Đặc điểm lâm sàng, chẩn đoán hình ảnh và kết quả phẫu thuật u não tế bào hình sao độ II vùng bán cầu đại não tại bệnh viện đại học y hà nội - Pdf 42

1

ĐẶT VẤN ĐỀ
U não là một loại bệnh lý thường gặp trong các bệnh lý về sọ não. Theo
Hội Phẫu thuật Thần kinh Hoa Kỳ năm 2008 ước tính có khoảng 21,810
trường hợp mắc các bệnh u não mới và cứ mỗi năm tỷ lệ u não tăng 1,1%, số
người tử vong do bệnh này khoảng 13,810 trường hợp trong đó đa số là các
khối u ác tính. Trong số u ác tính thì có đến 70% - 80% là u thần kinh đệm.
Theo Fetell ở Hoa Kỳ năm 1995 tỷ lệ mắc u não ước tính khoảng 16/100.000
dân, tỷ lệ tử vong do u não đứng hàng thứ 5 sau u phổi, dạ dày, tử cung và u
vú. U não gồm các loại u có nguồn gốc từ nhiều thành phần khác nhau như
màng não, nhu mô não, các mạch máu, các dây thần kinh sọ, tủy sống và một
số u di căn từ cơ quan khác đến. Trong đó u tế bào hình sao (Astrocytoma) là
loại u tiên phát của hệ thần kinh trung ương có nguồn gốc từ tế bào thần kinh
đệm đa dạng, phức tạp và chiếm 60% các loại u thần kinh đệm [1],[2]. Tế bào
thần kinh đệm là một trong hai thành phần quan trọng hợp thành hệ thần kinh
trung ương [3]. Có rất nhiều loại u thần kinh đệm (UTKĐ) khác nhau, chúng
được chia thành 3 nhóm chính: u tế bào hình sao (Astrocytoma), u tế bào thần
kinh đệm ít nhánh (Oligodendroglioma) và u tế bào biểu mô lợp ống nội tủy
(Ependymoma) [1],[4].
Theo phân loại u tế bào thần kinh của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO –
world health organization) thì u tế bào hình sao chia thành 4 độ khác nhau trong
đó độ I, II là u tế bào hình sao bậc thấp (low grade) 2 loại này có mức độ ác tính
thấp, còn lại độ III, IV là u tế bào hình sao ác tính bậc cao (high grade).
Nhờ sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật về các phương pháp chẩn đoán
như chụp cắt lớp vi tính (CLVT), cộng hưởng từ (CHT), chụp cắt lớp bức xạ
đơn photon (SPECT), chụp cắt lớp bằng bức xạ positron (PET) nên việc chẩn
đoán u não nói chung và u tế bào hình sao đã có nhiều thuận lợi. Các phương
tiện chẩn đoán hiện đại ngày nay không những cho phép xác định chính xác
vị trí, kích thước, tình trạng chèn ép não, mức độ xâm lấn của u vào tổ chức
xung quanh mà còn giúp các nhà phẫu thuật bước đầu xác định tính chất mô học

2. Đánh giá kết quả điều trị phẫu thuật u tế bào hình sao độ II vùng bán
cầu đại não.


3

Chương 1
TỔNG QUAN

1.1. Lịch sử nghiên cứu
1.1.1. Nước ngoài
Lịch sử nghiên cứu cũng như phân loại hệ thống u não được bắt đầu
vào năm 1830, nhà nghiên cứu bệnh học người Đức Rudolf Virchow lần đầu
tiên giới thiệu khái niệm “u thần kinh đệm” vào năm 1860 [8].
Vào năm 1884 một số u não đã được xác định chủ yếu sau khi phẫu
tích tử thi. Cũng vào năm đó Bennet và Gotli lần đầu tiên trong lịch sử ngoại
khoa thần kinh xác định phẫu thuật lấy bỏ u não trên bệnh nhân song đáng
tiếc bệnh nhân đã tử vong do nhiễm khuẩn huyết [9].
Đến năm 1889, Giltchenco N đã công bố một trường hợp u não thất IV,
và từ năm 1890 trở đi các công bố về u não ngày một tăng.
Năm 1897, một sự kiện quan trọng trong lịch sử ngành ung thư học
thần kinh. Nhà thần kinh học lỗi lạc người Nga Bechterew đã tổ chức ra phân
khoa ngoại thần kinh không chỉ ở Nga mà ở trên toàn thế giới. Chính vì thế
mà năm 1897 được công nhận là năm chính thức bắt đầu của ngành ung thư
học thần kinh như các môn chuyên ngành khác. Nhưng phải mãi sau đó 15
năm (1912) với chuyên ngành ngoại thần kinh thì Bussep đã thông báo kết
quả 94 trường hợp phẫu thuật ở hệ thống thần kinh.
Năm 1916, quyển sách chuyên khoa “các u não” của Cron được công bố [9].
Năm 1930, người đầu tiên là Harvey Cushing đã đưa ra phân loại tổ
chức học của u ở hệ thần kinh dựa trên cấu trúc căn nguyên gây loạn sản

