test thử có chứa kháng thể chuột đơn dòng kháng C. trachomatis ở
vạch thử T. Phức hợp mẫu thử bao gồm kháng nguyên C. trachomatis và
kháng thể chuột đơn dòng kháng C. trachomatis gắn cộng hợp vàng di chuyển
tới vạch thử T theo nguyên tắc sắc ký làm xuất hiện vạch thử T do hình thành
phức hợp kháng nguyên - kháng thể. Khi đó có nghĩa là dương tính với C.
trachomatis. Vạch thử T không xuất hiện khi kháng nguyên C. trachomatis
không có trong mẫu.
Thanh thử có vạch thử T và vạch chứng C. Cả hai vạch này đều không

So sánh với phương pháp nuôi cấy thì test nhanh có:
+ Độ nhạy: 93,1% (Độ nhạy của xét nghiệm test nhanh là tỷ lệ những
trường hợp thực sự có bệnh và có kết quả xét nghiệm dương tính trong toàn
bộ các trường hợp có bệnh).
+ Độ đặc hiệu: 98,8% (Độ đặc hiệu của xét nghiệm test nhanh là tỷ
lệ những trường hợp thực sự không có bệnh và có kết quả xét nghiệm âm tính
trong toàn bộ các trường hợp không bị bệnh).
Chú ý: một số trường hợp dương tính giả như phản ứng chéo, âm tính
giả như: bệnh nhân mới nhiễm, lấy được ít tế bào, bệnh nhân đã sử dụng
thuốc làm giảm số lượng vi khuẩn,…


21

2.4. Y đức trong nghiên cứu
+ Tư vấn cho bệnh nhân: lấy bệnh phẩm và thông tin chỉ để phục vụ cho
mục đích chẩn đoán, định hướng điều trị và theo hướng có lợi cho bệnh nhân.
+ Được sự đồng ý hợp tác của bệnh nhân trước khi tiến hành lấy thông
tin của bệnh nhân phục vụ cho công tác nghiên cứu.
+ Tuyệt đối giữ bí mật các thông tin bệnh nhân cung cấp cũng như
các thông tin về bệnh của bệnh nhân như tên, tuổi, số điện thoại, địa chỉ,
nghề nghiệp...
2.5. Địa điểm nghiên cứu
Khoa xét nghiệm, Bệnh viện Da Liễu Trung Ương, 15A – Phương Mai –
Đống Đa – Hà Nội.
2.6. Thời gian nghiên cứu
Từ 01/2016 đến 03/2016
2.7. Xử lý số liệu
Xử lý số liệu theo chương trình Excel 2010 và SPSS 16.0



20

4,63%

20 - 30

272

62,96%

30 - 40

92

21,30%

41 - 50

34

7,87%

> 50

14

3,24%

Tổng số


20- 30

272

22

8,09%

31- 40

92

10

10,87%

41- 50

34

2

5,88%

> 50

14

2


≤ 5 bạch cầu

102

23,61%

> 5 bạch cầu

117

27,09%

> 10 bạch cầu

191

44,21%

Tổng số

432

100%

Nhận xét: Tỷ lệ bệnh nhân nữ có hội chứng tiết dịch âm đạo có chỉ số bạch
cầu trên 10 chiếm tỷ lệ cao nhất là 44,21%, thấp nhất là 5,09% ở bệnh nhân
có chỉ số bạch cầu âm tính.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status