B GIO DC V O TO B Y T
TRNG I HC Y H NI
***
NGUYN THU THO
Đặc điểm lâm sàng, mô bệnh học của bệnh nhân bị
ung th biểu mô tế bào vảy điều trị nội trú
tại Bệnh viện Da liễu Trung ơng
KHểA LUN TT NGHIP BC S Y KHOA
Khúa 2007 - 2013
HÀ NỘI –2013
B GIO DC V O TO B Y T
TRNG I HC Y H NI
***
NGUYN THU THO
Đặc điểm lâm sàng, mô bệnh học của bệnh nhân bị
ung th biểu mô tế bào vảy điều trị nội trú
tại Bệnh viện Da liễu Trung ơng
Chuyờn ngnh: DA LIU
KHểA LUN TT NGHIP BC S Y KHOA
Khúa 2007 - 2013
Ngi hng dn khoa hc: ThS. V THI H
H Ni - 2013
LêI C¶M ¥N
Khóa luận này được hoàn thành bởi sự dày công truyền thụ của các
thầy cô. Sự giúp đỡ chân thành của bạn bè.
Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới:
Ths. Bs. VŨ THÁI HÀ người thầy trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ và
động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài.
Ban giám hiệu, phòng đào tạo đại học, thư viện, các thầy cô giáo các
bộ môn trường Đại Học Y Hà Nội đã dạy dỗ, chỉ bảo cho tôi trong suốt quá
trình học tập tại trường.
IỂU ĐỒ
DANH MỤC HÌNH
IẾT TẮT
BN : Bệnh nhân
cs : Cộng sự
M : Metastasis
MBH : Mô bệnh học
N : Node
T : Tumor
UT : Ung thư
UTBM : Ung thư biểu mô
MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cảm ơn
Lời cam đoan
Danh mục chữ viết tắt
Danh mục bảng
Danh mục biểu đồ và hình
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
PHỤ LỤC
11
ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thư (UT) da là một trong số những UT phổ biến hiện nay. Theo
ghi nhận UT tại Thành phố Hồ Chí Minh năm 1997 thì UT da đứng vị trí thứ
8 trong 10 loại UT hay gặp [1] . Theo báo cáo của Lê Trần Ngoan năm
2005-2006 thì tỷ lệ mới mắc của UT da là 0,2-0,4/100.000 dân và tỷ lệ chết
do UT da cùng thời điểm cũng từ 0,2-0,4/100.000 dân [2]. Bệnh UT da hay
gặp ở miền xích đạo, nơi có bức xạ cực tím lớn nhất. Nam mắc nhiều hơn
nữ, tỷ lệ mắc tăng dần theo tuổi.
UTBM tế bào vảy(Squamous Cell Carcinoma – SCC) là loại UT da
1. Nghiên cứu tình hình của UTBM tế bào vảy.
2. Đặc điểm lâm sàng, mô bệnh học của UTBM tế bào vảy.
13
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Mô học
Da là một trong những cơ quan lớn nhất của cơ thể, chiếm tới 16%
trọng lượng cơ thể, da bao bọc toàn bộ diện tích cơ thể, gồm 3 lớp chính:
lớp biểu mô trên mặt gọi là thượng bì, lớp mô liên kết phía dưới gọi hay lớp
trung bì, phía dưới lớp trung bì là lớp mô liên kết thưa, lỏng lẻo hơn gọi là
hạ bì, ở nhiều vùng, lớp này chuyển thành lớp mỡ dưới da. Hạ bì nối một
cách lỏng lẻo với các màng ở dưới sâu, màng cơ, màng xương. Ở da người
còn thấy các thành phần phụ thuộc: lông, các tuyến, các móng.
Hình 1.1: Mô học của da (Theo John Hunter, 2005) [4]
14
1.1.1. Chức năng của da
Da bao phủ toàn bộ mặt ngoài cơ thể, có nhiệm vụ chủ yếu sau:
- Bảo vệ cơ thể chống lại sự mất nước và bốc hơi nước.