sao bào, u thần kinh đệm ít nhánh, u nguyên bào thần kinh đệm, u tế bào lợp
ống nội tủy, phân chia mỗi loại mô học của u sao bào ra các độ như sau [15]:
Độ I: Dạng lông, thời gian sống từ 8 – 10 năm
Độ II: Dạng sợi, thời gian sống từ 7 – 8 năm
Độ III: Giảm biệt hóa, sống dưới 2 năm
Độ IV: U nguyên bào thần kinh đệm, sống dưới 1 năm.


5

Theo chương trình “Giám sát dịch tễ học ung thư” của Hoa Kỳ, tỷ lệ
sống sau năm năm được chẩn đoán là u não nguyên phát của bệnh nhân là
32,7% ở nam và 31,6% ở nữ [16]. Cũng theo nghiên cứu của tổ chức này từ
năm 1973 đến năm 1996 u nguyên bào thần kinh đệm đa hình là loại u não có
tiên lượng xấu nhất.
Thống kê của Hiệp hội Quốc tế Nghiên cứu Ung thư (IARC) tỷ lệ mắc
u não trên toàn thế giới năm 1990 với nam là 2,96 và nữ là 2,23 trên 100.000
dân [17]. Tại Hoa Kỳ, năm 2000 tỷ lệ mắc u não của nam là 6,5 và nữ là 4,5
trên 100.000 dân. Hàng năm có khoảng 15.000 trường hợp u não được phát
hiện ở Hoa Kỳ. Tại Pháp, u thần kinh đệm ác tính có tỷ lệ mắc 2,38/100.000
dân và mỗi năm có khoảng 3.000 – 5.000 trường hợp u não được phát hiện. U
thần kinh đệm ác tính chiếm 33% - 45% u não nguyên phát, trong đó 85% là u
nguyên bào thần kinh đệm.
Jing R (2005), nghiên cứu sự xuất hiện của những sợi protein trung
gian trên người phản ứng lại với các tế bào thần kinh đệm hình sao [18].
1.1.2. Nghiên cứu trong nước
Theo Lê Xuân Trung và Nguyễn Như Bằng, từ năm 1957 đến 1972
Bệnh viện Việt Đức phẫu thuật 408 trường hợp u não, u thần kinh đệm chiếm
42,6%. Dương Chạm Uyên và Nguyễn Như Bằng từ năm 1991 đến 1993
trong 163 trường hợp u não, u thần kinh đệm chiếm 37,2% và 58,4% là u nằm

Nhàn – Hà Nội [1].
Trần Chiến (2011), nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, chẩn đoán hình ảnh
và kết quả phẫu thuật u não tế bào hình sao vùng bán cầu đại não tại Bệnh
viện Việt Đức [12].
1.2. Cấu trúc của hệ thống thần kinh đệm
Hệ thần kinh được cấu tạo bởi hai loại tế bào chính: những tế bào thần
kinh chính thức (neuron) và các tế bào thần kinh đệm (glial). Ngoài ra còn có
các thành phần đệm mỡ và mạch máu nuôi dưỡng. Những tế bào thần kinh


7

đệm thường nhỏ, có nhiều nhánh đan chéo nhau hợp thành mô thần kinh đệm,
tạo thành mạng lưới để che chở cho thân và các trụ trục của các neuron.
Chúng còn tạo ranh giới ngăn cách mô thần kinh với các mô khác, tham gia
vào dẫn truyền xung thần kinh và góp phần sửa chữa những thương tổn của
mô thần kinh. Vì thế mô thần kinh đệm được coi là mô chống đỡ, dinh dưỡng
và bảo vệ thần kinh.
Dựa vào đặc điểm hình thái và chức năng có thể chia ra thành các loại
thần kinh đệm như sau:
- Những tế bào thần kinh đệm chính thức gồm: những tế bào hình sao
(Astroglia), tế bào ít nhánh (Olygodendroglia) và vi bào đệm
(Microglia). Hai loại đầu có chức năng chống đỡ và nằm xen kẽ
giữa các tế bào thần kinh đóng vai trò đệm lót, trao đổi chất giữa tế
bào thần kinh và các mạch. Vi bào đệm có chức năng thực bào.
- Những tế bào thần kinh đệm ngoại vi gồm: những tế bào vệ tinh
quây quanh thân các tế bào thần kinh thuộc các hạch não tủy, hạch
giao cảm và những tế bào Schwann.
- Những tế bào thần kinh đệm dạng biểu mô gồm: tế bào biểu mô ống
nội tủy và các não thất (Ependima), tế bào biểu mô đám rối màng