- Chống sự cọ sát, chống ngấm nước và các dung dịch acid.
- Ngăn cản các loại vi khuẩn, kí sinh trùng xâm nhập vào cơ thể.
- Nhận những kích thích thừ môi trường bên ngoài.
- Tham gia vào sự đào thải một số chất ra khỏi cơ thể.
- Tham gia vào sự điều chỉnh thân nhiệt.
1.1.2. Cấu tạo của da
Diện tích da ở người lớn khoảng 15.000cm2, bề dày của da thay đổi
theo lứa tuổi, giới tính, nghề nghiệp và theo từng vùng ở cơ thể. Da gồm 3
tầng tổ chức từ ngoài vào trong:
- Thượng bì
- Trung bì
- Hạ bì
1.1.2.3. Hạ bì
Lớp hạ bì được tạo thành bởi mô liên kết thưa, nối trung bì với các
cơ quan bên dưới, giúp cho da trượt trên các cấu trúc da nằm dưới. Tùy
từng vùng cơ thể và tình trạng môi trường ở lớp hạ bì có thể có những thùy
mỡ, tạo thành một lớp mỡ dày hay mỏng.
1.1.2.4. Các thành phần phụ của da
a. Lông
Những sợi mảnh sừng hóa phát triển từ những tế bào biểu bì. Chiều
dài của lông rất thay đổi, từ 0,005 đến 0,6 mm tùy từng vùng cơ thể. Lòng
bàn tay, gan bàn chân và một số nơi khác không có lông. Mỗi lông gồm có 2
phần: lông chính thức và nang lông.
16
Lông vừa có tác dụng bảo vệ da, vừa là cơ quan xúc giác gián tiếp.
b. Móng
Là những miếng sừng dẹt lợp mặt lưng các đầu ngón tay, ngón chân.
Móng gồm 2 phần: phần móng bị nếp gấp trên móng che khuất gọi là gốc
móng, phần lộ ra ngoài gọi là thân móng.
c. Tuyến bã
Là những tuyến ngoại tiết kiểu túi nằm ở lớp trung bì với đường bài
xuất ngắn mở vào cổ nang lông hoặc mở trực tiếp ra ngoài da.
Tuyến bã ở hầu khắp diện tích da của cơ thể (trừ ở lòng bàn tay và
gan bàn chân).
Sản phẩm bài xuất của tuyến bã là chất mỡ do sự thoái hóa của tế
bào tuyến sinh ra, có tác dụng làm cho da và lông mềm mại.
d. Tuyến mồ hôi
Là những tuyến ngoại tiết kiểu ống cong queo nằm trong lớp trung
bì. Mỗi tuyến gồm 2 phần: phần chế tiết và phần bài xuất.
Tuyến mồ hôi có ở khắp nơi của da.
Bằng sản phẩm bài xuất của mình tuyến mồ hôi giúp cơ thể thải ra
ngoài những sản phẩm chuyển hóa protein như ure, axit uric, ammoniac,…
hủy (chủ yếu do ô nhiễm), các bức xạ cực tím sẽ hiệp đồng tác dụng, gây
ảnh hưởng lên cấu trúc của phân tử DNA[5],[8],[9].
Những nghiên cứu gần đây gợi ý rằng tia cực tím tác động lên lớp tế
bào sừng làm đột biến gen P53, gây bất hoạt protein ức chế khối u, do vậy
làm xuất hiện UT[10].
18
Phơi nhiễm tia cực tím, đặc biệt với một cường độ mạnh và trong
một thời gian dài là yếu tố bệnh sinh quan trọng gây UT da. Chính vì vậy UT
da rất hay gặp ở những vùng da hở như đầu, mặt, cổ, mu bàn tay, và
thường xảy ra ở những người làm việc ngoài trời như thủy thủ, nông dân,
công nhân cầu đường,… Cùng với sự phát triển của công nghiệp một cách
mạnh mẽ như hiện nay, tầng ozon cũng bị phá hủy nghiêm trọng, và hậu
quả là số lượng người mắc UT da ngày càng tăng. Theo Urbach, số người
mắc UT da có thể tăng 12-36% sau năm 2050 do nguyên nhân này [6].