của neuron, có vai trò quan trọng trong quá trình thoái hóa hoặc tái tạo các sợi
thần kinh, tham gia vào quá trinh thu nhận và dẫn truyền xung động thần
kinh, những tế bào này còn có tên là tế bào Schwann.
1.2.3. Tế bào thần kinh đệm lợp ống nội tủy (Ependyma)
Tạo thành một lớp biểu mô vuông (trụ) đơn, lót toàn bộ mặt trong ống
nội tủy và các buồng não thất. Chúng có thân cao, trên bề mặt có nhiều vi
nhung mao, đáy tế bào có một nhánh đi tới tận rìa ngoài và tạo thành màng
ranh giới ngoài của ống thần kinh. Tại một số vùng, các tế bào này làm nhiệm
vụ chế tiết ra dịch não tủy cùng với các đám rối màng mạch.


9

1.2.4. Tế bào thần kinh đệm nhỏ (Microglia)
Nhóm tế bào thần kinh đệm nhỏ có số lượng ít hơn những loại trên
và có nguồn gốc từ trung mô nằm ở cả chất trắng và chất xám. Những tế
bào này xuất hiện trong hệ thần kinh trung ương vào cuối thai kỳ và trong
giai đoạn sơ sinh. Nguồn gốc chủ yếu của chúng là từ màng não mềm và áo
ngoài các mạch máu.
Tế bào nhỏ và hơi dài, thân mọc ra hai đến ba nhánh lớn, từ những
nhánh này lại chia ra thành các nhánh nhỏ. Nhân tế bào hình que và bắt màu
đậm hơn nhân những tế bào thần kinh đệm khác. Tế bào thần kinh đệm nhỏ là
một loại đại thực bào của mô thần kinh, trong bào tương có những bạch cầu,
hồng cầu bị thực bào.
1.3. Cơ chế bệnh sinh
Hiện nay về cơ chế bệnh sinh của u thần kinh đệm vẫn chưa rõ ràng và
còn đang được nghiên cứu. Tuy nhiên có một số nghiên cứu thấy rằng: 15% u
thần kinh đệm có kèm theo hội chứng u xơ thần kinh von Rechlinghausen
(NF1). Loại này ác tính nhiều hơn (Wanick, 1994).
Ngoài ra còn một số yếu tố thuận lợi gây ra u như: hóa chất, thuốc diệt

- U lỗ bầu dục nằm giữa tầng trên lều và hố não sau
- Các u lỗ chẩm nằm giữa hố não sau và ống sống
1.4.2. Phân loại và phân độ mô bệnh học u não
Bailey và Cushing (1926) phân loại dựa trên lý thuyết bào thai của
Conheim đã cho rằng các khối u phát triển từ các tế bào thai ngừng phát triển
trong nhiều giai đoạn, chồng lên nhau trong nhiều thời kỳ của các tế bào não.
Đó là cách phân loại theo mô học các khối u của hệ thần kinh [1],[23].
Kernohan và Sayre (1954) đã đề xuất một cách phân loại mới. Từng
loại u có thể được phân chia theo độ ác tính tăng dần (độ I, II, III, IV) tùy theo


11

mức độ không biệt hóa. Việc phân độ dựa vào các chỉ tiêu: số lượng tế bào
u gián phân, tỷ lệ phần trăm tế bào u không biệt hóa, biên độ hoại tử, các
mạch tăng sinh và mức độ đa hình. Phân loại của Kernohan trở nên rất phổ
biến vì phản ánh được sự chuyển dạng ác tính của nhiều loại tế bào thần
kinh [3],[11],[23].
Cũng trong nhiều thập niên này, có nhiều cách phân loại khác ra đời
tùy theo các nhà mô bệnh học và các nhà phẫu thuật thần kinh.
Năm 1988 tại hai bệnh viện Saint Anne (Pháp) và Mayo Clinic (Hoa
Kỳ), Catherine Daumas – Duport đã đưa ra một phân loại độ biệt hóa của các
u tế bào hình sao thành bốn độ ác tính dựa theo tổn thương mô học [14],[15].
Hệ thống phân loại của tác giả này có ưu điểm chính là đánh giá khả năng tiến
triển của u dựa trên bốn tiêu chí: nhân tế bào bất thường, phân chia, tăng sinh
mạch máu, hoại tử.
Phân loại độ dựa vào số tiêu chí:
Độ I:

Không có các tiêu chí trên

- U sao bào sợi
- Anaplastic astrocytoma
- U sao bào giảm biệt hóa
- Glioblastoma multiforme
- U nguyên bào thần kinh đệm đa hình
1.2.
Oligodendroglioma
putative U thần kinh đệm ít nhánh có nguồn
origin from oligodendrocytes
gốc từ tế bào thần kinh đệm ít nhánh
- Oligodendroglioma
- U thần kinh đệm ít nhánh
- Anaplastic oligodendroglioma
- U thần kinh đệm ít nhánh giảm biệt hóa
- Mixed glioma (oligodendro & - U thần kinh đệm hỗn hợp (ít nhánh
astrocytoma)
và sao bào)
1.3. Ependymomal tumors
U nguồn gốc tế bào lợp ống nội tủy
- Ependymoma
- U tế bào lợp ống nội tủy
- Subependymoma
- U tế bào dưới ống nội tủy
1.4. Choroid plexus tumors
U đám rối màng mạch
- Choroid plexus papilloma
- U nhú đám rối mạch mạc
- Choroid plexus carcinoma
- U biểu mô đám rối mạch mạc
1.5. Other gliomas

- Medulloblastoma
- Primitive neuroepithelial tumors
5. Peripheral neuroblast tumors
- Neuroblastoma
6.Tumors of cranial and spinal or
peripheral nerves
- Schwannoma
- Neurofibroma
- Malignant peritheral nerve sheath tumors
7. Meningeal tumors
- Meningiothelial cell tumors
- Nonmeningiothelial cell tumors
- Tumors of uncertain histogenesis
8. Lymphoma and tumors
hemopoietic system
- Lymphoma
- Plasmacytoma
- Leukemia
9. Germ cell tumors
- Germinoma
- Embryonal carcinoma
- Choriocarcinoma
- Teratoma
- Mixed germ cell tumors
10. Tumors of the sellar region
- Pituitary adenoma
- Pituitary carcinoma
- Craniopharyngioma
11. Metastatic tumors


- U sọ hầu
Các khối u di căn


14

Phân loại u hệ thần kinh của Tổ Chức Y Tế Thế Giới năm 2000 được
mô tả khá đầy đủ, chi tiết về mặt mô bệnh học nhưng thực tế vẫn còn nhiều
khó khăn trong chẩn đoán mô bệnh học. Nhờ có kính hiển vi điện tử và kỹ
thuật hóa mô miễn dịch nên các u não được chẩn đoán mô bệnh học một cách
chính xác hơn giúp cho quá trình tiên lượng và điều trị đối với bệnh nhân.
Hiện nay có phân loại mới về u thần kinh đệm của Tổ Chức Y Tế Thế
Giới năm 2007 [25].
Bảng 1.2. Phân loại các u tế bào hình sao theo Tổ Chức Y Tế Thế Giới năm 2007 [12]
Tiếng Anh

Phân độ
(Grading)