1.2.2.2. Tác nhân hóa học
Các tác nhân hóa học gây UT được chia làm 2 loại: tác nhân khởi
phát và tác nhân xúc tiến. Các tác nhân khởi phát làm biến đổi DNA của tế
bào, khi kết hợp với các tác nhân xúc tiến sẽ phát triển thành UT [10].
Từ thế kỷ 17, Percival Pott đã thấy nguyên nhân gây UT da bìu ở thợ
nạo ống khói là do chất hắc ín trong bụi khói nhiễm trực tiếp vào da bìu.
Prunes và Chile năm 1918 đã thông báo những trường hợp UT da ở công
nhân có tiếp xúc với nitrat. Sau đó, Hueper chứng minh rằng dầu mỏ và
paraffin cũng có thể gây UT da [11] .
Ngày nay chúng ta biết thêm nhiều hóa chất gây UT da, trong đó có
arsenic là loại hay gặp nhất vì được sử dụng nhiều trong công nghiệp, y tế,
và có nồng độ cao trong nước uống ở một số nước.
1.2.2.3. Bức xạ ion hóa
Năm 1902, lần đầu tiên một UT được khẳng định có nguyên nhân là
bức xạ ion hóa, đó là UT da [6].
19
20
hiện chủ yếu ở những vùng da hở. BN thường mắc UT da sớm trước 20
tuổi. Bệnh có thể đề phòng bằng cách tránh tia cực tím.
* Loạn sản thượng bì dạng hạt cơm
Là bệnh di truyền trội gây đột biến gen Patched ở NST 9q. Bệnh xuất
hiện nhiều tổn thương giống hạt cơm và có thể tiến triển thành UTBM tế
bào vảy, thường phối hợp với nhiễm HPV 5,8.
* Bệnh bạch tạng
Bạch tạng là do thiếu sắc tố Melanin ở da, đồng tử, tóc, với chứng sợ
ánh sáng và rung giật nhãn cầu [11].
1.2.2.6. Bệnh lý sẵn có
*Tàn nhang:
Cá thể mang nhiều vết rám, tàn nhang có nguy cơ mắc UT da cao
hơn.
* Viêm nhiễm mạn tính hoặc chấn thương da:
UT da, đặc biệt là UTBM tế bào vảy có thể phát triển trên vùng da có
tổn thương từ trước như lupus, loét mạn tính, sẹo bỏng cũ,… Brown và cs,
qua nghiên cứu 511 trường hợp UT ở chi, thấy rằng gần 3/4 số bệnh nhân
trên xuất hiện UT da trên vùng da có tổn thương từ trước [12].
* Nhiễm HPV:
Trên thế giới virus sinh UT là yếu tố bệnh sinh đang được nghiên cứu
nhiều. Đối với UT da, người ta đề cập đến virus sinh u nhú ở người (HPV-
Human Papilloma Virus) với các nhóm 5, 8, 14, 16, 17 và 33. Theo nghiên
21
cứu của Eliezirr (1990), HPV 16 có liên quan trực tiếp đến UT da loại
UTBMTB vảy, HPV 5 và 8 được tìm thấy trong hầu hết các trường hợp loạn
sản thượng bì dạng hạt cơm, một loại tổn thương tiền UTBM.
* Dầy sừng ánh sáng:
Thường gặp vùng da hở và trên người da sáng màu với biểu hiện là
dát đỏ trên có vảy da màu nâu. Tiến triển theo 3 hướng: thoái lui, không
trên một viêm môi ánh sáng trước đó với biểu hiện sẩn, trợt đỏ
cứng. Có thể gặp ở vị trí khác như bờ bên lưỡi, phần trước miệng.