1. Astrocytic tumors

Tiếng Việt
Các u tế bào hình sao

- Pilocytic astrocytoma

I

-U sao bào lông



+ Photoplasmic astrocytoma

+ U sao bào dạng nguyên sinh

+ Gemistocytic astrocytoma

+ U sao bào phồng

- Anaplastic astrocytoma

III

- U sao bào giảm biệt hóa

- Glioblastoma

IV

- U nguyên bào thần kinh đệm

+ giant cell glioblastoma

+ U nguyên bào thần kinh đệm
thể tế bào khổng lồ

+ Gliosarcoma
- Gliomatosis cerebri

+ Sarcom nguyên bào thần kinh đệm


16

Hình 1.1. U sao bào lông (Pilocytic astrocytoma) [25]
1.4.3.2. U tế bào sao nền não thất thể tế bào khổng lồ (Subependymoma giant
cell astrocytoma) độ I.
U tế bào sao nền não thất thể tế bào khổng lồ nằm trong bệnh cảnh của
đa u xơ thần kinh. Đại thể u có ranh giới rõ, màu hơi trắng hồng, chắc và có
nhiều mạch máu, trong một số trường hợp mạch của u giãn rộng phát triển
thành u mạch. Có thể gặp u có nhiều nhân cùng với các nang kích thước
không đều, có vôi hóa trong u.
Vi thể u có tế bào lớn hình chóp hay hình thoi cùng với lông ngắn và
dầy, bào tương ưa eosin, nhân lớn cùng với hình dạng nhân quái phồng.
Một số tế bào giống với tế bào hình sao phồng, mốt số giống nguyên bào
đệm hình sao (hình 1.2).

Hình 1.2. Ảnh u tế bào sao nền não thất thể tế bào khổng lồ
(Subependymoma giant cell astrocytoma) [25]


17

1.4.3.3. U sao bào vàng đa hình độ II (Pleomorphic xanthoastrocytoma)
Thường gặp ở tuổi vị thành niên, vị trí ở bề mặt vùng thái dương và
vùng chẩm ranh giới khá rõ, có thể tạo nang, xâm nhập vào nhu mô não và
khoảng quanh mạch.
Tên gọi của u phần nào nói lên tính chất đa hình thái của tế bào, trong
bào tương chứa nhiều hạt mỡ, tuy nhiên hình ảnh này không thường gặp.
Phần lớn các trường hợp u gồm các tế bào thoi xếp thành đám lỏng lẻo, xen
kẽ là các tế bào nhân lớn, thậm chí nhân quái, bào tương dạng bọt chứa những

* U sao bào nguyên sinh (Photoplasmic astrocytoma)
U gặp ở chất xám nhiều hơn chất trắng (vỏ não và nhân xám) với
những tế bào dài, dương tính với kháng thể chống GFPA mạnh. U gồm chủ
yếu các tế bào nguyên sinh, hay gặp ở vỏ não trẻ em và người trẻ với hình ảnh
đại thể là những đám màu xám bong, hơi nhầy. Về cấu tạo mô học tế bào u


19

đồng dạng chìm trong mô đệm giống mạng nhện và thoái hóa dạng nhầy.
Nhân tế bào thường tròn hoặc bầu dục, ít thấy dị hình nhân, hầu như không có
nhân chia thể hiện độ ác tính thấp. U loại này cần phân biệt với u thần kinh
đệm ít nhánh có tạo nang nhỏ.
Vi thể u chủ yếu cấu tạo bởi các tế bào hình sao có chứa rất ít hoặc
không chứa sợi trong bào tương nằm trong chất đệm lỏng lẻo, có khi tạo
thành vi nang, nhân tế bào hình tròn đều nhau (hình 1.5) [3],[23].

Hình 1.5. U sao bào nguyên sinh (Photoplasmic astrocytoma) [25]
* U sao bào phồng (Gemistocytic astrocytoma)
U được cấu tạo chủ yếu bởi các tế bào hình sao có kích thước lớn, bào tương
rộng ưa toan với một hoặc nhiều nhân nằm lệch về một phía (hình 1.6) [13],[15].

Hình 1.6. U sao bào phồng (Gemistocytic astrocytoma) [25]


20

1.4.3.5. U sao bào giảm biệt hóa độ III (Anaplastic astrocytoma)
Đây là loại u tiến triển ác tính của u tế bào hình sao lan tỏa, hay gặp ở
người lớn, vị trí chủ yếu ở hai bán cầu đại não.

Đau đầu trong u não có ý nghĩa chẩn đoán vì nó là một triệu chứng có
rất sớm và thường xuyên của người bệnh. Đau đầu có thể kéo dài vài tháng
hoặc một năm và có thể là triệu chứng duy nhất của u phát triển.
1.5.1.2. Nôn
Triệu chứng nôn có thể gặp từ 65 – 68% các trường hợp u não, nôn
thường là dấu hiệu của tăng áp lực nội sọ. Nôn trong u não có đặc điểm là
nôn vọt, nôn không liên quan tới bữa ăn, không có cơn biểu hiện cơn đau


22

bụng trước nôn. Nôn hay xuất hiện đột ngột, vào buổi sáng, lúc đói và khi
thay đổi tư thế mạnh.
Trong u não nôn thường xuất hiện khi bệnh nhân đau đầu tăng liên
quan với tăng áp lực nội sọ và sự tiến triển của u. Nếu u ở thân não, não thất
IV và tiểu não thì nôn không liên quan với đau đầu vì u không những chỉ gây
tăng áp lực nội sọ mà còn kích thích trực tiếp vào trung khu nôn. Nôn hay gặp
trong u não hố sau, u não thất IV còn u vùng bán cầu thì nôn ít gặp hơn.
1.5.1.3. Chóng mặt
Gặp ở 50% các bệnh nhân u não. Bệnh nhân thường có cảm giác như là
các đồ vật quay xung quanh mình hoặc bệnh nhân quay cung quanh các đồ vật.
Chóng mặt có thể gặp đồng thời với nôn và buồn nôn và cũng xuất hiện
từng cơn. Chóng mặt thường ít gặp hơn trong u não vùng bán cầu đại não.
1.5.1.4. Thay đổi ở đáy mắt
Là triệu chứng khách quan của u não, có thể gặp ứ phù hoặc teo gai thị.
Biểu hiện hay gặp là ứ phù gai thị nguyên nhân do tăng áp lực nội sọ đè ép
vào các bó dây thần kinh thị giác, vào tĩnh mạch trung tâm của dây thần kinh
thị giác làm cản trở máu tĩnh mạch từ võng mạc trở về. Phù gai thị kéo dài
gây teo gai thị.
1.5.1.5. Động kinh

1.5.2.3. U não thùy chẩm
Triệu chứng u não thùy chẩm là giảm thị lực và bán manh cùng bên. Do
u kích thích dây thần kinh lều tiểu não xuất hiện đau lan xuyên ra nhãn cầu,
đau khi ấn vào nhãn cầu và gây chảy nước mắt.
1.5.2.4. U não thùy đỉnh
Do u chèn ép vào vùng vận động gây liệt nửa người bên đối diện.


24

1.6. Đặc điểm hình ảnh của u tế bào hình sao độ II trên phim chụp cắt
lớp vi tính và phim cộng hưởng từ
Một số đặc điểm để hỗ trợ đánh giá mức độ ác tính của u tế bào thần
kinh đệm trên phim chụp cắt lớp vi tính và phim cộng hưởng từ:
* Kazner và cộng sự (1981) đề xuất mức độ phù não trên phim chụp cắt
lớp vi tính [12],[28]:
- Phù não độ I: Phù khoảng 2cm từ chu vi u.
- Phù não độ II: Trên 2cm từ chu vi u.
- Phù não độ III: Phù ≥ 1/2 bán cầu não.
* Mức độ dịch chuyển đường giữa
- Độ I: < 5mm
- Độ II: 5 – 10mm
- Độ III: > 10mm
* Hình thức ngấm thuốc
- Cường độ ngấm thuốc: Trên phim chụp cắt lớp vi tính cường độ ngấm
thuốc cản quang được thể hiện bằng sự thay đổi đơn vị HU (Housfield) trước
và sau tiêm thuốc được đo ở cùng một vị trí và cùng một thể tích vùng được
lựa chọn [29],[30].
+ Không ngấm: Tăng từ 2 – 4 HU
+ Độ I: < 5 HU

Độ III

Bắt cản quang phức tạp

Độ IV Hoại tử viền, bắt cản quang

Bắt cản quang phức tạp
Hoại tử viền, bắt cản quang

1.6.1. U tế bào đệm hình sao lan tỏa độ II (Diffuse astrocytoma)
U tế bào hình sao lan tỏa là loại u thần kinh đệm hay gặp của nhóm u thần
kinh đệm sao bào, chiếm 25 – 30% u thần kinh đệm ở người lớn, 10 – 15%
của tất cả các u thần kinh đệm sao bào nói chung. Tuổi thường gặp từ 20 – 45.
U có xu hướng tiến triển thành u thần kinh đệm sao bào giảm biệt hóa.
Thời gian sống trung bình của bệnh nhân từ 6 – 10 năm [12].
1.6.1.1. Đặc điểm chung
U nằm ở chất trắng, khu trú hoặc xâm lấn tổ chức xung quanh. Trên
phim u thần kinh đệm không tăng tín hiệu so với chất trắng. U gặp chủ yếu
ở bán cầu đại não (2/3 nằm trên lều), trong đó 1/3 nằm ở thùy trán, 1/3 ở
thùy thái dương, ngoài ra còn thùy đỉnh và thùy chẩm. Khoảng 20% u thần
kinh đệm có thể xâm lấn vào chất xám, vùng đồi thị và các nhân xám trung
ương [12],[32].



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status