• UTBM tế bào vảy sinh dục-hậu môn: thương tổn là loét, cứng, sùi,
u nhầy ở âm hộ, hậu môn, bìu, dương vật thường liên quan đến
HPV, có thể gặp sùi mào gà khổng lồ/u của Buschke-lowenstein.
• SCC tại chỗ
o Bệnh Bowen: là một SCC tại chỗ với biểu hiện là dát đỏ, trên có vẩy,
không có triệu chứng gì nên thường dễ bỏ qua và chẩn đoán muộn.
Thương tổn thường ở vùng da hở.
o Hồng sản queyrat: triệu chứng giống ở bệnh Bowen xuất hiện ở sinh
dục. Tỷ lệ chuyển thành UTBM tế bào vảy thâm nhiễm cao hơn bệnh
Bowen.
o Sẩn dạng Bowen: là sẩn màu đỏ, hơi nổi cao có thể có vảy, hay gặp
ở sinh dục trên người trẻ tuổi. Thường liên quan đến HPV.
23
1.3.2. Biểu hiện toàn thân.
Chỉ có khoảng 10-15% UTBM tế bào vảy có dicăn hạch nên các biểu
hiện toàn thân thường nghèo nàn. Giai đoạn cuối của UTBM tế bào vảy có
suy sụp cơ thể, sút cân, thiếu máu, đau…
* Di căn hạch
Tỷ lệ di căn hạch của UTBM tế bào vảy rất khác nhau theo các tài
liệu. Theo Weber (1996), tỷ lệ là 0,5-16% trong khi đó Greithe và Trisch
(1957) lại cho rằng 15-20% các trường hợp có di căn hạch [14]. Tại nước
ta, nghiên cứu của Trịnh Quang Diện cho thấy tỷ lệ di căn của UTBM tế bào
vảy là 13,8%[15], còn Nguyễn Thị Thái Hòa cho rằng tỷ lệ này là 18,7%
[16].
Nguy cơ di căn hạch khác nhau giữa các vị trí. Những tổn thương ở
dương vật, bìu, hậu môn thường có nguy cơ di căn hạch cao [17], [18]. Đối
với các UT ở đầu, mặt, cổ, tổn thương xuất phát từ vùng tai có nguy cơ di
căn hạch cao hơn hẳn những tổn thương ở những vị trí khác [19]. Regato
1.5. Chẩn đoán xác định.
Chẩn đoán dựa vào lâm sàng và cận lâm sàng đã nêu trên. Trong đó
mô bệnh học là tiêu chuẩn vàng.
25
Việc chẩn đoán được thực hiện bằng mô bệnh học, việc này đòi hỏi
phải có đầy đủ kiến thức để xác định những tổn thương nghi ngờ. Cần làm
mô bệnh học những tổn thương sớm khả nghi gồm:
- Một vết loét dai dẳng có thể khỏi từng thời kỳ hoặc chảy máu một ít.
- Những thay đổi tại một vùng sừng hóa do ánh nắng mặt trời.
- Loét hay nổi cục tại vùng da đã được tia xạ trước đây hay tại một vết
sẹo, một đường rò.
- Dát đỏ nhạt màu mãn tính với xước nhẹ gợi ý đến một UT tại chỗ.
1.6. Chẩn đoán phân biệt
Trước một tổn thương nghi ngờ, cần phân biệt với các bệnh sau:
- Các u da lành tính: u nang lông, u bã, u sừng gai…
- Loét nhiễm trùng do nấm, lao, giang mai.
- Loét thiểu dưỡng.
- Các UT da khác.
1.7. Chẩn đoán giai đoạn theo UICC 1997 [23],[24]
1.7.1. Theo TNM
-Khối u nguyên phát (T):
Tx: Chưa thể đánh giá khối u nguyên phát.
T0: Chưa thấy khối u nguyên phát.
Tis: UT tại chỗ.
T1: Đường kính lớn nhất của khối u nhỏ hơn hay bằng 2cm.
T2: Đường kính lớn nhất của khối u lớn hơn 2cm nhưng chưa vượt quá
5cm.